Paul Celan (1920–1970) là nhà thơ, dịch giả người Rumani. Viết chủ yếu bằng tiếng Đức, ông trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất thời hậu Thế chiến thứ II của ngôn ngữ này.
Con mắt, tối:
như cửa sổ lều. Nó gom
cái đã là thế giới, vẫn là thế giới: phương
Đông-lang-thang, những
kẻ trôi, những
con-người-và-người-Do-Thái,
dân tộc của những đám mây, từ tính
nó kéo, bằng các ngón-tay-tim,
mi, Trái đất:
mi đến, mi đến,
chúng ta sẽ sống, sống, cái gì đó
– một hơi thở? một cái tên? –
đi trên đất mồ côi,
như khiêu vũ, thô vụng,
chiếc cánh
thiên thần, nặng những thứ vô hình, trên
bàn chân chà đau, tỉa nặng-
đầu
bởi trận mưa-đá-đen
cũng rơi ở đó, ở Vitebsk
– và những người đã gieo nó, họ
viết nó đi
bằng vuốt-súng-chống-tăng bắt chước! –,
đi, đi quanh,
tìm,
tìm dưới,
tìm trên, xa, tìm
bằng con mắt, lấy
Alpha Centauri xuống, Arcturus, lấy
cả tia sáng, từ những mộ,
đi đến ghetto và Eden, hái
chòm sao mà anh ta,
con người, cần để sống, ở đây,
giữa những con người,
bước
duyệt các chữ cái và tâm hồn tất tử-
bất tử của các chữ cái,
đi đến Aleph và Yod và đi xa hơn,
dựng nó, tấm khiên David, để nó
bừng lên, một lần,
để nó tắt – ở đó nó đứng,
vô hình, đứng
cạnh Alpha và Aleph, cạnh Yod,
cạnh các chữ cái khác, cạnh
tất cả: trong
mi,
Beth, – ấy là
ngôi nhà, nơi chiếc bàn đứng với
ánh sáng và ánh sáng.
Paul Celan, “Hüttenfenster,” Die Niemandsrose (S. Fischer Verlag, 1963).
Nguyễn Huy Hoàng dịch.