Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Hướng dẫn đọc về lý thuyết nữ quyền Marxist


Marxist Feminism

Nguồn: “Marxist Feminism.” Selden, Raman, Peter Widdowson, and Peter Brooker. A Reader’s Guide To Contemporary Literary Theory. Harlow, England: Pearson Longman, 2005. 125–26. Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng.

Chủ nghĩa nữ quyền xã hội chủ nghĩa/Marxist là một thành phần mạnh mẽ của làn sóng thứ hai trong cuối những năm 1960 và những năm 1970, đặc biệt là ở Anh. Nó đã tìm cách mở rộng phân tích của chủ nghĩa Marx về giai cấp vào lịch sử của phụ nữ về sự đàn áp vật chất và kinh tế đối với họ, và đặc biệt là cách mà lao động gia đình của phụ nữ và gia đình được xây dựng bởi và tái tạo sự phân chia giới tính trong lao động. Như những hình thức “nam giới” khác của lịch sử, chủ nghĩa Marx đã bỏ qua nhiều trải nghiệm và hoạt động của phụ nữ (một trong những cuốn sách có ảnh hưởng nhất của Sheila Rowbotham có nhan đề Hidden from History [Bị giấu khỏi lịch sử]), và nhiệm vụ chính của chủ nghĩa nữ quyền Marxist là mở ra mối quan hệ phức tạp giữa giới và nền kinh tế. Tiểu luận sớm của Juliet Mitchell, “Women: The Longest Revolution” (“Phụ nữ: Cuộc các mạng dài nhất,” 1966), là một nỗ lực tiên phong, đối nghịch với công trình phi lịch sử của các nhà nữ quyền cấp tiến như Millett và Firestone, nhằm lịch sử hóa việc sử dụng gia trưởng sự kiểm soát cơ cấu đối với các chức năng sinh sản của phụ nữ; và Sheila Rowbotham, trong Women’s Consciousness, Man’s World (Ý thức của nữ giới, thế giới của nam giới, 1973), công nhận rằng phụ nữ thuộc tầng lớp lao động phải trải qua sự đàn áp kép của sự phân chia giới tính trong lao động ở nơi làm việc và ở nhà, và rằng sử học sử Marxist đã bỏ qua phần lớn lĩnh vực trải nghiệm cá nhân, và nhất là của văn hóa nữ giới.

Trong bối cảnh văn học, phê bình của Cora Kaplan về nhà nữ quyền cấp tiến Millett, đặc biệt là về ý thức hệ, có thể được xem như một ví dụ về phê bình nữ quyền xã hội chủ nghĩa, và Michèle Barrett, trong Women’s Oppression Today: Problems in Marxist Feminist Analysis (Sự đàn áp đối với phụ nữ ngày nay: Những vấn đề trong phân tích nữ quyền Marxist, 1980), trình bày một phân tích nữ quyền Marxist về đại diện giới. Thứ nhất, bà tán dương lập luận duy vật của Virginia Woolf rằng những điều kiện mà nam giới và nữ giới sản sinh văn học là khác nhau về vật chất và ảnh hưởng đến hình thức và nội dung của cái họ viết: chúng ta không thể tách rời những câu hỏi về định kiến giới khỏi những điều kiện vật chất của chúng trong lịch sử. Điều này có nghĩa là sự giải phóng sẽ không đến chỉ từ những thay đổi trong văn hóa. Thứ hai, ý thức hệ về giới ảnh hưởng đến cách mà các tác phẩm của nam giới và nữ giới được đọc và cách mà các tiêu chí về sự xuất sắc được xây dựng. Thứ ba, các nhà phê bình nữ quyền phải tính đến bản chất hư cấu của các văn bản văn học và không được nuông chiều “chủ nghĩa đạo đức tràn lan” bằng cách lên án mọi tác giả nam giới vì sự phân biệt giới tính của các cuốn sách của họ (xem Millett) và tán thành mọi tác giả nữ giới vì việc nâng cao vấn đề giới. Văn bản không có ý nghĩa cố định: cách diễn giải phụ thuộc vào tình hình và hệ tư tưởng của người đọc. Tuy nhiên, phụ nữ có thể và nên cố gắng khẳng định ảnh hưởng của họ đối với cách mà giới được định nghĩa và được thể hiện về văn hóa.

Trong Introduction to Feminist Criticism and Social Change (Giới thiệu về phê bình nữ quyền và sự thay đổi xã hội, 1985), Judith Newton và Deborah Rosenfelt ủng hộ một phê bình nữ quyền duy vật đã thoát khỏi chủ nghĩa bản chất “bi thảm” của những nhà phê bình nữ quyền đã tạo dựng hình ảnh của phụ nữ là bất lực và tốt một cách phổ quát. Họ phê phán cái mà họ xem là văn chương hẹp hòi của The Madwoman in the Attic (Người đàn bà điên trong gác mái, 1979) của Gilbert và Gubar, và nhất là việc họ bỏ qua những thực tại kinh tế và xã hội vốn có vai trò quan trọng trong việc xây dựng vai trò giới. Penny Boumelha, Cora Kaplan, và các thành viên của Marxist-Feminist Literature Collective thay vào đó đã đưa đến văn bản văn học dạng phân tích ý thức hệ được phát triển bởi Althusser và Macherey, nhằm tìm hiểu sự hình thành lịch sử của phân loại giới. Tuy nhiên, chủ nghĩa nữ quyền Marxist hiện nay không nhận được nhiều chú ý – chắc chắn là do “điều kiện” chính trị của hậu hiện đại, nhưng cũng có thể là do ảnh hưởng phủ định lẫn nhau của “cuộc tranh luận” giữa các chủ nghĩa nữ quyền Anh-Mỹ và Pháp.

Key texts and further reading:

  • Barrett, Michèle, Women’s Oppression Today: Problems in Marxist Feminist Analysis (Verso, London, 1980).
  • Gilbert, Sandra and Gubar, Susan, The Madwoman in the Attic: The Woman Writer and the Nineteenth Century Literary Imagination (Yale University Press, New Haven, 1979).
  • Gilbert, Sandra and Gubar, Susan, No Man’s Land: The Place of the Woman Writer in the Twentieth Century (Yale University Press, New Haven, 1988).
  • Kaplan, Cora, ‘Feminist Literary Criticism: “New Colours and Shadows” ’, in Encyclopaedia of Literature and Criticism, Martin Coyle, Peter Garside, Malcolm Kelsall and John Peck (eds) (Routledge, London, 1990).
  • Kaplan, Cora, ‘Radical Feminism and Literature: Rethinking Millett’s Sexual Politics’ [1979], reprinted in Mary Eagleton (ed., 1995).
  • Kaplan, Cora, Sea Changes: Culture and Feminism (Verso, London, 1986).
  • Mitchell, Juliet, Psychoanalysis and Feminism (Penguin, Harmondsworth, 1975).
  • Mitchell, Juliet, Women: The Longest Revolution: Essays on Feminism, Literature and Psychoanalysis (Virago, London, 1984).
  • Newton, Judith and Rosenfelt, Deborah (eds), Feminist Criticism and Social Change: Sex, Class, and Race in Literature (Methuen, London, 1985).
  • Rose, Jacqueline and Mitchell, Juliet (eds), Feminine Sexuality: Jacques Lacan and the École Freudienne (Macmillan, Basingstoke, 1982).
  • Woolf, Virginia, A Room of One’s Own (Hogarth Press, London, 1929). Woolf, Virginia, Three Guineas (Hogarth Press, London, 1938).
  • Woolf, Virginia, On Women and Writing [1979], selected and intro. by Michèle Barrett (The Women’s Press, London, 2001).
Advertisements

One comment on “Hướng dẫn đọc về lý thuyết nữ quyền Marxist

  1. Bà Tám
    January 30, 2016

    “Văn bản không có ý nghĩa cố định: cách diễn giải phụ thuộc vào tình hình và hệ tư tưởng của người đọc.”

    Có lẽ cũng có khi người đọc suy diễn nhiều hơn người viết muốn thố lộ.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 28, 2016 by in Văn hóa & Xã hội and tagged , , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,520 other followers

%d bloggers like this: