Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Vấn đề của việc giảng dạy luật xâm hại tình dục


rape law.jpg

Nguồn: Jeannie Suk, “The Trouble with Teaching Rape Law,” The New Yorker, Dec. 15, 2014.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Thử tưởng tượng một sinh viên y khoa được đào tạo để trở thành bác sĩ phẫu thuật nhưng anh ta lại sợ mình sẽ căng thẳng khi thấy hay xử lý máu. Giảng viên của anh ta nên làm gì? Giảng viên luật hình sự cũng đang phải đối mặt với vấn đề tương tự với những sinh viên luật sợ phải học luật xâm hại tình dục.

Ba mươi năm trước, sự miễn cưỡng của họ là không thành vấn đề. Cho đến giữa những năm 1980, luật xâm hại tình dục vẫn chưa được giảng dạy tại các trường luật bởi nó bị cho là không quan trọng hoặc không phù hợp với phương pháp sư phạm hợp lý tại các lớp học của trường luật. Nạn nhân của tội phạm xâm hại tình dục mà đa phần là phụ nữ thường được xem là nhân chứng bị cảm xúc chi phối, khiến việc xác định những gì thực sự đã xảy ra trong vụ chạm trán riêng tư [tức vụ án] trở nên khó khăn. Thái độ hoài nghi hướng tới nạn nhân này được phản ánh trong pháp luật truyền thống về tội phạm xâm hại tình dục, nó yêu cầu người phụ nữ phải “chống cự tối đa” sức mạnh vật lý [mà kẻ xâm hại tình dục] sử dụng để ép buộc cô ta quan hệ tình dục. Các tòa án thường yêu cầu điều tra lịch sử tình dục của phụ nữ bởi có quan niệm cho rằng một người phụ nữ không còn trinh tiết là đồng lõa trong bất kỳ lần quan hệ tình dục nào diễn ra. Những cải cách nữ quyền mạnh mẽ đã tấn công sự phân biệt giới tính trong luật xâm hại tình dục, và cuối cùng chủ đề này đã trở thành một phần quan trọng trong các khóa học luật hình sự bắt buộc của đa số các trường luật. Ngày nay, không ai có thể nghi ngờ tầm quan trọng của nó đối với pháp luật và xã hội.

Nhưng kinh nghiệm của tôi tại Harvard trong vài năm trở lại đây cho thấy môi trường giảng dạy luật xâm hại tình dục và các môn học khác có liên quan đến giới tính và bạo lực đang thay đổi. Sinh viên có vẻ lo lắng nhiều hơn về thảo luận trên lớp và cụ thể là về cách tiếp cận pháp luật về bạo lực tình dục so với trước đây trong tám năm tôi giảng dạy luật. Các tổ chức sinh viên đại diện cho quyền lợi của phụ nữ hiện nay thường xuyên tư vấn cho sinh viên rằng họ không nên cảm thấy áp lực phải có mặt hay tham dự các buổi lên lớp tập trung vào pháp luật về bạo lực tình dục mà từ đó có thể bị tổn thương. Những tổ chức này cũng đề nghị các giảng viên luật hình sự cảnh báo sinh viên của họ rằng những bài học về luật xâm hại tình dục có thể “gợi lên” những ý ức đau buồn. Các sinh viên nói riêng cũng thường xuyên đề nghị giảng viên của họ không đưa pháp luật về tội phạm xâm hại tình dục vào trong các bài kiểm tra vì sợ rằng chúng sẽ khiến họ làm bài kém hiệu quả hơn. Một sinh viên gần đây còn thường xuyên đề nghị một giảng viên mà tôi biết không sử dụng từ “vi phạm” trong lớp học – chẳng hạn như “Hành vi này có vi phạm pháp luật không?” – bởi từ đó gợi lại những ký ức đau buồn. Một số sinh viên thậm chí còn gợi ý rằng không nên giảng dạy luật xâm hại tình dục bởi nó có thể gây căng thẳng.

Khi giảng dạy luật xâm hại tình dục, tôi không dừng lại ở những trường hợp mà tất cả mọi người đều đồng ý bị cáo là có tội. Thay vào đó, tôi tập trung vào những trường hợp kiểm tra giới hạn [hay định hình phạm vi] của các quy tắc, và những trường hợp rơi vào gần đường thay đổi đột ngột phân biệt hành vi phạm tội với tình dục hợp pháp. Các trường hợp này bao gồm những người đã quen biết nhau từ trước, thậm chí những người có thể đã từng có quan hệ tình dục trước đó. Chúng bao gồm những tình huống mà trong đó ý nghĩa của từng hành động, dấu hiệu, và mong muốn của mỗi bên đều có thể là mơ hồ với bên còn lại, hoặc bị một hoặc cả hai bên hiểu nhầm. Chúng tôi hỏi những câu hỏi như: [Nạn nhân] truyền đạt sự đồng thuận hoặc không đồng thuận [quan hệ tình dục] như thế nào? Liệu việc bị cáo nhận ra nguyên đơn cảm thấy bị ép buộc có quan trọng hay không? Thông tin nào về bị cáo và nguyên đơn liên quan đến việc nên hay không nên tin tưởng họ? Sự bất bình đẳng xã hội cho biết làm thế nào chúng ta đánh giá một vụ việc có phải tội phạm hay không ra sao? Tôi thường cho sinh viên đóng vai trò tranh cãi cho một bên – bên bào chữa hoặc bên truy tố – với những gì họ có thể không đồng tình.

Những chiến thuật sư phạm này được phổ biến đến hầu hết các chủ đề và lớp học ở trường luật. Nhưng việc đề nghị sinh viên thách thức lẫn nhau trong các cuộc thảo luận về luật xâm hại tình dục đã trở nên quá khó khăn đến nỗi các giảng viên đang bắt đầu từ bỏ đề tài này. Khoảng một tá giảng viên luật hình sự mới ở nhiều học viện khác nhau đã nói với tôi rằng họ chưa bao giờ đưa luật xâm hại tình dục vào khóa học của họ, cho rằng nó không đáng để đổi lại những khiếu nại về sự khó chịu của sinh viên. Ngay cả những giảng viên luật hình sự dày dạn ở nhiều trường luật trên khắp cả nước cũng tâm sự rằng họ đang nghiêm túc xem xét việc bỏ luật xâm hại tình dục và những chủ đề khác liên quan đến tình dục và bạo lực giới. Cả giảng viên nam và nữ đều lo ngại những cuộc thảo luận bởi họ sợ sẽ làm tổn thương người khác hoặc chính mình bị tổn thương. Điều gì đã khiến hết thảy mọi người đều lo lắng về việc thảo luận về luật xâm hại tình dục trong lớp học?

Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, những nhà cải cách nữ quyền đã xây dựng ý tưởng cho rằng sự đối xử thiếu tôn trọng đối với người tố cáo hiếp dâm trong tố tụng hình sự, bao gồm cả sự thẩm tra đồng nghĩa với việc chứng tỏ nguyên đơn là chung chạ, đã biến phòng xử án thành hiện trường của “vụ hiếp dâm thứ hai.” Theo cuốn sách nhiều ảnh hưởng mang tựa đề đó của hai nhà tâm lý học Lee Madigan và Nancy Gamble xuất bản năm 1991, đặc trưng của “vụ hiếp dâm thứ hai” là “tàn khốc và cướp đoạt nhiều hơn vụ thứ nhất.” Pháp luật về chứng cứ đã được cải cách để hạn chế thẩm tra danh tiếng và lịch sử tình dục của người tố cáo hiếp dâm. Không tin tưởng tường trình của nguyên đơn, đặt câu hỏi về vai trò của cô ta trong quan hệ tình dục, và không chứng minh đòi hỏi của cô ta đều có thể được coi là sự tái nạn nhân hóa (re-victimisations) tiềm tàng. [Tức là những hành động này của tòa án có thể biến nạn nhân một lần nữa trở thành nạn nhân trong “vụ hiếp dâm thứ hai.”] Ở các trường đại học, hiện nay quan điểm cho rằng nguyên đơn không cần thiết phải gặp lại bị cáo bởi điều đó sẽ gây thêm tổn thương [cho nạn nhân] là rất phổ biến.

Một điều tương tự khái niệm “vụ hiếp dâm thứ hai” có thể đang ảnh hưởng tới cách chúng ta suy nghĩ về những lớp học. Lần đầu tiên tôi gặp phải điều này là hơn một năm trước, khi tôi chiếu bộ phim tài liệu được đánh giá cao về một vụ điều tra xâm hại tình dục hình sự có tên “Capturing the Friedmans” [Bắt giữ hai bố con nhà Friedman] cho những sinh viên luật của tôi xem. Một số sinh viên than phiền rằng tôi nên đưa ra “cảnh báo nhạy cảm” trước đó; những người khác cho rằng tôi không nên chiếu bộ phim này. Đối với ít nhất một số sinh viên, lớp học đã trở thành một môi trường tiềm ẩn khả năng gây tổn thương, và các em bắt đầu lường trước những chấn thương tình cảm mà các em có thể phải chịu đựng hoặc gây ra trong những cuộc tranh luận trên lớp. Các em cũng có xu hướng nhấn mạnh rằng giảng viên phải bảo vệ các em khỏi việc gây ra hoặc chịu đựng cảm giác khó chịu – và các giảng viên, đến lượt mình, sẵn sàng buộc mình hành động như vậy hơn bởi việc không thừa nhận chấn thương hoặc khả năng bị chấn thương của sinh viên được xem là có hại cho họ.

Hiện nay chúng ta đang ở giữa một nỗ lực quốc gia nhằm cải cách hướng giải quyết bạo lực tình dục trong khuôn viên đại học. Nỗ lực này là đặc biệt quan trọng do tỉ lệ bạo hành tình dục giữa sinh viên là rõ rệt. Nhưng những biện pháp được thực hiện nhằm bảo vệ nạn nhân chưa chắc đã luôn phục vụ cho lợi ích tối đa của họ. Tại Harvard, 28 giáo sư Luật, trong đó có tôi, công khai phản đối một chính sách mới về quấy rối tình dục bởi trong nỗ lực bảo vệ các nạn nhân, trường đại học hiện nay cung cấp một quá trình tố tụng không công bằng đối với các bị cáo. Sự bất công này là một đòn đau đối với nguyên nhân của bạo lực tình dục và sự bồi thường của nó. Tương tự, khi Rolling Stone công bố báo cáo về một vụ hiếp dâm tập thể ở Đại học Virginia mà không tìm ra những người bị cáo buộc và khiến câu chuyện đi lệch hướng, nó đã gây thiệt hại cho uy tín của những nạn nhân bị xâm hại tình dục ở ngôi trường này và cả những nơi khác. Những sự kiện này thật không may lại phù hợp với chủ nghĩa biệt lệ về hiếp dâm (rape exceptionalism) đang ngày một gia tăng, thứ cho phép nỗi sợ gây hoặc tái gây chấn thương biện minh cho quá trình tố tụng thông thường và thủ tục tìm kiếm sự thật nói trên.

Hơn bao giờ hết, việc sinh viên luật phát triển khả năng tham gia phân tích hiệu quả trong những cuộc tranh luận về xâm hại tình dục là điều tối quan trọng. Cho dù, thay vào đó, nhiều sinh viên và giảng viên dường như đang hấp thu một tín hiệu văn hóa cho rằng tiến hành các cuộc thảo luận thực sự và đầy thách thức về lệch lạc tính dục là quá rủi ro, và rằng rủi ro này cũng có những chấn thương tương tự như chính vụ xâm hại tình dục. Nói một cách khiêm tốn nhất thì điều này là tác dụng phụ tai ác ngoài ý muốn của việc công chúng đặc biệt chú ý đến bạo lực tình dục trong những năm gần đây. Nếu chủ đề về xâm hại tình dục rời khỏi lớp học của trường luật, đó sẽ là một mất mát lớn, trên tất cả là đối với những nạn nhân bị xâm hại tình dục.

Jeannie C. Suk là giáo sư tại Trường Luật Đại học Harvard.

Bản dịch © 2014 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on December 15, 2014 by in Pháp lý and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,648 other followers

%d bloggers like this: