Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Dẫn nhập ngắn về chủ nghĩa nữ quyền: Lời giới thiệu


Virginia Woolf.jpg

Virginia Woolf (1882–1941), British writer

Nguồn: Walters, Margaret. “Introduction.” Feminism: A Very Short Introduction (Oxford: Oxford University Press, 2005), 1–5. Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng.

“Bản thân tôi chưa bao giờ có khả năng khám phá một cách chính xác chủ nghĩa nữ quyền là gì,” nhà văn Rebecca West nhận xét, một cách mỉa mai, vào năm 1913. “Tôi chỉ biết người ta gọi tôi là nhà nữ quyền bất cứ khi nào tôi bộc lộ những cảm xúc khiến tôi khác với một tấm thảm chùi chân hay một cô gái bán dâm.” Feminism là một từ tương đối mới khi bà viết như vậy; nó chỉ mới xuất hiện trong tiếng Anh – từ tiếng Pháp – trong những năm 1890. Thú vị là những ví dụ sớm nhất của từ này trong Từ điển tiếng Anh Oxford lại mang ý nghĩa tiêu cực. Năm 1895 tờ Athenæum dẫn một cách giễu cợt về một bài viết về một người phụ nữ có “kiểu làm dáng bằng những học thuyết về chủ nghĩa nữ quyền” được mô tả bằng vẻ khôi hài thực sự. “Ở Đức chủ nghĩa nữ quyền mang tính xã hội chủ nghĩa công khai,” tờ Daily Chronicle rùng mình nhận xét vào năm 1908, và tiếp tục gạt bỏ “những người đấu tranh cho quyền bỏ phiếu, những phụ nữ đấu tranh cho quyền bỏ phiếu, và mọi phương diện khác trong sự trỗi dậy của chủ nghĩa nữ quyền.”

Trong những năm đó, một số nhà văn sử dụng một từ thay thế – “womanism” – với cùng sự thù địch. Một nhà văn bị lãng quên từ lâu đã xuất hiện một cách chế nhạo giận dữ trong hồi ký của mình khi ông hồi tưởng về cuộc gặp với một nữ trí thức sống ở Paris (bất chấp thành kiến của ông, bà vẫn xuất hiện sống động và thú vị) có những tác phẩm phản ánh “chủ nghĩa phụ nữ cứng đầu của thế kỷ 19.”

Kỳ lạ là một trong những cuộc tấn công sắc bén nhất lên cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” lại đến từ Virginia Woolf, với cuốn A Room of One’s Own của bà là lời biện hộ hữu hiệu và hấp dẫn cho phụ nữ. Trong cuốn Three Guineas, được viết năm 1938 dưới cái bóng của chủ nghĩa phát xít và của cuộc chiến đang đến gần, và có lẽ lo lắng về bất cứ “chủ nghĩa” (-ism) nào, bà gạt bỏ cụm từ đó hoàn toàn. Không một từ nào có thể diễn đạt được sức mạnh “mà trong thế kỷ 19 tự nó đã phản đối sức mạnh của những người cha,” bà khẳng định, tiếp tục:

Những phụ nữ trong thế kỷ 19 kia trên thực tế là tiền vệ của phong trào của chính các bạn. Họ chống lại sự chuyên chế của nhà nước phụ quyền như các bạn đang chống lại sự chuyên chế của nhà nước Phát xít.

Theo bà, họ bị gọi, trong sự oán hận của họ, là những nhà nữ quyền (bà không chính xác về mặt lịch sử – cụm từ “nhà nữ quyền” chưa được biết đến trong thế kỷ trước), và bà tiếp tục nhấn mạnh rằng chúng ta phải

tiêu huỷ một từ cũ, một từ xấu xa và tha hóa vốn đã gây hại rất nhiều trong những ngày của nó. “Nhà nữ quyền” (feminist) là một từ như thế. Từ đó, theo từ điển, nghĩa là “người đấu tranh cho những quyền của phụ nữ.” Do quyền duy nhất, quyền kiếm sống (right to earn a living) đã đạt được, từ này không còn ý nghĩa gì nữa. Và một từ mà không có ý nghĩa là một từ đã chết, một từ đã bị tha hóa.

Nhưng dù “quyền kiếm sống” của Virginia Woolf đã, và còn, là trung tâm của chủ nghĩa nữ quyền, gần một thế kỷ sau khi bà viết, rõ ràng là việc đạt được nó đã không giải quyết được mọi vấn đề của phụ nữ. Công việc của phụ nữ – bất chấp khoản thu nhập được truyền bá rộng rãi của một số người thành đạt trong giới kinh doanh – vẫn bị trả thấp hơn; hoặc, với công việc nội trợ, còn không hề được trả. Khi Woolf viết trong những năm 1920, những nhà nữ quyền còn gần như chưa bắt đầu lên tiếng, chứ chưa nói đến giải quyết, những vấn đề đặc biệt của phụ nữ: những vấn đề liên quan tới việc sinh đẻ và nuôi con, hoặc sự căng thẳng của những phụ nữ phải kết hợp việc nhà hoặc/và chăm sóc con với công việc bên ngoài.

Qua những thế kỷ, và ở nhiều nước khác nhau, phụ nữ đã lên tiếng cho giới tính của họ, và trình bày, bằng những cách khác nhau, những khiếu nại, nhu cầu, và hy vọng của họ. Do cuốn sách này là một cuốn dẫn nhập rất ngắn, nên tôi tập trung vào chủ nghĩa nữ quyền ở một đất nước, nước Anh, và cố gắng khám phá sự phát triển của nó theo thời gian. Trong khi phụ nữ ở những đất nước khác đã có những trải nghiệm và định nghĩa khác nhau, ở Anh, ít nhất cho đến những năm 1960, cụm từ “nhà nữ quyền” vẫn thường mang tính miệt thị. Rất ít phụ nữ, dù dấn thân trong quá trình đấu tranh cho những quyền của phụ nữ đến đâu, tự mô tả mình là “những nhà nữ quyền.” Khi phụ nữ bắt đầu tổ chức lại trong những năm 1960 và những năm 1970, phong trào này tự gọi mình là Giải phóng Phụ nữ (Women’s Liberation, mượn từ người da đen, Thế giới Thứ ba, và sinh viên). Nó thường bị rút gọn, đôi lúc trìu mến, đôi lúc theo một cách xúc phạm, là women’s lib. Nhưng những năm đó cũng chứng kiến cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” được đưa trở lại vào cách nói thông thường, và ý nghĩa của nó được mở rộng. Tuy vẫn còn mối lo ngại chính đáng rằng sự bình đẳng dân sự và pháp lý chưa đạt được trọn vẹn, phong trào mới có xu hướng tập trung vào những vấn đề cụ thể đối với phụ nữ trong những vai trò sinh sản và xã hội của họ. Cũng trong những năm đó, những nhà nữ quyền ở Anh chí ít đã cố gắng vượt qua biên giới quốc gia và khám phá những gì họ có – hoặc không có – chung với những nhà nữ quyền ở nước ngoài.

Nhưng chúng ta vẫn thường xuyên nghe phụ nữ lo lắng khẳng định “Tôi không phải là nhà nữ quyền nhưng…” trong khi họ tiếp tục đòi hỏi những quyền phụ thuộc vào, và sẽ không thể đạt được nếu không có, một nền tảng nữ quyền, như thế nào? Nhà nữ quyền người Mỹ Estelle Freedman cho rằng ngay từ những nguồn gốc của mình, cụm từ “nhà nữ quyền” đã mang những ý nghĩa tiêu cực; rằng có ít đến ngạc nhiên phụ nữ dấn thân vào chính trị tự phong mình là những nhà nữ quyền. Trong những năm 1990 một số nhà nữ quyền ở Anh và Mỹ đã xác định và cảnh báo một “phản ứng tâm lý ngược” chống chủ nghĩa nữ quyền và những thành tựu không thể nghi ngờ của nó. Ví dụ, Juliet Mitchell và Ann Oakley đặt tên tập tiểu luận thứ ba của họ là Who’s Afraid of Feminism? (Ai sợ chủ nghĩa nữ quyền?), với tranh biếm họa một con sói lớn xấu xa trên áo sách gốc. Họ cho rằng “những cuộc tấn công lên chủ nghĩa nữ quyền thường hợp nhất vào chứng thù ghét phụ nữ rộng hơn”; “nhà nữ quyền” giờ là cái tên dành cho dành cho những phụ nữ bị ghét hoặc bị khinh miệt, cũng như những từ “man-hater” (người thù ghét đàn ông) hay “castrating bitch” (chó cái thiến), “harridan” (con mụ cay nghiệt) hay “witch” (phù thuỷ), vốn được sử dụng trước những năm 1960. Họ nói thêm rằng phụ nữ cũng phải phơi bày và loại bỏ chứng thù ghét phụ nữ cố hữu trong chính chủ nghĩa nữ quyền.

Phiền hà không kém là sự thận trọng mà cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” dường như đã khơi dậy trong nhiều phụ nữ trẻ hơn, trong số đó một con số ngạc nhiên dường như trốn tránh khái niệm này. Một tờ báo Anh gần đây đã xuất bản một bài dài hai trang có nhan đề “Chủ nghĩa nữ quyền đã chết?” (Is Feminism Dead?), bài báo này đã tìm được cách, đủ gọn ghẽ, đứng trung lập giữa hai phe; không gian công bằng được dành cho những biện luận có hoặc không, với những người cảm thấy cụm từ này vẫn còn tính thời sự một cách cấp bách, và với những người chắc chắn rằng nó đã lỗi thời, thậm chí đáng xấu hổ, và nên được bỏ. Bài viết này được minh hoạ bằng một bức ảnh “những chiến sĩ giải phóng phụ nữ” đang biểu tình chống cuộc thi Hoa hậu Thế giới. (Trên thực tế, mọi người trong bức ảnh đang cười.) Hơi bẽ bàng, tôi nhận ra chính tôi khi còn trẻ hơn nhiều, với mái tóc dài và bộ váy dài, nắm chặt một tấm bảng rõ tẻ nhạt ghi “phụ nữ cũng là người.” Tôi gần như quên mất rằng những cuộc thi Hoa hậu Thế giới vẫn còn tồn tại (trong những ngày xấu xa xưa cũ ấy nó xuất hiện trên truyền hình vào giờ vàng), cho tới năm 2002 sự kiện này nhận được sự quảng bá bất ngờ, đầu tiên khi những chiến sĩ đấu tranh người Nigeria biểu tình một cách bạo lực chống “cuộc diễu hành loã thể” của cuộc thi mà họ nghĩ là sẽ khuyến khích quan hệ tình dục bừa bãi và AIDS, sau đó khi một vài thí sinh từ chối tham dự vì một phụ nữ trẻ người Nigeria, bị kết án tử hình dưới luật Sharia của Hồi giáo vì mang thai ngoài hôn thú, được hoãn thi hành án – nhưng chỉ tới khi cô cai sữa cho con. Cử chỉ của những nữ hoàng sắc đẹp vừa can đảm vừa có hiệu quả, dù thú vị là một cô vẫn nhấn mạnh, với một chút lo lắng, rằng cô giữ lập trường của mình chắc chắn không phải vì cô là một nhà nữ quyền, hay thậm chí vì cô là phụ nữ, mà vì cô là một con người.

Khi gần đây tôi hỏi một số phụ nữ tuổi ngoài hai mươi – một số được giáo dục đại học, số khác đang làm việc, và tất cả, rõ ràng, là những người thụ hưởng lợi ích của những cuộc đấu tranh ban đầu cho quyền của phụ nữ – xem họ có coi mình là những nhà nữ quyền hay không, hay thực sự có bất kỳ mối quan tâm nào về chủ nghĩa nữ quyền hay không, hầu hết đều trả lời, một cách thẳng thừng, là không. Một người còn cho rằng bản thân cụm từ này nghe nặng nề và lỗi thời. Cô có cảm giác chủ nghĩa nữ quyền đã trở thành, một mặt, sân chơi cho những người cực đoan – cô gọi họ là “những người bảo căn chủ nghĩa” (fundamentalists) – vốn không có gì hữu ích để nói với những người phụ nữ như bản thân cô. Mặt khác, cô cho rằng chủ nghĩa nữ quyền đã trở nên “bị thể chế hoá,” và cô so sánh nó với chủ nghĩa cộng sản: nó đòi hỏi sự cam kết, không đơn giản với những lý tưởng, mà với một ý thức hệ được tổng quát hoá. Hơn nữa, cô nói thêm, nó ngày nay chỉ là một ngành học thuật khác. Bạn có thể lấy văn bằng về “nghiên cứu giới” (gender studies) và điều đó, cô cảm thấy, là nụ hôn thực sự của tử thần: bằng chứng, nếu có bất cứ bằng chứng nào cần, rằng nữ quyền không còn tính thời sự một cách cấp bách. Có lẽ những phụ nữ trẻ hơn này sẽ cảm thấy khác sau khoảng mười năm, khi họ thấy mình phải tung hứng giữa gia đình, việc nhà, và công việc; có lẽ họ sẽ thấy rằng họ cần tái phát minh nữ quyền cho phù hợp với trải nghiệm của bản thân. Nhưng từ một góc nhìn nhất định, tôi hy vọng họ sẽ không cần. ♦

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on March 5, 2016 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,501 other followers

%d bloggers like this: