Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Điểm yếu của các nhà nước mạnh II


ussr flag.png

Francis Fukuyama, “The Weakness of Strong States II, or, Eating Pineapples on the Moon” (Chapter 3), in The End of History and the Last Man (London: Penguin, 1992), pp. 23–38.

Điểm yếu của các nhà nước mạnh II, hay,
Ăn dứa trên mặt trăng

Đây là một số trích đoạn từ một cậu bé lớp chín ở Kuybyshev, viết từ những năm 1960: “Đó là năm 1981. Chủ nghĩa cộng sản: Chủ nghĩa cộng sản là sự phong phú của những phước lành vật chất và văn hóa.… Toàn bộ giao thông thành phố được điện khí hóa, và các doanh nghiệp độc hại được loại ra ngoài địa giới thành phố.… Chúng ta đang ở trên mặt trăng, chúng ta đang dạo bước qua những bụi hoa và cây ăn trái.…”

Vậy cậu bé tưởng tượng chúng ta ăn dứa trên mặt trăng đã bao nhiêu năm? Giá một ngày nào đó chúng ta có thể ăn bao nhiêu cà chua tùy ý trên trái đất này!

—Andrey Nuikin, “The Bee and the Communist Ideal”[1]

Chủ nghĩa toàn trị là một khái niệm được phát triển ở phương Tây sau Thế chiến II để mô tả Liên Xô và Đức Quốc xã, hai chế độ bạo quyền có đặc trưng rất khác các chế độ chuyên chế truyền thống của thế kỷ XIX.[2] Hitler và Stalin đã định nghĩa lại ý nghĩa của một nhà nước mạnh bằng chính sự táo bạo của những nghị trình xã hội và chính trị của họ. Các chế độ chuyên quyền truyền thống như Tây Ban Nha của Franco hay các nền độc tài quân sự của châu Mỹ Latin chưa bao giờ tìm cách nghiền nát “xã hội dân sự”—tức là, lĩnh vực tư lợi của xã hội—mà chỉ kiểm soát nó. Đảng Falange của Franco hay phong trào Peron ở Argentina đã không phát triển được các hệ tư tưởng có hệ thống và chỉ thực hiện những nỗ lực nửa vời để thay đổi các giá trị và thái độ của dân chúng.

Ngược lại, nhà nước toàn trị dựa trên một ý thức hệ rõ ràng, cung cấp một cái nhìn toàn diện về đời sống con người. Chủ nghĩa toàn trị đã tìm cách phá hủy toàn bộ xã hội dân sự, trong quá trình tìm kiếm sự kiểm soát “hoàn toàn” đối với đời sống của công dân. Từ thời điểm những người Bolshevik lên nắm quyền năm 1917, nhà nước Xô viết đã tấn công một cách có hệ thống mọi nguồn thẩm quyền cạnh tranh tiềm tàng trong xã hội Nga, bao gồm các đảng chính trị đối lập, báo chí, công đoàn, doanh nghiệp tư nhân, và Giáo hội. Trong khi các tổ chức còn tồn tại vào cuối những năm 1930 vẫn mang một số trong số những cái tên này, tất cả chỉ là bóng ma của bản thân chúng trước đây, do chế độ tổ chức và bị kiểm soát hoàn toàn. Những gì còn lại là một xã hội có các thành viên bị thu nhỏ đến mức “nguyên tử,” không kết nối với bất cứ “thể chế trung gian” nào ngoài một chính phủ toàn năng.

Nhà nước toàn trị hy vọng làm lại con người Xô viết bằng cách thay đổi chính cấu trúc của những niềm tin và giá trị của anh ta bằng cách kiểm soát báo chí, giáo dục, và tuyên truyền. Điều này mở rộng đến hầu hết các mối quan hệ cá nhân và gần gũi của một con người, của gia đình. Pavel Morozov, cậu bé tố cáo cha mẹ mình với cảnh sát của Stalin, được chế độ tuyên dương trong nhiều năm như một tấm gương nhi đồng Xô viết. Theo lời Mikhail Heller, “Những mối quan hệ con người vốn tạo nên kết cấu xã hội—gia đình, tôn giáo, ký ức lịch sử, ngôn ngữ—đã trở thành mục tiêu, khi xã hội bị nguyên tử hóa một cách có hệ thống và có phương pháp, và những mối quan hệ gần gũi của cá nhân bị thay thế bằng những mối quan hệ khác được chọn cho anh ta, và được nhà nước phê duyệt.”[3]

Cuốn tiểu thuyết năm 1962 của Ken Kesey, Bay trên tổ chim cúc cu, đưa ra một minh họa về khát vọng toàn trị. Cuốn sách xoay quanh các bệnh nhân của một viện tâm thần, những người có cuộc sống ngớ ngẩn dưới con mắt của một Đại Y tá bạo ngược. Nhân vật chính của tiểu thuyết, McMurphy, cố gắng giải thoát các bệnh nhân bằng cách phá vỡ những quy tắc của viện và cuối cùng đưa họ đến tự do. Tuy nhiên, trong quá trình này anh nhận ra không bệnh nhân nào tại đây bị giam giữ trái ý muốn của họ; cuối cùng, tất cả đều sợ hãi thế giới bên ngoài và tiếp tục tình nguyện bị giam giữ, trong một mối quan hệ phụ thuộc an toàn vào Đại Y tá. Đây là mục tiêu cuối cùng của chế độ toàn trị: không chỉ đơn giản là tước đi tự do của con người Xô viết, mà còn khiến anh ta sợ tự do mà chọn an toàn, và khẳng định sự tốt đẹp của xiềng xích trên người anh ta ngay cả khi không có sự cưỡng chế.

Nhiều người tin rằng tính hiệu quả của chế độ toàn trị Xô viết sẽ được củng cố bằng những truyền thống chuyên chế của dân tộc Nga trước thời chủ nghĩa Bolshevik. Một quan điểm của châu Âu về người Nga phổ biến trong thế kỷ XIX được minh họa bởi nhà du hành người Pháp Custine, người mô tả họ như một chủng tộc “đổ vỡ trước chế độ nô lệ… chỉ coi trọng nỗi sợ và tham vọng.”[4] Sự tự tin của phương Tây về sự ổn định của chủ nghĩa cộng sản Xô viết dựa trên một niềm tin, dù hữu thức hay vô thức, rằng người Nga không quan tâm hoặc không sẵn sàng cho dân chủ. Xét cho cùng, chế độ Xô viết không phải là do một thế lực bên ngoài áp đặt lên người dân Nga vào năm 1917, như ở Đông Âu sau Thế chiến II, và nó đã tồn tại được sáu hay bảy thập niên sau Cách mạng Bolshevik, nạn đói, biến động, và xâm lược. Điều này cho thấy chế độ đã giành được một mức độ chính danh nhất định trong dân chúng lớn hơn, và chắc chắn là trong giới tinh hoa cầm quyền, phản ánh những khuynh hướng tự nhiên hướng đến chế độ chuyên chế của chính xã hội đó. Do đó, trong khi các nhà quan sát phương Tây hoàn toàn sẵn sàng công nhận mong muốn lật đổ chủ nghĩa cộng sản khi có cơ hội của người Ba Lan, điều đó lại không thể nói là đúng với người Nga. Nói cách khác, họ là bệnh nhân bằng lòng với viện, bị giam ở đó không phải bằng rào chắn và áo bó mà bằng ham muốn của chính họ về an ninh, trật tự, thẩm quyền, và một số lợi ích khác mà chính quyền Xô viết đã có thể đem lại như vẻ vĩ đại đế quốc hay vị thế siêu cường. Nhà nước mạnh của Liên Xô quả thật có vẻ rất vững mạnh, không ở đâu hơn đối thủ cạnh tranh chiến lược toàn cầu với Hoa Kỳ.

Người ta tin rằng nhà nước toàn trị không chỉ có thể duy trì bản thân vô thời hạn, mà còn có thể tự nhân bản trên thế giới như một loại virus. Khi được xuất khẩu sang Đông Đức, Cuba, Việt Nam, hay Ethiopia, chủ nghĩa cộng sản đến cùng một đảng tiên phong, các bộ tập trung hóa, một bộ máy cảnh sát, và một hệ tư tưởng để quản trị mọi khía cạnh của đời sống. Các tổ chức này có vẻ hiệu quả, bất kể những truyền thống dân tộc hay văn hóa của các nước này ra sao.

Điều gì đã diễn ra với cơ chế tự duy trì quyền lực này?

Năm 1989—năm kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp và phê chuẩn Hiến pháp Mỹ—đánh dấu sự sụp đổ quyết định của chủ nghĩa cộng sản như một yếu tố trong lịch sử thế giới.

Kể từ đầu những năm 1980, nhịp độ thay đổi trong thế giới cộng sản nhanh và liên tục đến nỗi đôi khi chúng ta có xu hướng coi thay đổi là đương nhiên, và quên đi tầm quan trọng của những gì đã diễn ra. Do đó, việc xem xét những mốc chính trong giai đoạn này sẽ hữu ích:

  • Đầu những năm 1980, giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc bắt đầu cho phép nông dân, chiếm 80% dân số Trung Quốc, nuôi trồng và bán thực phẩm của mình. Nông nghiệp về cơ bản được phi tập trung hóa, và quan hệ thị trường tư bản chủ nghĩa bắt đầu tái xuất hiện không chỉ ở khắp các vùng nông thôn, mà còn ở công nghiệp đô thị.
  • Năm 1986, báo chí Liên Xô bắt đầu xuất bản các bài viết chỉ trích những tội ác trong thời kỳ Stalin, một chủ đề không được đề cập đến sau khi Khrushchev bị lật đổ vào đầu những năm 1960. Kể từ đó tự do báo chí đã mở rộng nhanh chóng, khi hết điều cấm kỵ này đến điều cấm kỵ khác được phá vỡ. Đến năm 1989, Gorbachev và phần còn lại của giới lãnh đạo Xô viết có thể bị tấn công công khai trên báo chí, và trong hai năm 1990 và 1991 các cuộc biểu tình lớn kêu gọi ông từ chức đã nổ ra trên khắp Liên Xô.
  • Tháng 3/1990, các cuộc bầu cử được tổ chức nhằm tái cơ cấu Đại hội Đại biểu Nhân dân và Xô viết Tối cao. Các cuộc bầu cử tiếp tục diễn ra trong năm sau đó ở tất cả 15 nước cộng hòa trong Liên Xô, và ở cấp địa phương. Đảng Cộng sản cố gắng thao túng các cuộc bầu cử này theo hướng có lợi cho mình, nhưng ngay cả vậy cũng không ngăn chặn được nhiều cơ quan lập pháp địa phương khỏi rơi vào sự kiểm soát của các đại biểu phi cộng sản.
  • Mùa xuân năm 1989, Bắc Kinh tạm thời bị hàng chục ngàn sinh viên kêu gọi chấm dứt tham nhũng và thành lập nền dân chủ ở Trung Quốc chiếm đóng. Cuối cùng họ bị quân đội Trung Quốc nghiền nát một cách tàn nhẫn vào tháng 6, nhưng trước đó họ đã có thể công khai đặt câu hỏi về tính chính danh của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  • Tháng 2/1989, Hồng quân rút khỏi Afghanistan. Đây hóa ra chỉ là lần rút quân đầu tiên trong một chuỗi rút quân.
  • Đầu năm 1989, các nhà cải cách trong Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary tuyên bố kế hoạch tổ chức các cuộc bầu cử tự do, đa đảng trong năm sau đó. Tháng 4/1989, một thỏa thuận bàn tròn đã dẫn đến một thỏa thuận chia sẻ quyền lực giữa Đảng Công nhân Ba Lan và công đoàn Đoàn kết. Kết quả của các cuộc bầu cử này—trong đó cộng sản Ba Lan cũng đã cố can thiệp nhưng không thành công—là một chính phủ Đoàn kết lên nắm quyền vào tháng 7.
  • Tháng 7 và tháng 8/1989, hàng chục và sau đó là hàng trăm ngàn người Đông Đức đã bắt đầu chạy sang Tây Đức, dẫn tới một cuộc khủng hoảng nhanh chóng dẫn tới việc phá đổ Bức tường Berlin và sự sụp đổ của nhà nước Đông Đức.
  • Sự sụp đổ của Đông Đức sau đó châm ngòi cho sự sụp đổ của các chính phủ cộng sản ở Tiệp Khắc, Bulgria, và Romania. Đến đầu năm 1991, mọi quốc gia cựu cộng sản ở Đông Âu, bao gồm Albania và các nước cộng hòa lớn của Nam Tư, đều đã tổ chức các cuộc bầu cử tự do, đa đảng. Chủ nghĩa cộng sản ban đầu bị lật đổ ở mọi nơi trừ Romania, Bulgaria, Serbia, và Albania, trong khi ở Bulgaria, chính phủ cộng sản được bầu đã sớm buộc phải nhường bước.[5] Cơ sở chính trị cho Hiệp ước Warsaw biến mất, và quân đội Liên Xô bắt đầu rút khỏi Đông Âu.
  • Tháng 1/1990, Điều 6 Hiến pháp Liên Xô, đảm bảo Đảng Cộng sản giữ “vai trò tiên phong,” bị bãi bỏ.
  • Sau khi Điều 6 được bãi bỏ, một số đảng chính trị phi cộng sản được thành lập ở Liên Xô, và lên nắm quyền ở một số nước Cộng hòa Xô viết. Nổi bật nhất là cuộc bầu cử đưa Boris Yeltsin lên làm tổng thống Cộng hòa Nga vào mùa xuân năm 1990, người cùng nhiều người ủng hộ ông sau đó đã rời bỏ Đảng Cộng sản. Sau đó cũng nhóm này bắt đầu ủng hộ việc phục hồi tài sản và các thị trường tư nhân.
  • Các quốc hội được bầu lên một cách tự do ở mọi nước cộng hòa thành viên, trong đó có Nga và Ukraina, tuyên bố “chủ quyền” của họ trong suốt năm 1990. Quốc hội các nước Baltic đã tiến xa hơn đến việc tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi Liên Xô vào tháng 3/1990. Điều này đã không dẫn đến một cuộc đàn áp ngay lập tức như nhiều người dự đoán, mà dẫn đến một cuộc đấu tranh quyền lực trong nước Nga về việc có bảo vệ Liên minh cũ hay không.
  • Tháng 6/1991, Nga tổ chức cuộc bầu cử phổ thông hoàn toàn tự do đầu tiên, và bầu Yeltsin làm tổng thống Liên bang Nga. Điều này phản ánh sự chuyển giao quyền lực diễn ra nhanh chóng từ Moskva đến ngoại vi.
  • Tháng 8/1991, cuộc đảo chính chống Gorbachev của một nhóm nhà cộng sản cứng rắn thất bại. Điều này diễn ra một phần là do sự bất lực và thiếu quyết tâm của phe đảo chính, nhưng cũng nhờ sự ủng hộ đáng kể dành cho các thể chế dân chủ, dẫn đầu là Boris Yeltsin, của nhóm người Xô viết bị cho là thụ động và tham quyền.

Một nhà nghiên cứu tỉnh táo về các vấn đề cộng sản hồi năm 1980 có thể nói không sự kiện nào trong số này rất có thể hay thậm chí có khả năng xảy ra trong thập niên tới. Đánh giá này chắc hẳn dựa trên quan điểm rằng bất kỳ bước phát triển nào nêu trên cũng làm suy yếu một yếu tố chủ chốt của quyền lực toàn trị cộng sản, do đó giáng một đòn chết người lên toàn hệ thống. Và, quả thật, bức màn cuối cùng đã buông khi Liên Xô cũ giải thể và Đảng Cộng sản bị cấm ở Nga sau cuộc đảo chính thất bại hồi tháng 8/1991. Vậy thì những dự đoán ban đầu bị phủ định như thế nào, và điều gì gây ra những điểm yếu bất thường của nhà nước mạnh này, đã bộc lộ cho chúng ta kể từ khi bắt đầu perestroika?

Điểm yếu cơ bản nhất mà tầm quan trọng đầy đủ của nó đã thoát khỏi sự chú ý của giới quan sát phương Tây là kinh tế. Chịu đựng thất bại kinh tế sẽ khó khăn hơn nhiều trong hệ thống Xô viết do bản thân chế độ rõ ràng đã dựa tính chính danh của mình vào khả năng cung cấp mức sống vật chất cao cho người dân. Tuy bây giờ khó nhớ lại, tăng tưởng kinh tế thật ra đã được coi là một thế mạnh của nhà nước Xô viết cho đến đầu những năm 1970: trong giai đoạn 1928–55, GNP của Liên Xô đã tăng trưởng với tốc độ từ 4,4 đến 6,3% một năm, và tăng trưởng nhanh gấp rưỡi GNP của Hoa Kỳ trong hai thập niên sau đó, đem niềm tin vào lời đe dọa sẽ vượt qua và sau đó chôn vùi Hoa Kỳ của Khrushchev.[6] Nhưng đến giữa những năm 1970, tỷ lệ tăng trưởng này đã chậm lại còn 2,0 đến 2,3% một năm trong giai đoạn 1975–85, theo ước tính của CIA. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy những con số này phóng đại sự tăng trưởng một cách đáng kể bằng cách không tính lạm phát ẩn; nhiều nhà kinh tế cải cách của Liên Xô đã khẳng định tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn này là 0,6 đến 1,0%, thậm chí là bằng 0.[7] Tăng trưởng GNP tổng thể kém, cùng với sự gia tăng 2–3% hằng năm trong chi tiêu quốc phòng cho đến đầu những năm 1980, có nghĩa là nền kinh tế dân sự thật ra đã bị thu hẹp với tốc độ đáng kể trong một thập niên trước khi Gorbachev lên nắm quyền.[8] Bất cứ ai từng ở một khách sạn Liên Xô, mua sắm trong một cửa hàng Liên Xô, hoặc du lịch ở các vùng nông thôn nơi người ta có thể tìm thấy cảnh nghèo đói khốn khó nhất, đều có thể nhận ra nền kinh tế Liên Xô có những vấn đề rất nghiêm trọng mà không được phản ánh hoàn toàn trong những số liệu thống kê chính thức.

Quan trọng không kém là cách khủng hoảng kinh tế được can thiệp. Đến cuối những năm 1980, một cuộc cách mạng tri thức đáng chú ý đã nổ ra bên trong nền tảng kinh tế Xô viết. Những thủ cựu từ thời Brezhnev được thay thế trong ba hay bốn năm Gorbachev trỗi dậy bằng các nhà kinh tế cải cách chủ nghĩa như Abel Aganbegyan, Nikolai Petrakov, Stanislav Shatalin, Oleg Bogomolov, Leonid Abalkin, Grigory Yavlinsky, và Nikolai Shmelev. Tất cả đều hiểu—dù không hoàn hảo trong một số trường hợp—những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết kinh tế tự do, và tin chắc rằng hệ thống chỉ huy hành chính tập trung hóa của Xô viết là gốc rễ sự thoái trào kinh tế của Liên Xô.[9]

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu diễn giải quá trình perestroika sau đó chỉ đơn giản về mặt bức thiết kinh tế.[10] Như Gorbachev đã tự mình chỉ ra, Liên Xô năm 1985 không nằm trong tình trạng khủng hoảng, mà nằm trong tình trạng “tiền khủng hoảng.” Các quốc gia khác đã vượt qua những khó khăn kinh tế nghiêm trọng hơn nhiều. Ví dụ, trong Đại suy thoái, GNP thực tế của Hoa Kỳ giảm gần một phần ba, nhưng điều này đã không dẫn đến sự mất niềm tin chung vào hệ thống Mỹ. Những điểm yếu nghiêm trọng của nền kinh tế Xô viết đã được công nhận từ lâu, và đã có một loạt cải cách truyền thống có thể đã thử ngăn chặn suy thoái.[11]

Để hiểu những điểm yếu thực sự của nhà nước Xô viết, vấn đề kinh tế phải được đặt vào bối cảnh của một cuộc khủng hoảng lớn hơn nhiều, cuộc khủng hoảng về tính chính danh của toàn thể hệ thống. Thất bại kinh tế chỉ là một trong số nhiều thất bại trong hệ thống Xô viết, những thất bại có tác dụng xúc tác sự chối bỏ hệ thống niềm tin và phơi bày sự yếu kém của cấu trúc nền tảng. Thất bại căn bản nhất của chủ nghĩa toàn trị là thất bại trong việc kiểm soát tư tưởng. Trên thực tế, ngay từ đầu công dân Xô viết đã giữ lại được khả năng suy nghĩ cho bản thân. Bất chấp nhiều năm tuyên truyền của chính phủ, nhiều người vẫn hiểu chính phủ của họ đang lừa dối họ. Mọi người vẫn còn vô cùng tức giận về những đau khổ cá nhân mà họ đã phải chịu đựng dưới thời chủ nghĩa Stalin. Gần như mọi gia đình đều mất đi thành viên hay bạn bè trong quá trình tập thể hóa, hay trong cuộc Đại thanh trừng những năm 1930, hay trong chiến tranh, những sự kiện có thiệt hại trở nên lớn hơn nhiều do những sai lầm trong chính sách đối ngoại của Stalin. Họ biết những nạn nhân này đã bị đàn áp bất công, và chính quyền Liên Xô chưa bao giờ thừa nhận trách nhiệm trước những tội ác khủng khiếp như vậy. Mọi người cũng hiểu rằng một hình thức hệ thống giai cấp mới đã phát sinh trong xã hội được cho là phi giai cấp này, một giai cấp quan chức Đảng tham nhũng và đặc quyền như bất cứ ai trong chế độ cũ, nhưng nay đạo đức giả hơn nhiều.

Để minh chứng cho điều này, hãy xem xét cách dùng từ ngữ ở Liên Xô thời Gorbachev, chẳng hạn như “dân chủ hóa” (demokratizatsiya), được Gorbachev sử dụng không ngừng để xác định những mục tiêu của riêng ông. Dĩ nhiên, Lenin cho rằng thông qua chế độ độc tài của Đảng, Liên Xô đã đạt được một hình thức dân chủ đích thực hơn các nền dân chủ “hình thức” của phương Tây. Nhưng không ai sử dụng từ “dân chủ hóa” ở Liên Xô ngày nay có bất cứ ảo tưởng nào rằng nó có nghĩa là chủ nghĩa tập trung Leninist mà không phải chính nền dân chủ phương Tây. Tương tự, với người Liên Xô, từ “kinh tế” (như trong “những cân nhắc kinh tế” hay “tối ưu về mặt kinh tế”) ngày nay có nghĩa là “hiệu quả” như định nghĩa của quy luật tư bản về cung cầu. Và, tuyệt vọng về chất lượng cuộc sống suy giảm ở Liên Xô, bất cứ thanh niên Xô viết nào cũng sẽ bảo với bạn rằng mong muốn duy nhất của họ là được sống ở một đất nước “bình thường,” tức là, một nền dân chủ tự do không bị biến dạng bởi ý thức hệ Marx-Lenin. Như một người bạn Liên Xô nói với tôi vào năm 1988, cô khó mà bắt con mình làm bài tập về nhà bởi vì “ai cũng biết” dân chủ có nghĩa là “bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn.”

Quan trọng hơn, những người cảm thấy tức giận không chỉ là nạn nhân của chế độ, mà còn là người hưởng lợi từ nó. Aleksandr Yakovlev, thành viên Bộ Chính trị từ năm 1986 đến năm 1990, kiến trúc sư của chính sách glasnost’ (mở cửa), Eduard Shevardnadze, vị ngoại trưởng xây dựng nên chính sách “tư duy mới,” và Boris Yeltsin, tổng thống Nga, tất cả đều dành sự nghiệp của họ ở trung tâm bộ máy của Đảng Cộng sản. Giống như các thành viên của Cortes Francoist, hay những vị tướng người Argentina và Hy Lạp tự nguyện từ bỏ quyền lực, họ biết có một căn bệnh rất trầm trọng ở trung tâm của hệ thống Xô viết, và được đặt vào những vị trí chịu trách nhiệm chính mà họ có thể làm được điều gì đó. Những nỗ lực cải cách trong cuối những năm 1980 không được áp đặt lên Liên Xô từ bên ngoài, mặc dù sự cạnh tranh với Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách. Thay vào đó, chúng xuất hiện như kết quả của một cuộc khủng hoảng niềm tin nội bộ đã lây lan sang một nhóm lớn trong giới tinh hoa Xô viết so với thế hệ trước.

Sự xói mòn tính chính danh của hệ thống đã không được trù tính, nó cũng không diễn ra chỉ trong một đêm. Ban đầu Gorbachev sử dụng glasnost’ và dân chủ hóa như những công cụ để củng cố vị trí lãnh đạo của mình, và sau này để huy động sự phản đối của dân chúng đối với bộ máy kinh tế bảo thủ. Trong khi làm như vậy ông đã không đi chệch khỏi những chiến thuật mà Khrushchev từng sử dụng trong những năm 1950.[12] Nhưng những hành động ban đầu của sự tự do hóa chính trị chủ yếu mang tính biểu tượng này đã sớm trở nên độc lập và trở thành những thay đổi vì lợi ích của chính mình. Lời kêu gọi glasnost’perestroika ban đầu của Gorbachev đã nhận được phản ứng lập tức từ nhiều nhà trí thức, những người không cần phải thuyết phục về những khiếm khuyết của hệ thống. Và hóa ra chỉ có một bộ tiêu chuẩn nhất quán mà qua đó hệ thống cũ được đánh giá và tìm ra thất bại: những tiêu chuẩn của nền dân chủ tự do, tức là, năng suất của nền kinh tế định hướng thị trường và tự do của nền chính trị dân chủ.[13]

Người dân Liên Xô, bị những nhà cai trị làm nhục và bị không chỉ phần còn lại của châu Âu mà còn cả những trí thức trong nước khinh bỉ như những kẻ đồng lõa thụ động của chế độ chuyên chế, đã chứng tỏ mọi người đều sai. Sau năm 1989, xã hội dân sự đã bắt đầu tái lập chính mình trên nền tảng trơ trụi của chế độ toàn trị, thông qua việc thành lập hàng chục ngàn hiệp hội mới—các đảng chính trị, công đoàn lao động, các tạp chí và báo mới, các câu lạc bộ sinh thái, các xã hội văn học, nhà thờ, các nhóm dân tộc chủ nghĩa, v.v. Việc người dân Xô viết được cho là chấp nhận tính chính danh của khế ước xã hội toàn trị cũ đã bị phủ nhận bằng tỷ lệ đa số rất lớn bỏ phiếu chống những đại diện của bộ máy cộng sản cũ trong mọi cơ hội có thể có. Đặc biệt, sự trưởng thành về chính trị của người dân Nga được thể hiện rõ nhất trong việc lựa chọn một Boris Yeltsin làm tổng thống dân cử phổ thông đầu tiên của họ, thay vì một kẻ mị dân bán phát xít như Milošević của Serbia, hay một nhà dân chủ nửa vời như Gorbachev. Sự trưởng thành này được chứng minh hơn nữa khi người Nga hưởng ứng lời kêu gọi của Yeltsin nhằm bảo vệ các thể chế dân chủ của họ trước cuộc đảo chính của phe bảo thủ diễn ra hồi tháng 8/1991. Giống như người dân các nước Đông Âu đi trước, họ tỏ ra không trơ lỳ và rã đám, mà vốn sẵn sàng bảo vệ phẩm giá và quyền của mình.[14]

Sự vỡ mộng lớn đến như vậy về cấu trúc niềm tin cơ bản của Liên Xô không thể diễn ra chỉ trong một đêm, gợi ý rằng chủ nghĩa toàn trị như một hệ thống đã thất bại từ rất lâu trước những năm 1980. Và quả thật, khởi đầu sự cáo chung của chủ nghĩa toàn trị có thể đã bắt đầu từ giai đoạn sau cái chết của Stalin năm 1953, khi chế độ chấm dứt việc sử dụng khủng bố một cách bừa bãi.[15] Sau cái gọi là “bài diễn văn bí mật” của Khrushchev năm 1956 và việc đóng cửa Gulag của Stalin, chế độ không còn có thể dựa vào cưỡng chế đơn thuần để thực thi chính sách, và ngày càng phải dựa vào nịnh nọt, thu nạp, và mua chuộc để khiến mọi người ủng hộ các mục tiêu của mình. Bước chuyển đổi khỏi khủng bố đơn thuần phần nào là không thể tránh khỏi, bởi lẽ dưới hệ thống Stalinist, không ai trong chính giới lãnh đạo có thể cảm thấy an toàn—kể cả hai cảnh sát trưởng của Stalin, Yezhov và Beria, cả hai đều bị hành quyết, kể cả ngoại trưởng Molotov, người có vợ bị đưa vào Gulag, kể cả người kế nhiệm ông, Khrushchev, người ta mô tả một cách sống động làm thế nào một ánh mắt kỳ lạ từ Stalin có thể làm một thành viên Bộ Chính trị lo sợ cho mạng số của mình—kể cả chính Stalin, người không ngừng lo sợ những âm mưu. Do đó, việc dỡ bỏ một hệ thống khủng bố quá khủng khiếp với những người thi hành nó đã trở nên gần như bắt buộc khi cái chết của Stalin cho phép giới lãnh đạo cấp cao có thể làm như vậy.

Quyết định không giết người một cách bừa bãi của chế độ Xô viết đã thay đổi cán cân quyền lực giữa nhà nước và xã hội theo hướng có lợi cho xã hội, và có nghĩa là từ nay nhà nước Xô viết sẽ không còn kiểm soát mọi khía cạnh của đời sống Xô viết. Nhu cầu tiêu dùng, hay thị trường chợ đen, hay các bộ máy chính trị địa phương, sẽ không còn có thể bị nghiền nát hoặc thao túng một cách đơn giản. Dùng cảnh sát để đe dọa vẫn là một vũ khí quan trọng của nhà nước, nhưng nó thường được giữ ở phía sau và phải được bổ sung bằng các công cụ chính sách khác như lời hứa về nhiều hàng hóa tiêu dùng hơn. Trước thời Gorbachev, gần 20% GNP của Liên Xô được tạo ra hoặc lọc qua thị trường chợ đen, hoàn toàn nằm ngoài sự kiểm soát của các nhà hoạch định trung ương.

Một ví dụ về sự kiểm soát ngày càng suy yếu của trung ương là việc xuất hiện một số nhóm “mafia” ở các nước cộng hòa Liên Xô ngoài Nga trong những năm 1960 và những năm 1970, như nhóm “mafia bông” khét tiếng đã khởi sắc ở Uzbekistan dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Rashidov. Được bảo vệ dưới mối quan hệ cá nhân với Chủ tịch Liên Xô Brezhnev, con gái Galina của Brezhnev, và chồng cô, Churbanov (một quan chức cảnh sát ở Moskva), Rashidov đã có thể cai trị một đế chế quan chức tham nhũng trong nhiều năm. Nhóm quan chức này đã giả tạo số liệu về sản lượng bông trong nước cộng hòa, chuyển một lượng lớn tài nguyên vào các tài khoản ngân hàng cá nhân, và điều hành tổ chức đảng địa phương mà gần như không có sự giám sát từ Moskva. Nhiều dạng mafia đã nở rộ trên khắp xã hội Liên Xô trong giai đoạn này, chủ yếu ở các nước cộng hòa ngoài Nga, nhưng cũng ở những nơi như Moskva và Leningrad.

Một chế độ như vậy không thể được mô tả là toàn trị; nó cũng không phải là một hình thức chuyên chế khác như những nền độc tài ở châu Mỹ Latin. Có lẽ cái nhãn tốt nhất để mô tả Liên Xô hay Đông Âu thời Brezhnev là cái nhãn được Václav Havel sử dụng, người gọi những chế độ này là “hậu toàn trị,” cho thấy dù không còn là những nhà nước cảnh sát khát máu của những năm 1930 và những năm 1940, chúng vẫn tồn tại dưới cái bóng của thực tiễn toàn trị trước đây.[16] Chủ nghĩa toàn trị là không đủ để tiêu diệt tư tưởng dân chủ trong các xã hội này, nhưng di sản của nó lại hạn chế khả năng dân chủ hóa của họ sau đó.

Chủ nghĩa toàn trị cũng thất bại ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các nước Đông Âu. Sự kiểm soát của chính phủ trung ương đối với nền kinh tế Trung Quốc ngay cả trong đỉnh cao của thời kỳ “Stalinist” của Trung Quốc cũng chưa bao giờ hoàn chỉnh như ở Liên Xô, với khoảng một phần tư nền kinh tế chưa bao giờ xuất hiện trong khuôn khổ của kế hoạch quốc gia. Khi Đặng Tiểu Bình đưa đất nước vào công cuộc cải cách kinh tế năm 1978, nhiều người Trung Quốc vẫn còn ký ức sống động về thị trường và tinh thần thương nghiệp từ những năm 1950, do đó có lẽ không ngạc nhiên khi họ đã có thể tận dụng quá trình tự do hóa kinh tế trong thập niên sau đó. Trong khi tiếp tục đãi bôi với Mao và chủ nghĩa Marx-Lenin, về cơ bản Đặng đã phục hồi tư hữu ở nông thôn và mở cửa đất nước với nền kinh tế tư bản toàn cầu. Việc bắt đầu cải cách kinh tế đã đem lại sự công nhận sớm và sáng suốt trong giới lãnh đạo cộng sản về thất bại của kế hoạch tập trung xã hội chủ nghĩa.

Một nhà nước toàn trị cho phép một khu vực tư nhân rộng lớn tồn tại thì theo định nghĩa không còn là chế độ toàn trị. Xã hội dân sự—dưới hình thức các tổ chức kinh doanh tự phát, giới doanh nhân, các xã hội phi chính thức, v.v.—tự tái tạo rất nhanh trong bầu không khí tương đối tự do vốn thịnh hành ở Trung Quốc giữa năm 1978 và cuộc đàn áp năm 1989. Giới lãnh đạo Trung Quốc tính toán rằng họ có thể đảm bảo tính chính danh của mình bằng cách giữ vai trò tác nhân của quá trình hiện đại hóa và cải cách ở Trung Quốc, thay vì bằng cách bảo thủ bảo vệ các tư tưởng chính thống Marxist.

Nhưng tính chính danh này cũng khó đạt được như trong trường hợp của Liên Xô. Hiện đại hóa kinh tế đòi hỏi xã hội Trung Quốc mở cửa với những tư tưởng và ảnh hưởng ngoại quốc; nó phân cấp quyền lực từ nhà nước sang xã hội; nó cung cấp cơ hội xóa bỏ tham nhũng và các dạng lạm dụng xã hội khác vốn khó sửa đổi trong hệ thống chính trị độc đảng; và nó tạo ra một tầng lớp ngày càng có giáo dục và có tính quốc tế, có chức năng tương đương một tầng lớp trung lưu, ở các thành phố lớn. Con cháu của chính tầng lớp này đã tổ chức các cuộc biểu tình bắt đầu ở Quảng trường Thiên An Môn vào tháng 4/1989 nhân ngày mất của Hồ Diệu Bang.[17] Những sinh viên này, một số từng học tập ở phương Tây và quen với thực tiễn dân chủ ở bên ngoài Trung Quốc, không còn hài lòng với cải cách lệch lạc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thứ cho phép tự do kinh tế đáng kể nhưng không chút tự do chính trị.

Đã có những người cho rằng các cuộc biểu tình của sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn không hẳn là biểu hiện của đòi hỏi tham gia chính trị tự phát, mà phản ánh một cuộc đấu tranh quyền lực cho vị trí của Đặng giữa Triệu Tử Dương và Lý Bằng.[18] Cũng có thể là vậy: Triệu rõ ràng đồng cảm với những sinh viên biểu tình hơn những người còn lại trong giới lãnh đạo, và ông đã tiến hành một nỗ lực tuyệt vọng để cứu mình bằng cách kêu gọi họ trước cuộc đàn áp Lục Tứ.[19] Nhưng việc các cuộc biểu tình là sản phẩm của sự thao túng chính trị từ bên trên không có nghĩa là chúng không phải biểu hiện của sự bất mãn căn bản hơn với chế độ chính trị hiện hành trong xã hội Trung Quốc. Hơn nữa, chuyển giao quyền lực là một nhược điểm của mọi chế độ muốn trở thành toàn trị. Khi không có cơ chế hiến định được chấp nhận rộng rãi cho quá trình chuyển giao quyền lực, các ứng cử viên cho vị trí lãnh đạo sex không ngừng muốn dùng lá bài cải cách như một phương tiện để đánh bại đối thủ. Nhưng dùng lá bài này gần như chắc chắn sẽ giải phóng những lực lượng và thái độ mới trong xã hội mà sau đó chúng sẽ thoát khỏi sự kiểm soát của người thao túng lá bài.

Sau những sự kiện năm 1989, Trung Quốc đã trở thành một nhà nước chuyên chế khác ở châu Á. Nó thiếu tính chính danh nội bộ đối với một nhóm lớn trong giới tinh hoa, đặc biệt là với giới trẻ, những người sẽ thừa hưởng đất nước vào một ngày nào đó, và không được dẫn dắt bằng một hệ tư tưởng thống nhất. Trung Quốc không còn là hình mẫu cho các cuộc cách mạng trên toàn thế giới như dưới thời Mao, nhất là khi so với các nước tư bản đang phát triển nhanh chóng trong khu vực.

Đến tận mùa hè năm 1989, khi cuộc khủng hoảng người tị nạn Đông Đức vừa mới bắt đầu, nhiều người ở phương Tây vẫn suy đoán rằng chủ nghĩa xã hội đã bén rễ ở Đông Đức và những nơi khác của Đông Âu, và với tự do của mình, người dân những nước này sẽ lựa chọn một sự thay thế cánh tar “có nhân tính,” không phải chủ nghĩa cộng sản, cũng không phải dân chủ tư bản chủ nghĩa. Điều này hóa ra hoàn toàn là ảo tưởng. Sự thất bại của chủ nghĩa toàn trị ở Đông Âu, nơi những thể chế của Liên Xô được áp đặt trái ý muốn lên người dân, đã đến nhanh hơn nhiều so với ở Liên Xô hay Trung Quốc. Có lẽ điều này không bất ngờ. Xã hội dân sự bị phá hủy một cách ít triệt để hơn, tùy thuộc vào mỗi quốc gia cụ thể: ví dụ, ở Ba Lan, nông nghiệp đã không bị tập thể hóa như ở Ukraina và Belorussia, và Giáo hội ít nhiều vẫn được độc lập. Bên cạnh mọi lý do mà người dân Xô viết có để bài trừ các giá trị cộng sản, sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc địa phương đã giữ gìn ký ức về xã hội tiền cộng sản, và cho phép nó tái tạo nhanh chóng sau những biến động cuối năm 1989. Khi Liên Xô tỏ ý sẽ không can thiệp để chống đỡ cho các đồng minh địa phương ở Đông Âu, kết quả đáng ngạc nhiên duy nhất là các bộ máy cộng sản ở mọi quốc gia Đông Âu đã hoàn toàn mất tinh thần, và gần như không ai trong chế độ cũ sẵn sàng giơ một ngón tay để tự vệ.

Ở châu Phi hạ Sahara, chủ nghĩa xã hội châu Phi và truyền thống hậu thuộc địa của các nhà nước độc đảng mạnh đã gần như hoàn toàn mất uy tín vào cuối những năm 1980, khi phần lớn khu vực trải qua sự sụp đổ kinh tế và nội chiến. Thảm khốc nhất là trải nghiệm của các nhà nước Marxist cứng rắn nhất như Ethiopia, Angola, và Mozambique. Các nền dân chủ hoạt động đã xuất hiện ở Botswana, Gambia, Senegal, Mauritius, và Namibia, trong khi các nhà cai trị chuyên chế đã buộc phải hứa hẹn về các cuộc bầu cử tự do trong một loạt các quốc gia châu Phi khác.

Dĩ nhiên, Trung Quốc tiếp tục bị cai trị bởi một chính phủ cộng sản, như ở Cuba, Triều Tiên, và Việt Nam. Nhưng một sự thay đổi rất lớn đã diễn ra trong nhận thức về chủ nghĩa cộng sản sau sự sụp đổ đột ngột của sáu chế độ cộng sản ở Đông Âu trong các tháng 7–12/1989. Chủ nghĩa cộng sản, từng mô tả mình như một hình thức văn minh cao hơn và tiên tiến hơn dân chủ tự do, nay gắn liền với mức độ lạc hậu cao về chính trị và kinh tế. Trong khi vẫn tồn tại trên thế giới, quyền lực cộng sản đã không còn phản ánh một tư tưởng năng động và hấp dẫn. Những người tự gọi mình là cộng sản bây giờ phải liên tục đấu tranh trước khi quá muộn để bảo vệ phần nào vị thế và quyền lực trước đây của họ. Những người cộng sản bây giờ thấy mình bị đặt vào vị trí khó khăn là phải bảo vệ một trật tự xã hội đã cũ và phản động mà thời kỳ của nó đã qua từ lâu, như những vị quân chủ còn tồn tại được trong thế kỷ XX. Mối đe dọa về ý thức hệ mà họ từng đặt ra cho nền dân chủ tự do nay đã chấm dứt, và với việc Hồng quân rút khỏi Đông Âu, phần lớn mối đe dọa quân sự cũng sẽ tiêu tan.

Trong khi những tư tưởng dân chủ đã làm suy yếu tính chính danh của các chế độ cộng sản trên toàn thế giới, chính dân chủ cũng gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng trong việc thiết lập bản thân. Những sinh viên biểu tình ở Trung Quốc đã bị Đảng và quân đội nghiền nát, và sau đó một số cải cách kinh tế trước đây của Đặng đã bị bãi bỏ. Tương lai của dân chủ không hề được bảo đảm trong 15 nước cộng hòa của Liên Xô. Bulgaria và Romania đã chứng kiến nhiều bất ổn chính trị liên tục kể từ khi các nhà cầm quyền cộng sản trước đây bị lật đổ. Chỉ có Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, và Đông Đức cũ là có vẻ sẵn sàng tiến hành một cuộc chuyển đổi sang dân chủ và kinh tế thị trường trong thập niên sau, và ngay cả trong những trường hợp này, những vấn đề kinh tế mà họ gặp phải cũng tỏ ra lớn hơn nhiều so với dự kiến trước đây.

Lập luận được đưa ra là ngay cả khi chủ nghĩa cộng sản đã chết, nó cũng nhanh chóng được thay thế bằng một thứ chủ nghĩa dân tộc bất khoan dung và hung hãn. Còn quá sớm để kỷ niệm sự ra đi của nhà nước mạnh—lập luận tiếp tục—do ở nơi nào chế độ toàn trị cộng sản không thể tồn tại, thì lại đơn giản là được thay bằng chế độ chuyên chế dân tộc chủ nghĩa, hay có lẽ thậm chí cả chủ nghĩa phát xít phiên bản Nga hay Serbia. Phần thế giới này sẽ không hòa bình hay dân chủ trong tương lai gần, và theo trường phái tư tưởng này nó sẽ trở nên nguy hiểm với các nền dân chủ hiện có của phương Tây như Liên Xô trước đây.

Nhưng chúng ta không nên ngạc nhiên nếu mọi quốc gia cộng sản cũ đều không có quá trình chuyển tiếp nhanh và trơn tru sang nền dân chủ ổn định; trên thực tế, sẽ rất ngạc nhiên nếu điều này xảy ra. Có những trở ngại rất lớn cần được khắc phục trước khi các nền dân chủ thành công có thể trỗi dậy. Ví dụ, Liên Xô cũ chỉ đơn giản là không có khả năng dân chủ hóa. Một Liên Xô đủ tự do để được coi là một nền dân chủ đích thực sẽ lập tức chia rẽ dọc theo ranh giới quốc gia và dân tộc thành một loạt nhà nước nhỏ hơn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các bộ phận riêng biệt của Liên Xô, bao gồm Liên bang Nga hay Ukraina, không thể dân chủ hóa. Nhưng đi trước dân chủ hóa phải là một quá trình ly khai quốc gia đau đớn, sẽ không được thực hiện nhanh chóng hay không đổ máu. Quá trình này bắt đầu với việc đàm phán lại Hiệp ước Liên minh trong 9 trên 15 nước cộng hòa của Liên Xô vào tháng 4/1991, và tăng tốc nhanh chóng sau cuộc đảo chính thất bại vào tháng 8.

Hơn nữa, giữa dân chủ và ít nhất là một số chủ nghĩa dân tộc mới nổi không có mâu thuẫn cố hữu. Trong khi nền dân chủ tự do ổn định rất khó có khả năng được thành lập ở Uzbekistan hay Tajikistan trong thời gian gần, không có lý do gì để cho rằng Litva hay Estonia sẽ ít tự do hơn Thụy Điển hay Phần Lan một khi được trao trả độc lập dân tộc. Cũng không phải các chủ nghĩa dân tộc mới nổi tất yếu phải bành trướng hay hung hãn. Một trong những bước phát triển đáng chú ý nhất trong cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990 là sự phát triển của chủ lưu chủ nghĩa dân tộc Nga theo hướng khái niệm “tiểu Nga,” thể hiện rõ không chỉ trong tư tưởng của các nhà tự do như Boris Yeltsin, mà còn trong giới dân tộc chủ nghĩa bảo thủ như Eduard Volodin và Viktor Astaf’yev.

Chúng ta nên cẩn thận phân biệt những tình hình chuyển tiếp với những tình hình thường trực. Trong nhiều nơi ở Liên Xô và Đông Âu, chúng ta rất có thể sẽ thấy các nhà Marxist-Leninist được thay thế bằng các nhà độc tài, dân tộc chủ nghĩa, và những viên tướng tá; thậm chí các nhà cộng sản có thể trở lại ở một số khu vực nhất định. Nhưng chế độ chuyên chế mà họ đại diện sẽ tiếp tục mang tính địa phương hóa và phi hệ thống. Như nhiều nhà độc tài quân sự ở châu Mỹ Latin, cuối cùng họ sẽ phải đối mặt với thực tế là họ không có nguồn chính danh dài hạn, và không có công thức nào tốt để giải quyết những vấn đề kinh tế và chính trị dài hạn mà họ sẽ phải đối mặt. Hệ tư tưởng thống nhất duy nhất được hưởng tính chính danh rộng rãi ở phần thế giới này sẽ vẫn là dân chủ tự do. Dù có thể không tiến hành chuyển tiếp sang dân chủ trong thế hệ này, nhiều dân tộc trong khu vực này có thể sẽ làm như vậy trong thế hệ tiếp theo. Sự chuyển đổi sang dân chủ tự do của Tây Âu cũng dài và khó khăn, một thực tế không ngăn cản mọi quốc gia trong khu vực này khỏi việc cuối cùng cũng hoàn thành cuộc hành trình.

Chế độ toàn trị cộng sản được coi là một công thức để ngăn chặn các quá trình tiến hóa xã hội tự nhiên và hữu cơ và thay thế chúng bằng một loạt các cuộc cách mạng áp đặt từ trên xuống: phá hủy các tầng lớp xã hội cũ, công nghiệp hóa nhanh chóng, và tập thể hóa nông nghiệp. Kiểu kiến thiết xã hội quy mô lớn này được cho là sẽ tách biệt các xã hội cộng sản khỏi các xã hội phi toàn trị, bởi lẽ sự thay đổi xã hội bắt nguồn từ nhà nước hơn là từ xã hội. Những quy tắc thông thường của quá trình hiện đại hóa kinh tế và chính trị, được giới khoa học xã hội cho là gần như phổ quát trong các xã hội “thông thường,” đã bị đình chỉ.[20] Những quá trình cải cách ở Liên Xô và Trung Quốc trong những năm 1980 sẽ tiết lộ những điều rất quan trọng về sự tiến hóa xã hội của loài người, ngay cả khi chúng không thành công trong tương lai gần. Bởi lẽ trong khi đã tiêu diệt được các thể chế hữu hình của xã hội Nga và Trung Quốc, chế độ toàn trị lại hoàn toàn không hiệu quả trong khát vọng tạo ra một con người mới kiểu Xô viết hay Maoist. Giống như giới tinh hoa phương Tây, giới tinh hoa nổi lên trong thời Brezhnev và Mao ở cả hai quốc gia đều nhìn về một mức độ phát triển kinh tế tương đương, xa hơn bất cứ ai từng dự đoán. Giới tinh hoa tiên tiến nhất của họ đã có thể nhận thức rõ, nếu không chính xác là đã có thể chia sẻ nền văn hóa tiêu dùng phổ thông của Tây Âu, Hoa Kỳ, và Nhật Bản, và cả nhiều tư tưởng chính trị của họ. Dù giữ lại nhiều đặc điểm “hậu toàn trị” độc nhất, người dân ở Liên Xô và Trung Quốc hóa ra không phải là những đứa trẻ rã đám, phụ thuộc, và tham quyền như những lý thuyết trước đây của phương Tây dự đoán. Thay vào đó, họ tỏ ra là những người trưởng thành, có thể nhận biết sự thật từ dối trá, cái đúng từ cái sai, và tìm kiếm, như những người trưởng thành khác trong tuổi già của nhân loại, sự công nhận đối với sự trưởng thành và tự chủ của mình. ♦

Copyright © 1992 by Francis Fukuyama | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

[1] Trong Yu. Afanaseyev, ed., Inogo ne dano (Moscow: Progress, 1989), p. 510.

[2] Định nghĩa tiêu chuẩn về chủ nghĩa toàn trị được đưa ra trong Carl J. Friedrich and Zbigniew Brzezinski, Totalitarian Dictatorship and Autocracy, second edition (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1965).

[3] Mikhail Heller, Cogs in the Wheel: The Formation of Soviet Man (New York: Knopf, 1988), p. 30.

[4] The Marquis de Custine, Journey for Our Time (New York: Pelegrini and Cudahy, 1951), p. 323.

[5] Tất cả các nước ở miền Đông Nam châu Âu này đều trải qua một quá trình phát triển tương tự kể từ năm 1989. Các bộ phận của chế độ cộng sản cũ đã thành công trong việc thể hiện lại mình như những “nhà xã hội chủ nghĩa” và giành chiến thắng đa số trong các cuộc bầu cử công bằng hợp lý, nhưng sau đó bị tấn công dữ dội khi người dân trở nên cực đoan hơn về những đòi hỏi dân chủ của họ. Áp lực này đã lật đổ chế độ Bulgaria và làm suy yếu nghiêm trọng tất cả những “người thể hiện lại” khác trừ Milošević ở Serbia.

[6] Ed Hewett, Reforming the Soviet Economy: Equality versus Efficiency (Washington, D.C.: Brookings Institution, 1988), p. 38.

[7] Anders Åslund, trích dẫn các số liệu của Selyunin và Khanin và của Abel Aganbegyan, trong Åslund, Gorbachev’s Struggle for Economic Reform (Ithaca, N.Y.: Cornell University Press, 1989), p. 15. Åslund đã chỉ ra rằng chi tiêu quốc phòng của Liên Xô tính theo tỷ lệ phần trăm GNP, theo ước tính của CIA là 15–17% sản phẩm vật chất ròng trong phần lớn thời kỳ hậu chiến, có thể nhiều hơn, khoảng 25–30%. Từ năm 1990, các phát ngôn viên của Liên Xô như Eduard Shevardnadze đã bắt đầu thường xuyên sử dụng con số 25% GNP làm tỷ lệ chi tiêu quốc phòng trong tổng thể nền kinh tế Xô viết.

[8] Ibid.

[9] Về tổng quan về các trường phái khác nhau của giới kinh tế học Xô viết, xem Åslund (1989), pp. 3–8; và Hewett (1988), pp. 274–302. Về một ví dụ điển hình của phê bình Xô viết về nền kế hoạch tập trung, xem bài viết của Gavril Popov, “Restructuring of the Economy’s Management,” in Afanaseyev (1989), pp. 621–633.

[10] Khá rõ ràng là cả Andropov và Gorbachev đều nhận thức được tầm quan trọng của suy thoái kinh tế ở một mức độ nào đó khi họ lên nắm quyền, và những nỗ lực cải cách ban đầu của cả hai nhà lãnh đạo đều được thúc đẩy bằng nhận thức rằng họ phải hành động để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế. Xem Marshall I. Goldman, Economic Reform in the Age of High Technology (New York: Norton, 1987), p. 71.

[11] Phần lớn sự thiếu hiệu quả và những căn bệnh cố hữu của nền quản lý kinh tế tập trung bộc lộ trong quá trình perestroika đã được ghi nhận trong những năm 1950 trong những cuốn sách như Factory and Manager in the USSR (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1957) của Joseph Berliner, dựa trên các cuộc phỏng vấn người di cư. Có lẽ KGB hoàn toàn có khả năng cung cấp những phân tích tương tự cho các nhà lãnh đạo Liên Xô như Andropov và Gorbachev khi họ lên nắm quyền.

[12] Gorbachev thực ra đã ca ngợi toàn bộ thành tích của Stalin vào năm 1985; đến cuối năm 1987, ông (cũng như Khrushchev) vẫn chấp nhận những hành động của Stalin trong quá trình tập thể hóa trong những năm 1930. Chỉ đến năm 1988 ông mới sẵn sàng khẳng định sự tự do hóa hạn chế được Bukharin và Lenin ủng hộ trong thời kỳ “Chính sách kinh tế mới” trong những năm 1920. Xem trích dẫn về Bukharin trong bài phát biểu của Gorbachev nhân dịp kỷ niệm 70 năm Đại cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười, ngày 07/10/1987.

[13] Trên thực tế, đã có những nhà dân tộc chủ nghĩa cánh hữu người Nga như Aleksandr Prokhanov tán thành một ý thức hệ bài dân chủ, bài tư bản tương đối có hệ thống lại là người phi Marxist. Aleksandr Solzhenitsyn cũng bị cho là có những khuynh hướng như vậy, nhưng cuối cùng ông lại là một người ủng hộ quan trọng cho dân chủ.

[14] Tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm của Jeremy Azrael rằng nhiều người phương Tây dè bỉu tin rằng người Nga không có khả năng lựa chọn dân chủ, và giới trí thức bài Nga của chính người Nga, đang nợ họ một lời xin lỗi.

[15] Đã có tranh luận từ lâu trong giới học giả nghiên cứu Liên Xô về sự thành công cuối cùng của dự án toàn trị, và liệu thuật ngữ “toàn trị” có thể được sử dụng một cách chính xác để mô tả Liên Xô hậu Stalin hay bất cứ chế độ vệ tinh cũ nào ở Đông Âu hay không. Thời gian chấm dứt thời kỳ toàn trị của Liên Xô được đưa ra trên đây được Andranik Migranyan ủng hộ trong “The Long Road to the European Home,” Novy Mir 7 (July 1989): 166–184.

[16] Václav Havel et al., The Power of the Powerless (London: Hutchinson. 1985), p. 27. Thuật ngữ này cũng được Juan Linz sử dụng để mô tả các chế độ cộng sản thời Brezhnev. Nói Liên Xô dưới thời Khrushchev và Brezhnev đã trở thành một chính phủ chuyên chế khác là không đúng. Một số nhà Xô viết học như Jerry Hough cho rằng họ đã nhận thấy sự xuất hiện của “các nhóm lợi ích” hay “chủ nghĩa đa nguyên thể chế” ở Liên Xô trong những năm 1960 hay những năm 1970. Nhưng trong khi đã có một mức độ thương lượng và thỏa hiệp tồn tại giữa, ví dụ, các bộ kinh tế khác nhau của Liên Xô, hay giữa Moskva và các tổ chức tỉnh của Đảng, sự tương tác lại diễn ra theo một bộ quy tắc rất hạn chế được chính nhà nước xác định. Xem H. Gordon Skilling and Franklyn Griffiths, eds., Interest Groups in Soviet Politics, (Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1971), và Hough (1979), pp. 518–529.

[17] Hồ Diệu Bang, cộng sự cũ của Đặng, được giới sinh viên coi là người đề xướng cải cách trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Về một biên niên ký về những sự kiện này, xem Lucian W. Pye, “Tiananmen and Chinese Political Culture,” Asian Survey 30, no. 4 (April 1990b): 331–347.

[18] Điều này được Henry Kissinger gợi ý trong “The Caricature of Deng as Tyrant Is Unfair,” Washington Post (August 1, 1989), p. A21.

[19] Ian Wilson and You Ji, “Leadership by ‘Lines’: China’s Unresolved Succession,” Problems of Communism 39, no. 1 (January–February 1990): 28–44.

[20] Quả thật, các xã hội này được xem là rất khác nhau đến nỗi chúng được nghiên cứu bằng các ngành riêng biệt như “Trung Quốc học,” “Xô viết học,” hay “Kremlin học,” không chú ý đến lĩnh vực rộng lớn về xã hội dân sự, mà chỉ chú ý đến đến chính trị, chủ quyền giả định của nó, và hơn nữa thường là chính trị của một nhóm mười hay mười hai nhân vật quyền lực.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on September 22, 2016 by in Chính trị and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,495 other followers

%d bloggers like this: