Pablo Neruda (1904–1973) là nhà thơ người Chilê. Ông được trao giải Nobel văn chương năm 1971 cho “một thứ thơ […] đã làm sống lại định mệnh và những ước mơ của một châu lục.”
Thế kỷ của những kẻ lưu đày,
cuốn sách của những kẻ lưu đày,
thế kỷ xám xịt, cuốn sách đen,
đây là cái tôi nên để lại
đã viết và mở ra trong cuốn sách,
đào nó lên khỏi thế kỷ
và in máu vào trong cuốn sách.
Bởi vì tôi đã sống trong bụi rậm
của những kẻ lạc trong rừng:
trong khu rừng của sự trừng phạt.
Tôi đã đếm những bàn tay bị chặt
và những ngọn núi của tro tàn
và những tiếng nức nở tách rời
và cặp kính không mắt
và mái tóc không đầu.
Rồi tôi đã tìm khắp thế giới
những kẻ đã mất đi quê hương
mang đến những nơi tôi mang
những lá cờ nhỏ bị đánh bại của họ
hay những ngôi sao Gia-cốp
hay những bức ảnh khốn khổ của họ.
Chính tôi đã biết sự lưu đày.
Song tôi, sinh ra là kẻ lữ hành
tôi đã trở lại tay trắng
với vùng biển này biết rõ tôi,
song vẫn còn những người khác,
những người vẫn còn ly tán,
những người vẫn bỏ lại phía sau
những tình yêu và lỗi lầm của họ
nghĩ rằng biết đâu biết đâu
nhưng biết rằng không bao giờ
và vì thế tôi đã phải thổn thức
tiếng thổn thức đầy bụi
của những người mất chỗ trên đất
và ăn mừng cùng anh em tôi
(những người đã ở lại)
những công trình chiến thắng,
vụ thu hoạch bánh mì mới.
Pablo Neruda, “Tristísimo siglo,” Fin del mundo (Editorial Losada, 1969).
Nguyễn Huy Hoàng dịch.