Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Louise Glück: Diễn từ Nobel văn chương 2020

Louise Glück (1943–) là nhà thơ người Mỹ. Bà được trao giải Pulitzer cho thơ năm 1993, giải văn chương Lannan cho thơ năm 1999, giải Bollingen năm 2001, giải Sách Quốc gia Mỹ cho thơ năm 2014, và giải Nobel văn chương năm 2020. Bà được bổ nhiệm làm Poet Laureate của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2003–2004, và được trao Huân chương Nhân văn Quốc gia năm 2015.

Nhà thơ và người đọc

Hồi còn nhỏ, khoảng năm sáu tuổi, tôi nghĩ, tôi tổ chức một cuộc thi trong đầu, một cuộc đấu xác định bài thơ vĩ đại nhất thế giới. Có hai tác phẩm chung cuộc: “The Little Black Boy” của Blake và “Swanee River” của Stephen Foster. Tôi đi đi lại lại trong phòng ngủ phụ ở nhà bà tôi ở Cedarhurst, một ngôi làng ở bờ nam Long Island, nhẩm, trong đầu chứ không thành tiếng như tôi thích, bài thơ không thể quên của Blake, và hát, cũng trong đầu, khúc hát ám ảnh, hoang vắng của Foster. Làm sao tôi đọc Blake là một bí ẩn. Tôi nghĩ có vài tập thơ ở nhà bố mẹ giữa các cuốn sách phổ biến hơn về chính trị và lịch sử và nhiều cuốn tiểu thuyết. Nhưng tôi gắn Blake với nhà bà tôi. Bà không phải là một người sách vở. Nhưng có Blake, The Songs of Innocence and of Experience, và cả một cuốn sách nhỏ gồm các khúc hát trong kịch Shakespeare, nhiều bài tôi đã thuộc lòng. Tôi đặc biệt thích khúc hát trong vở Cymbeline, có lẽ chẳng hiểu lấy một từ nhưng nghe giai điệu, nhịp, những mệnh lệnh reo vang, rất xúc động đối với một đứa trẻ nhút nhát, sợ hãi. “And renownèd be thy grave.” [Và mộ người sẽ được nổi tiếng.] Tôi đã hy vọng thế.

Những cuộc thi kiểu này, vì danh dự, vì sự tôn kính, có vẻ là điều tự nhiên đối với tôi; những huyền thoại, những thứ đầu tiên tôi đọc, cũng đầy những cuộc thi ấy. Bài thơ vĩ đại nhất thế giới đối với tôi, ngay cả khi tôi còn rất trẻ, dường như là vinh dự cao quý nhất. Đây cũng là cách mà tôi và em gái tôi được nuôi dạy, để cứu nước Pháp (Joan of Arc), để khám phá ra radium (Marie Curie). Sau này tôi bắt đầu hiểu những nguy hiểm và hạn chế của tư duy thứ bậc, nhưng hồi còn thơ việc trao giải là một việc quan trọng. Một người sẽ đứng ở trên đỉnh núi, có thể thấy từ xa, điều duy nhất đáng chú ý trên núi. Người nào thấp hơn một chút thì vô hình.

Hoặc, trong trường hợp này, là bài thơ. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng đặc biệt là Blake bằng cách nào đó đã biết về cuộc thi này, quan tâm đến kết quả của nó. Tôi hiểu ông đã chết, nhưng tôi cảm thấy ông vẫn còn sống, bởi vì tôi có thể nghe thấy giọng ông nói với tôi, được ngụy trang, nhưng là giọng ông. Nói, tôi cảm thấy, chỉ với tôi hay đặc biệt là với tôi. Tôi cảm thấy được chọn ra, được hưởng đặc ân; tôi cũng cảm thấy Blake là người mà tôi khao khát được nói chuyện cùng, bên cạnh Shakespeare, người mà tôi vốn đã nói chuyện.

Blake là người chiến thắng cuộc thi. Nhưng sau này tôi nhận ra hai bài thơ trữ tình này giống nhau thế nào; khi ấy cũng như bây giờ, tôi bị cuốn vào giọng nói đơn độc của con người, cất lên trong sự than thở hoặc khao khát. Và các nhà thơ mà tôi trở lại khi tôi lớn lên là các nhà thơ mà trong tác phẩm của họ tôi đóng, với tư cách là người nghe được chọn, một vai trò quan trọng. Thân mật, quyến rũ, thường ngấm ngầm hay kín kẽ. Không phải các nhà thơ sân vận động. Không phải các nhà thơ nói chuyện với chính họ.

Tôi thích hiệp ước này, tôi thích cái cảm giác rằng những gì bài thơ nói là thiết yếu và cũng riêng tư, thông điệp mà vị linh mục hay nhà phân tích nhận được.

Lễ trao giải trong phòng ngủ phụ nhà bà tôi dường như, nhờ sự bí mật của nó, là một sự mở rộng mối quan hệ mãnh liệt mà bài thơ tạo ra: một sự mở rộng, không phải một sự vi phạm.

Blake đã nói với tôi qua cậu bé da đen nhỏ; ông là nguồn ẩn của giọng nói ấy. Ông không thể bị nhìn thấy, cũng như cậu bé da đen không bị nhìn thấy, hay bị nhìn một cách không chính xác, bởi cậu bé da trắng thiếu nhạy cảm và khinh người. Nhưng tôi biết cái ông nói là đúng, rằng tấm thân phàm trần của ông chứa một linh hồn thuần khiết rực rỡ; tôi biết bởi vì cái mà cậu bé da đen nói, lời kể của nó về cảm xúc và kinh nghiệm của nó, không có sự trách móc, không ước muốn trả thù, mà chỉ có niềm tin rằng, trong thế giới hoàn hảo sau khi chết mà nó được hứa hẹn, nó sẽ được công nhận vì con người nó, và trong niềm vui sướng chói lọi, bảo vệ đứa trẻ da trắng mỏng manh hơn trước ánh sáng chói lọi đột ngột. Việc đây không phải là một hy vọng thực tế, việc nó bỏ qua thực tế, khiến bài thơ thật đau xót và cũng mang tính chính trị sâu sắc. Sự tổn thương và nỗi giận chính đáng mà cậu bé da đen không thể cho phép mình cảm nhận, mà mẹ cậu cố gắng che chắn cho cậu, người đọc hay người nghe cũng cảm thấy. Ngay cả khi người đọc là một đứa trẻ.

Nhưng vinh dự trước công chúng lại là chuyện khác.

*

Những bài thơ mà tôi, cả đời, cảm thấy thu hút mãnh liệt nhất là những bài thơ thuộc kiểu tôi đã mô tả, những bài thơ của sự chọn lựa hay cấu kết thân mật, những bài thơ mà người nghe hay người đọc góp phần thiết yếu, với tư cách là người nhận một tâm sự hay một tiếng than, đôi khi với tư cách đồng phạm. “I’m nobody!” Dickinson nói. “Are you nobody, too?/ Then there’s a pair of us—don’t tell!” Hay Eliot: “Let us go then, you and I,/ When the evening is spread out against the sky/ Like a patient etherized upon a table…” Eliot đang không triệu tập một đội hướng đạo sinh. Ông đang đòi hỏi điều gì đó từ độc giả. Trái ngược với, ví dụ, câu “Shall I compare thee to a summer’s day?” của Shakespeare: Shakespeare không so sánh tôi với một ngày mùa hạ. Tôi được phép nghe lỏm kỹ nghệ chói lọi, nhưng bài thơ không yêu cầu sự hiện diện của tôi.

Trong nghệ thuật thuộc kiểu mà tôi thấy thu hút, giọng nói hay sự phán xét của tập thể là nguy hiểm. Sự bấp bênh của lời nói thân mật làm gia tăng sức mạnh của nó và sức mạnh của người đọc, người mà thông qua tác năng của họ giọng nói được khuyến khích trong lời cầu khẩn hay lời tâm sự bức bách của nó.

Chuyện gì sẽ xảy ra với một nhà thơ kiểu này khi tập thể, thay vì ra vẻ đày ải hoặc phớt lờ họ, lại hoan nghênh và đề cao? Tôi sẽ nói một nhà thơ như vậy sẽ cảm thấy bị đe dọa, bị chèn ép.

Đây là chủ đề của Dickinson. Không phải luôn luôn, nhưng thường xuyên.

Tôi đọc Emily Dickinson say sưa nhất là hồi thiếu niên. Thường là lúc đêm muộn, sau giờ đi ngủ, trên sofa phòng khách.

I’m nobody! Who are you?
Are you nobody, too?

Và, trong bản tôi đọc khi ấy và thấy thích hơn:

Then there’s a pair of us—don’t tell!
They’d banish us, you know…

Dickinson đã chọn tôi, hay nhận ra tôi, khi tôi ngồi đó trên sofa. Chúng tôi là một nhóm elite, những người bạn đồng hành trong sự tàng hình, một sự thật chỉ chúng tôi mới biết, mà mỗi bên lại chứng thực cho bên kia. Đối với thế giới, chúng tôi chẳng là ai.

Nhưng điều gì sẽ tạo nên sự đày ải đối với những người tồn tại như chúng tôi, ở nơi an toàn của mình dưới khúc gỗ? Sự đày ải là khi khúc gỗ bị nhấc đi.

Ở đây tôi đang không nói về ảnh hưởng độc của Emily Dickinson lên các cô gái tuổi teen. Tôi đang nói về một tính cách không tin vào cuộc sống công cộng hoặc coi đó là cõi mà sự khái quát làm lu mờ sự chính xác, và sự thật một phần thay thế sự bộc lộ thẳng thắn và xúc động. Một cách minh họa: giả sử giọng kẻ chủ mưu, giọng Dickinson, bị thay bằng giọng của vị quan tòa. “Chúng tôi chẳng là ai cả, bạn là ai?” Thông điệp ấy đột nhiên trở nên nham hiểm.

Cảm thấy kiểu hoảng loạn mà tôi vừa mô tả vào buổi sáng hôm 8 tháng 10 là một bất ngờ đối với tôi. Ánh đèn quá sáng. Quy mô quá lớn.

Những người trong chúng ta viết sách có lẽ muốn chạm đến nhiều người. Nhưng một số nhà thơ không nhìn sự chạm đến nhiều người về mặt không gian, như trong các khán phòng chật kín. Họ nhìn sự chạm đến nhiều người theo thời gian, theo tuần tự, nhiều người theo thời gian, vào tương lai, nhưng theo một cách sâu xa nào đó các độc giả ấy luôn luôn đến từng người.

Tôi tin rằng trao cho tôi giải thưởng này, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã chọn tôn vinh giọng nói thân mật, riêng tư, mà lời nói công chúng đôi khi có thể tăng thêm hoặc mở rộng, nhưng không bao giờ có thể thay thế.

Louise Glück, “The Poet and the Reader: Nobel Lecture 2020,” The New York Review of Books (January 14, 2021 Issue).

Copyright © 2020 by Louise Glück | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on December 8, 2020 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: