Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Luật cấm phá thai và bi kịch của phụ nữ


abortion_signs_reuters

Tháng trước, Hạ viện Mỹ thông qua một dự luật có tên gọi là “Pain-Capable Unborn Child Protection Act” với 242 phiếu thuận trên 184 phiếu chống. Kết quả này không phải là bất ngờ sau khi Đảng Cộng hòa – vốn ủng hộ việc cấm phá thai bằng luật – giành chiến thắng lớn trước Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ của Quốc hội Mỹ diễn ra hồi tháng 11 năm ngoái. Dù Thượng viện có phê chuẩn dự luật này thì nhiều khả năng là Tổng thống Obama cũng sẽ phủ quyết. Tuy nhiên, nhiệm kỳ của Obama sắp kết thúc và nếu một ứng cử viên tiềm năng của Đảng Cộng hòa lên nắm quyền tổng thống trong năm 2016 sắp tới thì dự luật này rất có thể sẽ được phê chuẩn.

Pain-Capable Unborn Child Protection Act,” nhằm sửa đổi chương 74 (Partial-Birth Abortion) thuộc điều 18 (Tội phạm và Tố tụng hình sự), Bộ luật Hoa Kỳ (U.S.C.), hiện nay, “để bảo vệ thai nhi có khả năng cảm nhận cơn đau, và vì những mục đích khác,” được đưa ra trên quan điểm dựa trên kết quả của nghiên cứu khoa học cho rằng sau ít nhất 20 tuần kể từ khi thụ thai, thai nhi bắt đầu cảm nhận được và có phản ứng trước những kích thích gây đau, và do đó, việc cấm phá thai khi thai nhi đã được 20 tuần tuổi là cần thiết để bảo vệ những đứa trẻ chưa được sinh ra này, ngoại trừ những trường hợp mà mạng sống của người mẹ có nguy cơ gặp nguy hiểm hoặc thai nhi là kết quả của việc người mẹ là nạn nhân của tội phạm cưỡng/hiếp dâm (hay loạn luân đối với người chưa đủ 18 tuổi).

Nhiều quốc gia trên thế giới có luật cấm phá thai và thi hành nó trên thực tế. Chẳng hạn, điều 37 Hiến pháp Cộng hòa Dominica quy định, “quyền sống [của một người] là bất khả xâm phạm từ khi thụ thai cho đến khi chết.” Nó đã được các nhà làm luật nước này diễn giải để cấm phá thai và (may mắn là) cấm cả hình phạt tử hình. Năm 2012, một nữ bệnh nhân người Dominica 16 tuổi mắc bệnh bạch cầu đang mang thai 13 tuần tuổi đã tử vong sau 20 ngày nhập viện khi các bác sĩ từ chối tiến hành hóa trị cho cô vì sợ điều đó sẽ làm sảy thai và do đó vi phạm luật cấm phá thai hết sức hà khắc của nước này. Tuy nhiên, có vẻ như những lệnh cấm này đã không thể làm giảm đáng kể tỉ lệ phá thai, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.

Theo tài liệu công bố năm 2012 của Tổ chức Y tế Thế giới và Viện Guttmacher, tính đến năm 2008, 86% số ca phá thai diễn ra ở các nước đang phát triển. Gần một nửa số ca phá thai trên thế giới không được thực hiện an toàn, và 98% trong số đó là ở các nước đang phát triển. Điều đó dẫn đến cái chết của 56.000 phụ nữ năm 2003, và 47.000 phụ nữ năm 2008, hầu hết là ở châu Phi. Mỗi năm có khoảng 8,5 triệu phụ nữ phải chịu đựng những tác động nguy hiểm của việc phá thai không an toàn, trong số đó hơn 3 triệu người không nhận được sự chăm sóc y tế cần thiết.

Ở châu Phi và Nam Mỹ, nơi đa số các nước có luật cấm phá thai, tỉ lệ phá thai trung bình lần lượt là 29 và 32 trên 1.000 phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 44, trong khi ở Tây Âu và Bắc Âu, những nơi phá thai không bị hạn chế trong đa số trường hợp, tỉ lệ này nằm lần lượt ở mức 12 và 17. Và tỉ lệ phá thai ở châu Á cũng như trên toàn thế giới đang ở mức 28 ca trên 1.000 phụ nữ. Hơn nữa, nhìn chung ở những nơi phá thai là hợp pháp, việc phá thai thường được tiến hành an toàn hơn ở những nơi bị pháp luật cấm. Khi Nam Phi bãi bỏ luật cấm phá thai năm 1997, tỉ lệ tử vong liên quan đến việc phá thai đã giảm 91% trong giai đoạn 1994-2001.

Cũng theo tài liệu này, khoảng 215 triệu phụ nữ ở các nước đang phát triển muốn tránh thai nhưng không có hiểu biết hay không được tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại như dùng thuốc, đặt vòng, hay thậm chí bao cao su, thay vào đó họ phải dùng những biện pháp truyền thống thiếu an toàn và kém hiệu quả như tính ngày rụng trứng hay xuất tinh ngoài. Điều đó dẫn đến 82% ca mang thai ngoài ý muốn ở các nước đang phát triển. Và đó là nguồn cơn của hầu hết các ca phá thai không an toàn, mang lại nhiều hậu quả tiêu cực cho sức khỏe của người mẹ, làm tăng gánh nặng của gia đình và xã hội.

Việc cấm phá thai bằng luật trên thực tế đã tỏ ra là có nhiều hạn chế. Tuy nhiên, vẫn có những lý do truyền thống như tôn giáo và đạo đức để những người ủng hộ cấm phá thai có thể củng cố cho quan điểm của mình. Gây tranh cãi nhất là bằng cách coi thai nhi là một “con người” sinh học – hay là một cá thể có tư duy, hay ít nhất như quan điểm của những người ủng hộ dự luật mới được Hạ viện Mỹ thông qua, là có khả năng cảm nhận cơn đau (đồng thời công nhận thuật ngữ “thai nhi” là một cá thể thuộc “loài người” [homo sapiens], tính từ lúc thụ thai cho đến khi được sinh ra) – việc phá thai đồng nghĩa với việc tước bỏ quyền được sống của một cá nhân. Chúng ta cũng đồng ý rằng nếu điều đó là đúng thì quyền tự do lựa chọn của người mẹ phải được đặt bên dưới quyền được sống của thai nhi như một “con người.” Và do đó người mẹ không thể có quyền lựa chọn việc tước bỏ mạng sống của thai nhi trừ khi chính quyền được sống của người mẹ đang bị đe dọa.

Có thể lập luận rằng, việc là một “con người” chưa được sinh ra – khó có thể được coi là có năng lực nhận thức hay có ý chí cá nhân – không nhất thiết phải mang lại cho thai nhi đầy đủ quyền như một “con người” đã được sinh ra, trong đó có quyền được sống. Hay thậm chí theo quan điểm bình đẳng giống loài thì khả năng tự nhận thức cũng không đem lại sự bảo vệ cho một thai nhi nhiều hơn một con bò vì xét cho cùng thì năng lực tinh thần của thai nhi rõ ràng là kém hơn của những con bò.

Điều đó nghe có thể hơi mỉa mai và nói gì thì nói, những quan điểm đạo đức (như vậy) thường khó mà nhận được một sự đồng thuận trên diện rộng. Nhưng trong khi cuộc tranh luận về việc có nên luật hóa việc phá thai hay không diễn ra thì rất nhiều phụ nữ đang tiếp tục là nạn nhân ngoài ý muốn của những ca phá thai thiếu an toàn. Luật pháp không phải và không thể là công cụ bảo vệ phụ nữ trong trường hợp này. Quay lại chính góc nhìn đạo đức mà nói, phụ nữ phải có quyền lựa chọn giữ lại hay từ bỏ thai nhi, và nếu chọn từ bỏ thì họ nên được nhà nước tạo điều kiện bằng các cơ sở y tế an toàn, chứ không thể bị buộc phải chịu đựng những gánh nặng mà đứa bé sinh ra ngoài ý muốn của người mẹ có thể đem đến. ♦

Nguyễn Huy Hoàng

Advertisements

One comment on “Luật cấm phá thai và bi kịch của phụ nữ

  1. Bà Tám
    June 17, 2015

    Quả là bất lợi cho phụ nữ, nhưng họ có thể tăng cường mức ngăn ngừa, cẩn thận hơn.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 9, 2015 by in Pháp lý, Văn hóa & Xã hội.

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,567 other followers

%d bloggers like this: