Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Biên giới của nghệ thuật và tuyên truyền


orwell

Nguồn: George Orwell, “The Frontiers of Art and Propaganda,” Listener, 1941.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Tôi đang bàn về phê bình văn học, và trong thế giới chúng ta sống, điều đó cũng vô vọng không kém gì bàn về hòa bình. Đây không phải là thời đại hòa bình, cũng không phải là thời đại phê bình. Ở châu Âu trong mười năm qua, phê bình văn chương kiểu cũ — phê bình thực sự sáng suốt, thận trọng, công bằng, coi tác phẩm nghệ thuật như những thứ có giá trị tự thân — gần như là bất khả.

Nếu nhìn lại nền văn học Anh trong mười năm qua, không hẳn văn chương mà là quan điểm văn chương đang thịnh hành, điều khiến chúng ta ngạc nhiên là nó gần như không còn tính thẩm mỹ. Văn chương đã bị tuyên truyền nuốt gọn. Tôi không có ý nói tất cả những cuốn sách ra đời trong thời gian trên đều là tệ hại. Nhưng các tác gia tiêu biểu như [Wystan Hugh] Auden, [Stephen] Spender, và [Louis] MacNeice đều là những nhà văn mô phạm, [quan tâm đến/dấn thân vào] chính trị, dĩ nhiên là nhận thức được tính thẩm mỹ, lại quan tâm nhiều đến đề tài hơn là kỹ thuật sáng tác. Và gần như các tác phẩm phê bình nổi bật/sống động nhất lại là của những tác giả [theo chủ nghĩa] Marxist, những người như Christopher Caudwell, Philip Henderson và Edward Upward, tất cả đều coi cuốn sách nào cũng là sách chính trị và quan tâm đến việc đào xới những ý nghĩa chính trị và xã hội hơn là những giá trị văn chương của chúng, theo nghĩa hẹp của từ này.

Điều này còn đáng ngạc nhiên hơn nữa bởi nó tạo ra sự tương phản rõ rệt và đột ngột so với giai đoạn ngay trước đó. Những tác gia tiêu biểu của những năm 1920 — ví dụ như T. S. Eliot, Ezra Pound, Virginia Woolf — đều là những tác gia đặt trọng tâm vào kỹ thuật sáng tác. Họ cũng có niềm tin và định kiến riêng, dĩ nhiên, nhưng họ quan tâm đến cải tiến kỹ thuật hơn bất cứ đạo đức, ý nghĩa, hay hàm ý chính trị nào mà tác phẩm của họ có thể chứa đựng. Nổi bật hơn hết là James Joyce, một chuyên gia, gần như một nhà văn nghệ sĩ “thực thụ.” Ngay cả D. H. Lawrence, dẫu là “nhà văn có mục đích” hơn bất kỳ ai khác trong thế hệ ông, cũng không có nhiều cái mà hiện nay chúng ta gọi là ý thức xã hội. Và dù tôi thu hẹp trong những năm 1920, tình hình đã diễn ra tương tự từ những năm 1890 trở đi. Trong suốt giai đoạn đó, khái niệm hình thức quan trọng hơn nội dung, khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” được coi là hiển nhiên. Tất nhiên cũng có những nhà văn phản đối — chẳng hạn như Benard Shaw — nhưng đó vẫn là quan điểm thịnh hành. Nhà phê bình quan trọng nhất trong giai đoạn này, George Saintsbury, dù đến những năm 1920 tuổi đã cao nhưng ông vẫn có sức ảnh hưởng mạnh đến tận những năm 1930, luôn kiên quyết ủng hộ quan điểm kỹ thuật đối với nghệ thuật. Ông tuyên bố rằng ông có thể và chỉ đánh giá một cuốn sách theo cách thể hiện, theo bút pháp, chứ gần như không để ý đến quan điểm của tác giả.

Vậy thì, tại sao lại có sự thay đổi quan điểm đột ngột như thế? Cuối những năm 1920, ta có những cuốn sách như của Edith Sitwell viết về Giáo hoàng, hoàn toàn nhấn mạnh kỹ thuật, coi văn chương như họa tiết thêu thùa, gần như từ ngữ chẳng hề nghĩa lý: mà chỉ vài năm sau đó ta lại có những nhà phê bình như Edward Upward, cho rằng chỉ những sách vở mang xu hướng Marxist mới có thể “tốt đẹp” được. Có thể nói cả Edith Sitwell và Edward Upward đều là những đại diện cho thế hệ của họ. Vấn đề là tại sao quan điểm của họ lại khác nhau đến thế?

Tôi nghĩ ta phải tìm lí do trong những hoàn cảnh bên ngoài. Cả quan điểm duy mỹ và chính trị với văn chương đều được sản sinh, hay ít nhất được định hình bởi điều kiện xã hội trong những giai đoạn nhất định. Giờ đây khi một giai đoạn nữa chấm dứt — cuộc tấn công Ba Lan của Hitler năm 1939 đã chấm dứt một giai đoạn, hiển nhiên như cuộc đại suy thoái năm 1931 từng chấm dứt một giai đoạn khác — ta có thể móc xích lại và nhìn nhận rõ hơn trước cách những sự kiện bên ngoài ảnh hưởng tới quan niệm văn chương. Một điều mà bất cứ ai nhìn lại một trăm năm qua cũng thấy là phê bình văn chương không đáng bận tâm, và quan điểm phê bình văn học gần như không tồn tại ở Anh những năm 1830-1890. Thế không có nghĩa những cuốn sách hay không ra đời trong giai đoạn đó. Một số tác gia trong giai đoạn này, [Charles] Dickens, [William Makepeace] Thackeray, [Anthony] Trollop, và một số người khác có thể sẽ được nhớ đến hơn bất cứ ai sau này. Nhưng chẳng có nhà văn nào ở nước Anh thời Victoria sánh được với [Gustave] Flaubert, [Charles] Baudelaire, [Théophile] Gautier, và rất nhiều người khác. Nhưng thứ là [thái độ] tận tâm với mỹ học đối với chúng ta thì lại gần như không tồn tại. Đối với một nhà văn giữa thời Victoria, sách vở một phần đem đến tiền bạc cho anh ta, một phần là phương tiện tải đạo. Nước Anh đã thay đổi nhanh chóng, tầng lớp giàu có mới xuất hiện trên tàn tích của tầng lớp quý tộc cũ, mối liên hệ với châu Âu bị gián đoạn, và truyền thống nghệ thuật lâu đời bị phá vỡ. Những tác gia giữa thế kỷ 19 là những kẻ man di, ngay cả khi họ là những nhà văn thiên phú, như Dickens.

Nhưng từ nửa sau thế kỷ 19, quan hệ với châu Âu được tái thiết lập thông qua Matthew Arnold, [Walter] Pater, Oscar Wilde, và rất nhiều người khác, và thái độ tôn trọng hình thức và kỹ thuật văn chương cũng quay trở lại. Chính từ đó khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” — một thành ngữ có vẻ không còn hợp thời, nhưng tôi nghĩ dù sao vẫn là hợp lý nhất — thực sự xuất hiện. Giai đoạn 1890-1930 là giai đoạn an ninh và thỏa thuê hiếm có, đó là lí do tại sao nó có thể nở rộ trong thời gian dài, có thể được coi là mặc nhiên như thế. Chúng ta có thể gọi giai đoạn đó là một chiều vàng son của thời kỳ chủ nghĩa tư bản. Ngay cả cuộc Đại Chiến (tên gọi khi đó của chiến tranh thế giới thứ nhất – ND) cũng không thực sự nhiễu loạn được nó. Cuộc Đại Chiến giết chết mười triệu người, nhưng không làm rung chuyển thế giới được như cuộc chiến hiện nay (chiến tranh thế giới thứ hai – ND) đã và sẽ làm. Gần như mọi người châu Âu trong giai đoạn 1890-1930 đều sống trong niềm tin thầm kín rằng nền văn minh đó sẽ kéo dài mãi mãi. Cá nhân anh có thể gặp may hoặc chẳng, nhưng sâu thẳm trong anh là cảm giác mọi thứ về cơ bản sẽ không bao giờ đổi thay. Trong hoàn cảnh đó trí thức độc lập và cả trí thức tài tử trở nên khả dĩ. Chính cảm giác về tính liên tục và an ninh đã tạo điều kiện cho những nhà phê bình như Saintsbury, một người bảo thủ kiên định và trung thành với Giáo hội, có thể tuyệt đối công bình với những cuốn sách của các tác giả mà ông khinh miệt cả quan điểm chính trị cũng như đạo đức của họ.

Nhưng từ năm 1930 cảm giác an ninh đó hoàn toàn không còn tồn tại. Hitler và cuộc suy thoái đã đảo lộn nó, điều mà ngay cả cuộc Đại Chiến và thậm chí là Cách mạng Nga cũng không làm được. Những nhà văn xuất hiện sau năm 1930 phải sống trong một thế giới mà không chỉ cuộc sống, cả hệ thống giá trị của con người cũng bị đe dọa. Trong những hoàn cảnh như vậy, [thái độ] độc lập là không thể. Anh không thể quan tâm đến mỹ học thuần túy trong căn bệnh đang giết chết anh; anh không thể thản nhiên với kẻ đang sắp cắt cổ anh. Trong thế giới mà chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xã hội đối chọi lẫn nhau, bất cứ con người duy lý nào cũng phải chọn một bên, tình cảm của anh ta phải tìm đường thể hiện không chỉ trong các tác phẩm mà còn trong những đánh giá về văn học. Văn học phải trở thành chính trị, bởi mọi thứ khác sẽ dẫn đến bất lương về mặt tri thức. Tình yêu và hận thù nằm quá gần bề mặt của ý thức đến nỗi chúng không thể bị lờ đi. Những thứ cuốn sách viết về dường như đặc biệt quan trọng đến mức thủ pháp có vẻ gần như là vô nghĩa.

Và giai đoạn mười năm gần đây, giai đoạn mà văn chương, thậm chí cả thơ ca, bị trộn lẫn với các tác phẩm tuyên truyền, tác động rất tốt tới phê bình văn chương, bởi nó đập tan ảo tưởng về chủ nghĩa duy mỹ thuần túy. Nó nhắc nhở chúng ta rằng tuyên truyền bằng cách này hay cách khác luôn ẩn náu trong mọi cuốn sách, rằng mọi tác phẩm nghệ thuật đều có ý nghĩa và mục đích — mục đích chính trị, xã hội, và tôn giáo — rằng những đánh giá mỹ học của chúng ta luôn nhuốm màu định kiến và đức tin. Nó hạ bệ quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng nó cũng dẫn đến ngõ cụt bởi nó khiến vô số nhà văn trẻ tìm cách gắn mình với phép tắc chính trị nào đó, mà một khi mắc kẹt trong đó, trung thực tri thức là không thể. Chủ nghĩa duy nhất mở cửa đối với họ khi đó là chủ nghĩa Marx, nó đòi hỏi lòng trung thành dân tộc đối với nước Nga và buộc những nhà văn tự nhận mình là Marxist trong sự bất lương của quyền lực chính trị. Dù có như thế thì những quan điểm mà các nhà văn này dựa vào cũng đột ngột bị Hiệp ước Xô-Đức đảo lộn. Cũng như nhiều nhà văn những năm 1930 nhận ra rằng ta không thể thực sự dửng dưng trước những sự kiện đương thời, nhiều nhà văn những năm 1939 nhận ra rằng ta không thể hi sinh sự chính trực trí thức cho tín điều chính trị — hay ít nhất là ta không thể làm thế mà vẫn còn là một nhà văn. Tận tâm với mỹ học thôi chưa đủ, thái độ chính trị đúng đắn cũng thế. Những sự kiện trong mười năm qua đã đánh động chúng ta, chúng khiến nước Anh không có một xu hướng văn học đáng chú ý nào, nhưng chúng cũng giúp chúng ta xác định rõ ràng hơn trước đây biên giới của nghệ thuật và tuyên truyền. ♦

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on December 30, 2014 by in Tiểu luận and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: