Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Scheherazade” – Haruki Murakami


Truyện ngắn này được in trong tập 女のいない男たち (Những người đàn ông không có đàn bà), xuất bản tại Nhật Bản tháng 4 năm 2014. Nguyễn Huy Hoàng dịch từ bản tiếng Anh, do Ted Goossen dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, đăng trên The New Yorker số 13 tháng 10, 2014.

141013_r25575-877

Scheherazade

Sau mỗi lần ân ái, cô đều kể Habara nghe một câu chuyện lạ kỳ và thú vị. Như Nữ hoàng Scheherazade trong Nghìn lẻ một đêm. Dẫu dĩ nhiên, Habara, không giống nhà vua, chẳng có ý định chặt đầu cô vào buổi sáng hôm sau. (Dù sao cô cũng chưa bao giờ ở lại với anh đến sáng.) Cô kể Habara nghe những câu chuyện là bởi cô muốn thế, bởi, anh đoán, cô thích cuộn mình trên giường và nói chuyện với người đàn ông của cô trong những giây phút thư thái, thân mật sau khi làm tình. Và cũng có thể, bởi cô muốn an ủi Habara, anh phải tự nhốt mình suốt ngày trong nhà.

Bởi vậy mà Habara đặt cho cô cái tên Scheherazade. Anh không bao giờ gọi thế trước mặt cô, nhưng đó là cách anh nhắc tới cô trong cuốn nhật ký nhỏ anh viết. “Hôm nay Scheherazade đến,” anh sẽ ghi như thế bằng chiếc bút bi. Rồi anh sẽ ghi lại những ý chính trong câu chuyện của ngày hôm đó thật đơn giản, những từ ngữ khó hiểu chắc chắn sẽ làm rối trí bất cứ ai có đọc cuốn nhật ký sau này.

Habara không biết liệu những câu chuyện cô kể là thật, là bịa, hay một phần là thật và một phần là bịa. Anh không cách nào biết được. Thực tế và giả định, nhận xét và thuần túy tưởng tượng dường như trộn lẫn với nhau trong những chuyện kể của cô. Bởi thế Habara có thể thưởng thức chúng như một đứa trẻ, mà không cần thắc mắc quá nhiều. Nói cho cùng, dù chúng là thật hay giả, hay là một sự chắp vá phức tạp của cả hai thì cũng có khác gì với anh?

Thế nào đi nữa, Scheherazade cũng rất có khiếu trong việc kể lại những câu chuyện cảm động. Bất kể câu chuyện thuộc thể loại gì, cô cũng đều khiến nó trở nên đặc biệt. Giọng nói, cách nhấn nhá, cách ngắt nhịp của cô đều hoàn hảo. Cô thu hút được sự chú ý của người nghe, kích thích anh, khiến anh phải suy ngẫm và xét đoán, rồi cuối cùng, trao cho anh đúng thứ anh đang tìm kiếm. Say mê, Habara có thể quên thực tại xung quanh anh, dẫu chỉ trong phút chốc. Như tấm bảng đen được lau bằng miếng khăn ẩm, những phiền muộn, những ký ức khó chịu được xóa đi trong anh. Ai còn cần gì hơn thế? Tại thời điểm này trong cuộc sống của anh, kiểu lãng quên như vậy là thứ Habara mong mỏi hơn bất cứ điều gì khác.

Scheherazade 35, hơn Habara bốn tuổi, làm nội trợ toàn thời gian và có hai đứa con đang học tiểu học (dẫu cô có bằng y tá và hình như thỉnh thoảng cũng được gọi đi làm). Chồng cô là một người đàn ông công sở điển hình. Nhà của họ cách nhà Habara hai mươi phút lái xe. Đó là tất cả (hoặc gần như tất cả) những gì cô tự chia sẻ. Habara không có cách gì kiểm chứng được bất cứ thông tin nào trong đó, nhưng anh cũng chẳng nghĩ được lý do gì cụ thể để nghi ngờ cô. Cô chưa bao giờ tiết lộ tên cô. “Cậu đâu cần phải biết, đúng không?” Scheherazade từng hỏi như thế. Cô cũng chưa bao giờ gọi Habara bằng tên anh, dù dĩ nhiên cô biết. Cô thận trọng tránh cái tên, như thể bằng cách nào đó sẽ là bất hạnh hoặc không phù hợp nếu cô bật nó khỏi môi.

Chí ít là nhìn bề ngoài, nàng Scheherazade này không có điểm nào chung với nữ hoàng xinh đẹp trong Nghìn lẻ một đêm. Cô đang trên đà tới tuổi trung niên và đã đang dần chảy nhão, với đôi má xệ và và những nếp nhăn chăng đầy hai bên khóe mắt. Kiểu tóc, cách trang điểm và cách ăn mặc của cô không hẳn là cẩu thả, nhưng cũng không chắc là có thể nhận được bất cứ lời khen ngợi nào. Nét mặt cô không phải là không cuốn hút nhưng gương mặt lại thiếu nổi bật, thế nên ấn tượng cô để lại khá mờ nhạt. Thành ra những người bước ngang qua cô trên phố hay đi cùng thang máy có lẽ sẽ ít chú ý tới cô. Mười năm trước, có thể cô cũng là một phụ nữ trẻ tươi tắn và hấp dẫn, có khi còn khiến một số phải ngoái đầu. Thế nhưng một lúc nào đó, tấm rèm đã buông phủ quãng cuộc đời đó của cô và có vẻ sẽ không thể kéo lên được nữa.

Scheherazade đến gặp Habara hai lần mỗi tuần. Thứ ngày thì không cố định, nhưng cô chưa bao giờ đến vào cuối tuần. Chắc hẳn cô dành thời gian đó cho gia đình mình. Cô luôn gọi một giờ trước khi đến. Cô mua hàng tạp phẩm tại siêu thị địa phương và mang chúng đến cho anh bằng xe của cô, một chiếc Mazda hatchback màu xanh dương. Mẫu xe cũ, có một vết lõm ở ba-đờ-sốc và bánh xe đen kịt vì bụi bẩn. Đỗ xe ở bãi đất trống của ngôi nhà, cô xách những túi đồ đến cửa trước và nhấn chuông. Sau khi kiểm tra qua lỗ mắt mèo, Habara mở cửa, tháo xích, và để cô vào. Trong bếp, cô phân loại các đồ tạp phẩm và xếp chúng vào tủ lạnh. Tiếp đó cô lên danh sách những thứ cần mua sắm trong chuyến thăm lần sau. Cô làm tất cả những việc này một cách khéo léo với tối thiểu cử động thừa và nói rất ít suốt từ đầu đến cuối.

Khi cô xong, hai người lặng lẽ đi vào phòng ngủ, như thể bị kéo vào bởi một dòng chảy vô hình. Scheherazade nhanh chóng cởi bỏ quần áo và, vẫn lặng lẽ, hòa cùng Habara trên giường. Cô cũng hầu như chẳng nói gì trong suốt cuộc ái ân của họ, thực hiện từng hành động như thể đang hoàn thành một nhiệm vụ. Khi đến ngày, cô dùng tay để hoàn thành một kết thúc tương tự. Điệu bộ khéo léo, đúng hơn là thạo nghề của cô nhắc Habara nhớ rằng cô có bằng y tá.

Làm tình xong, họ nằm trên giường trò chuyện. Đúng hơn là cô nói còn anh nghe, thêm một từ thích hợp chỗ này, hỏi một câu ngẫu nhiên chỗ kia. Khi đồng hồ điểm bốn giờ ba mươi, cô ngắt đoạn câu chuyện của mình (thế nào đó mà lúc nào câu chuyện cũng có vẻ vừa mới đạt đến cao trào), nhảy ra khỏi giường, thu xếp quần áo và sẵn sàng ra về. Cô nói cô phải về nhà để chuẩn bị bữa tối.

Habara theo cô ra tới cửa, móc lại xích, dõi theo chiếc xe nhỏ màu xanh cáu bẩn rời đi qua tấm rèm. Sáu giờ, anh nấu bữa tối đơn giản và ăn một mình. Anh từng làm đầu bếp, thế nên nấu ăn chẳng phải khó khăn gì to lớn lắm. Anh uống Perrier trong bữa tối (không bao giờ anh đụng tới cồn), sau đó nhấm nháp một cốc cà phê trong khi xem DVD hoặc đọc sách. Anh thích những cuốn sách dài, nhất là những cuốn anh phải đọc lại mấy lần mới hiểu. Chẳng có nhiều việc khác để làm. Anh không có ai để nói chuyện. Không ai để gọi. Không có máy tính, anh không tài nào truy cập được Internet. Không đặt báo, anh cũng chẳng xem truyền hình. (Có một lý do chính đáng cho điều đó.) Hiển nhiên anh chẳng thể ra ngoài. Nếu sao đó mà những chuyến thăm của Scheherazade không còn, anh sẽ bị bỏ lại một mình.

Habara không quá quan tâm tới viễn cảnh này. Nếu thế thật thì, anh nghĩ, sẽ khó khăn đấy, nhưng mình sẽ lê lết qua bằng cách này cách khác. Mình đâu có bị mắc kẹt trên một hòn đảo hoang vu. Không, anh nghĩ, mình chính là hòn đảo hoang vu. Anh vẫn luôn thoải mái khi ở một mình. Dù thế, thứ khiến anh buồn phiền lại là suy nghĩ về việc sẽ không thể trò truyện trên giường với Scheherazade. Hay đúng hơn là việc bỏ lỡ đoạn truyện tiếp theo của cô.

***

“Kiếp trước tôi là cá mút đá,” Scheherazade có lần nói như thế khi họ đang nằm trên giường cùng nhau. Đó là một nhận xét thẳng thắn, đơn giản, tự nhiên như thể cô tuyên bố Bắc Cực là ở cực bắc. Habara còn chẳng biết cá mút đá là thứ sinh vật gì, chưa nói đến việc nó trông ra sao. Thế nên anh chẳng ý kiến gì.

“Cậu có biết cá mút đá ăn thịt cá hồi thế nào không?” cô hỏi.

Anh không biết. Mà thực ra đấy là lần đầu tiên anh biết cá mút đá ăn cá hồi.

“Cá mút đá không có hàm. Thế nên nó không cùng họ với những loài lươn khác.”

“Hứ? Lươn có hàm?”

“Cậu chưa bao giờ để ý đến con lươn nào à?” cô ngạc nhiên hỏi.

“Thỉnh thoảng tôi cũng có ăn, nhưng chưa bao giờ có cơ hội nhìn xem chúng có hàm không cả.”

“Chà, thế thì lúc nào cậu coi thử đi. Đến công viên thủy sinh hay đâu đó như thế. Loài lươn thông thường thì có hàm với răng. Nhưng cá mút đá chỉ có giác mút, nó dùng chúng để bám vào những viên đá ở đáy sông hoặc hồ. Rồi chúng sẽ kiểu lơ lửng dưới đó, lượn qua lượn lại như đám cỏ dại.”

Habara tưởng tượng đến một đám cá mút đá đung đưa như cỏ dại dưới đáy hồ. Cảnh tượng đó tưởng chừng như xa rời thực tế thế nào đó, dù anh biết, thực tế đôi khi có thể là vô cùng không thực.

“Cá mút đá sống như thế, ẩn mình trong đám cỏ dài. Nằm trong chờ đợi. Rồi khi có con cá hồi nào bơi qua, chúng vọt lên và bám chặt vào nó bằng những chiếc giác mút. Bên trong đám giác mút là những thứ giống như lưỡi có răng, nó sẽ chà lên bụng con cá hồi cho đến khi thủng một lỗ thì chúng bắt đầu ăn thịt, từng chút từng chút một.”

“Tôi không muốn làm cá hồi,” Habara nói.

“Thời La Mã cổ đại, người ta nuôi cá mút đá trong hồ. Bọn nô lệ kiêu ngạo bị ném vào đó cho lũ cá mút đá ăn sống.”

Habara nghĩ anh cũng không thể nào muốn trở thành nô lệ La Mã cho được.

“Lần đầu tiên tôi thấy cá mút đá là hồi học tiểu học, trong một chuyến đi công viên thủy sinh,” Scheherazade kể. “Lúc đọc thông tin mô tả cách chúng sinh sống, tôi biết ngay kiếp trước tôi là một trong số chúng. Tôi thực sự còn nhớ — bám chặt vào một tảng đá, lắc lư vô hình lẫn trong đám cỏ, dõi theo lũ cá hồi béo ngậy bơi qua trên đầu.”

“Chị có nhớ lúc ăn chúng không?”

“Không.”

“Đó là một sự giải thoát,” Habara nói. “Nhưng tất cả những gì chị nhớ về cuộc sống như một con cá mút đá chỉ từng đó thôi à—đung đưa qua lại dưới đáy hồ?”

“Cuộc sống trong tiền kiếp không chỉ được gợi lên mỗi thế,” cô đáp. “Nếu may mắn, cậu có thể hồi tưởng nó thế nào. Giống như có một nhìn thoáng qua qua lỗ nhỏ trên tường. Cậu có gợi lại được cuộc sống tiền kiếp nào của cậu không?”

“Không, không chút nào,” Habara trả lời. Thật thà mà nói, anh chưa bao giờ cảm thấy thôi thúc được nhìn lại cuộc sống kiếp trước. Cuộc sống hiện tại thôi cũng đủ lắm rồi.

“Cuộc sống dưới đáy hồ hóa ra lại khá tuyệt. Lộn ngược mình với cái miệng gắn chặt vào một tảng đá, ngắm nhìn lũ cá bơi qua trên đầu. Tôi còn từng gặp một con rùa biển khổng lồ, một hình thù to lớn màu đen trôi qua, trông như phi thuyền xấu xa trong ‘Cuộc chiến giữa những vì sao.’ Còn có những con chim lớn màu trắng, mỏ dài và nhọn; từ bên dưới, trông chúng giống như những đám mây trôi dạt trên bầu trời.”

“Chị thấy tất cả những thứ này bây giờ à?”

“Rõ như ban ngày,” Scheherazade đáp. “Ánh sáng, sức kéo của dòng chảy, mọi thứ. Đôi lúc tôi còn có thể quay trở lại đó trong tâm trí.”

“Trở lại những gì chị nghĩ lúc đó?”

“Ừ.”

“Cá mút đá nghĩ gì?”

“Cá mút đá nghĩ những thứ như cá mút đá nghĩ. Về những chủ đề của cá mút đá trong bối cảnh rất cá mút đá. Những suy nghĩ đó không thể tả bằng lời. Chúng thuộc về thế giới dưới nước. Nó giống như khi ta còn trong bụng mẹ. Ta có suy nghĩ khi ở trong đó, nhưng ta không thể diễn đạt bằng thứ tiếng ta nói ngoài đây. Đúng không?”

“Từ đã! Chị có thể nhớ trong bụng mẹ thế nào sao?”

“Dĩ nhiên,” Scheherazade đáp, ngẩng đầu khỏi ngực anh để nhìn anh. “Cậu thì không à?”

Không, anh nói. Anh không thể.

“Lúc nào tôi sẽ kể cho cậu sau. Về cuộc sống trong bụng mẹ.”

“Scheherazade, Cá mút đá, Cuộc sống tiền kiếp” là những gì Habara ghi lại trong nhật ký ngày hôm đó. Anh ngờ rằng bất cứ ai tình cờ đọc cũng đoán được chúng nghĩa là gì.

***

Habara gặp Scheherazade lần đầu tiên vào bốn tháng trước. Anh chuyển đến căn nhà này, trong thành phố trực thuộc một tỉnh ở phía Bắc Tokyo, và cô được ấn định là “liên lạc hỗ trợ” của anh. Bởi anh không thể ra ngoài, nhiệm vụ của cô là mua thực phẩm và những mặt hàng khác mà anh cần rồi mang chúng đến. Cô còn tìm mọi cuốn sách mọi cuốn sách và tạp chí anh muốn đọc, mọi đĩa CD anh muốn nghe. Ngoài ra, cô còn lựa một chồng đĩa DVD—dẫu anh rất khó chấp nhận tiêu chuẩn lựa chọn của cô trong mặt này.

Một tuần sau khi anh đến, như thể một bước hiển nhiên tiếp theo, Scheherazade lên giường với anh. Bao cao su có sẵn trên chiếc bàn cạnh giường ngủ khi anh đến. Habara đoán quan hệ là một trong những nhiệm vụ được giao của cô—hoặc có lẽ “hoạt động hỗ trợ” là thuật ngữ họ dùng. Dẫu thuật ngữ là gì, động cơ của cô là gì, anh thả mình theo và chấp nhận đề nghị của cô mà không do dự.

Chuyện tình dục của họ không hẳn là ép buộc, nhưng cũng không thể nói trái tim họ đặt cả trong đó. Cô dường như phải cảnh giác, sợ hai người trở nên quá nhiệt tình—cũng như thầy dạy lái không muốn học trò của họ quá phấn khích về chuyện lái xe. Nhưng trong khi làm tình không phải thứ bạn có thể gọi là say đắm, nó cũng chẳng hoàn toàn là chuyện công việc. Nó có thể bắt đầu như một trong những nhiệm vụ của cô (hay chí ít là một thứ được đặc biệt khuyến khích), nhưng đến một lúc nào đó dường như cô cảm thấy—dẫu chỉ một phần nhỏ—khoái cảm trong đó. Habara có thể biết được điều này từ những cách tinh tế nhất định mà cơ thể cô phản ứng, một phản ứng đồng thời cũng khiến anh vui sướng. Nói gì thì nói, anh không phải con thú hoang bị nhốt trong lồng, mà là một con người được trang bị với những cung bậc xúc cảm của riêng anh, và khó mà thỏa mãn tình dục chỉ với mục đích duy nhất là giải phóng sinh lý. Nhưng Scheherazade coi quan hệ tình dục giữa họ như một trong những nhiệm vụ của cô tới mức nào, nó thuộc về cuộc sống riêng tư của cô tới bao nhiêu? Anh chẳng biết.

Những thứ khác cũng vậy. Habara thường xuyên cảm thấy những cảm xúc và ý định của Scheheradaze thật khó hiểu. Chẳng hạn như chuyện cô mặc quần lót cotton trơn hầu như mọi lúc. Loại quần lót mà anh tưởng tượng các bà nội trở ở độ tuổi ba mươi thường mặc—dù đây chỉ là suy đoán thuần túy, bởi anh cũng chẳng có kinh nghiệm gì với những bà nội trợ ở độ tuổi đó. Nhưng cũng có những ngày cô lại xuất hiện trong những chiếc quần lót bằng lụa xếp nếp. Tại sao cô đổi kiểu như thế anh cũng chẳng biết.

Một điều nữa khiến anh bối rối là chuyện ái ân giữa hai người và chuyện cô kể gắn kết với nhau chặt chẽ đến nỗi khó mà biết được lúc nào cái này kết thúc và cái kia bắt đầu. Anh chưa trải qua bất cứ điều gì như thế trước đó: dù anh không yêu cô, và chuyện quan hệ cũng bình thường, anh lại bị ràng buộc chặt chẽ về thể xác với cô. Tất cả đều khó hiểu.

***

“Lần đầu tiên tôi đột nhập vào nhà người khác là hồi còn vị thành niên,” một hôm cô kể với anh trong lúc hai người nằm trên giường.

Habara—như mọi lần khác khi cô kể chuyện—chẳng biết phải nói gì.

“Cậu đột nhập vào nhà người ta bao giờ chưa?” cô hỏi.

“Tôi nghĩ là chưa,” anh trả lời bằng giọng khô khốc.

“Thử một lần đi, cậu sẽ nghiện đấy.”

“Như thế là bất hợp pháp.”

“Đương nhiên. Nguy hiểm thật, nhưng cậu vẫn sẽ nghiện.”

Habara lặng lẽ chờ đợi cô kể tiếp.

“Điều thú vị nhất khi cậu ở trong nhà một người khi người ta không có ở đó,” Scheherazade nói, “là nó mới tĩnh lặng làm sao. Không một tiếng động. Nó giống như nơi yên tĩnh nhất trên đời. Dù sao đấy cũng là cách tôi cảm nhận được. Khi ngồi trên sàn và giữ im lặng tuyệt đối, cuộc sống cá mút đá của tôi quay lại. Tôi kể cậu nghe về chuyện tôi là cá mút đá trong kiếp trước rồi đúng không?”

“Ừ. Chị kể rồi.”

“Đấy thế thôi. Những giác mút của tôi bám chặt vào tảng đá dưới nước, cơ thể tôi đung đưa qua lại phía trên, như đám cỏ xung quanh. Mọi thứ đều tĩnh lặng. Dù đó có thể là bởi tôi không có tai. Vào những ngày nắng, ánh sáng chiếu xuống qua mặt nước như những mũi tên. Đủ loại cá với những hình thù màu sắc khác nhau lượn lờ bên trên. Đầu óc tôi trống rỗng. Ngoại trừ những suy nghĩ của cá mút đá, vậy đấy. Chúng u ám nhưng rất tinh khiết. Một nơi tuyệt vời để sống.”

***

Lần đầu tiên Scheherazade đột nhập vào nhà người khác, cô giải thích, là hồi cô học cấp ba, đang cảm nắng tha thiết một cậu trong lớp. Dù không thuộc dạng có thể gọi là đẹp trai được, cậu ta cao và sáng sủa, một học sinh tử tế chơi cho đội bóng của trường, và cô bị cậu ta cuốn hút mạnh mẽ. Nhưng có vẻ cậu ta thích một cô gái khác trong lớp và chẳng để ý gì tới Scheherazade. Có khi cậu ta còn chẳng biết là cô tồn tại. Dẫu thế, cô chẳng thể thôi nghĩ về cậu ta. Chỉ thấy cậu ta thôi cũng khiến cô khó thở; đôi lúc cô còn cảm thấy như thể sắp nôn đến nơi. Nếu cô cứ để như thế, cô nghĩ, chắc cô sẽ phát điên mất. Nhưng tỏ tình lại không ổn.

Một hôm, cô trốn học để đến nhà cậu ta. Mất khoảng 15 phút đi bộ từ nhà cô. Cô đã tìm hiểu gia đình cậu ta trước đó. Mẹ cậu ta dạy tiếng Nhật tại một trường học ở thị trấn lân cận. Cha cậu ta từng làm việc tại một công ty xi măng, đã chết trong một vụ tai nạn xe hơi vài năm trước. Em gái cậu ta đang học cấp hai. Thế có nghĩa là cả ngày sẽ chẳng có ai ở nhà.

Chẳng bất ngờ gì khi cánh cửa bị khóa. Scheherazade tìm chìa dưới tấm thảm. Quả nhiên là có một cái dưới đó. Những cộng đồng dân cư yên tĩnh trong thành phố như nơi họ ở chẳng có mấy tội phạm nên thường có một cái chìa khóa sơ cua để dưới tấm thảm hay trong chậu cây. Để an toàn, Scheherazade nhấn chuông, đợi để chắc chắn rằng không có ai ở nhà, quan sát con phố phòng khi có ai thấy cô, mở cửa rồi đi vào. Cô khóa cửa lại từ bên trong. Cởi giầy, bỏ vào trong túi bóng và buộc nó vào cái cặp cô đeo sau lưng. Sau đó cô nhón chân dọc cầu thang lên tầng hai.

Phòng ngủ của cậu ta ở đó, y như cô tưởng tượng. Giường cậu ta được gấp gọn gàng. Trên giá sách là một chiếc đài nhỏ, với mấy chiếc đĩa CD. Trên tường treo một tấm lịch với hình ảnh của đội bóng Barcelona và bên cạnh đó là một thứ trông như biểu ngữ của đội bóng, ngoài ra không còn gì khác. Không áp phích, không tranh ảnh. Độc một bức tường sơn màu kem. Một tấm rèm trắng treo trên cửa sổ. Căn phòng gọn gàng, mọi thứ đâu vào đấy. Không sách nằm vương vãi, không quần áo trên sàn. Căn phòng minh chứng cho tính tỉ mỉ của chủ nhân nó. Hoặc là một người mẹ biết quán xuyến cửa nhà. Hoặc cả hai. Điều đó khiến Scheherazade lo lắng. Giá căn phòng luôm thuôm hơn thì sẽ chẳng ai để ý đến những thứ cô có thể làm lộn xộn. Nhưng đồng thời sự sạch sẽ ngăn nắp của căn phòng, trật tự hoàn hảo của nó lại khiến cô hạnh phúc. Nó rất giống cậu ta.

Scheherazade hạ mình xuống chiếc ghế bàn học và ngồi đó một lúc. Đó là nơi cậu ấy học bài mỗi tối, cô nghĩ, tim cô đập thình thịch. Cô nhặt những đồ dùng trên bàn học, từng cái một, lăn qua lăn lại trên những ngón tay, ngửi chúng, đặt chúng lên môi hôn. Những chiếc bút chì, kéo, thước kẻ, dập ghim của cậu — những thứ tầm thường nhất cũng trở nên rạng rỡ bằng cách nào đó chỉ bởi chúng thuộc về cậu.

Cô mở ngăn kéo bàn học và cẩn thận kiểm tra từng thứ một. Ngăn trên cùng được chia thành các khoang, mỗi khoang chứa một khay nhỏ với một đám những đồ vật và đồ lưu niệm khác nhau. Ngăn kéo thứ hai chủ yếu là các cuốn vở ghi chép các lớp cậu đang học, còn ngăn dưới cùng chứa đầy một tập các giấy tờ, sách vở, những bài kiểm tra cũ. Gần như mọi thứ đều liên quan hoặc đến trường học hoặc đến bóng đá. Cô hi vọng sẽ bắt gặp thứ gì đó riêng tư—một cuốn nhật ký chẳng hạn, hay những lá thư—nhưng trên bàn không có gì như thế. Thậm chí còn không có lấy một tấm ảnh. Nó khiến Scheherazade nhận ra có điều gì đó không tự nhiên. Cuộc sống cậu ấy không gì ngoài trường học và bóng đá? Hay cậu ấy đã cẩn thận cất giấu những thứ riêng tư ở nơi mà không ai có thể thấy?

Gì thì gì, riêng việc ngồi trên bàn học, lướt mắt qua những dòng chữ viết tay của cậu ta cũng khiến Scheherazade phấn khích tột độ. Để bình tĩnh lại, cô rời khỏi ghế rồi ngồi xuống sàn. Cô nhìn lên trần nhà. Sự tĩnh lặng quanh cô là tuyệt đối. Cô trở lại thế giới của cá mút đá như thế.

***

“Thế tất cả những gì chị làm,” Habara hỏi, “là bước vào phòng, lục lọi đồ đạc của anh ta và ngồi xuống sàn?”

“Không,” Scheherazade đáp. “Không chỉ mỗi thế. Tôi muốn lấy thứ gì đó của cậu ta để mang về nhà. Thứ gì đó cậu ta cầm mỗi ngày hoặc là gần gũi với cơ thể cậu ta. Nhưng không thể lấy thứ gì cậu ta sẽ nhớ tới được. Thế nên tôi trộm một cái bút chì.”

“Mỗi một cái bút chì?”

“Ừ. Một cái cậu ta đang dùng dở. Nhưng đánh cắp không thôi chưa đủ. Thế thì nó sẽ đơn giản như một vụ trộm. Thứ tôi làm sẽ là thứ bị đánh mất. Nói cho cùng, tôi là Kẻ Trộm Tình Yêu.”

Kẻ Trộm Tình Yêu? Nó nghe như một bộ phim câm đối với Habara.

“Thế nên tôi quyết định để lại thứ gì đó, một loại dấu hiệu. Như bằng chứng rằng tôi đã ở đó. Một tuyên bố rằng đây là một cuộc trao đổi, không chỉ đơn giản là một vụ trộm. Nhưng thứ đó nên là gì đây? Tôi lục trong cặp sách và túi quần áo nhưng chẳng tìm được gì thích hợp. Cuối cùng, tôi quyết định để lại một cái băng vệ sinh. Tất nhiên là một cái chưa dùng, vẫn còn được bọc trong giấy bóng. Sắp đến đèn đỏ nên tôi mang nó theo để đề phòng. Tôi giấu nó ở trong cùng ngăn kéo dưới, ở đấy nó sẽ khó bị phát hiện. Điều đó làm tôi thực sự phấn khích. Cái băng vệ sinh của tôi được giấu trong ngăn kéo bàn học của cậu ta. Có khi là bởi tôi quá hưng phấn nên kỳ kinh đến gần như ngay sau đó.”

Scheherazade chợt im lặng. Có thể cô đang quay trở lại quá khứ, mường tượng lại từng câu chuyện khác nhau xảy đến sau đó.

“Đó là tuần hạnh phúc nhất đời tôi,” cô nói sau một lúc lâu ngập ngừng. “Tôi nguệch ngoạc đầy những thứ linh tinh trong sổ tay bằng bút của cậu ta. Tôi hít hà nó, hôn nó, cọ nó lên má, lăn nó giữa những ngón tay. Đôi lúc tôi còn ngậm nó rồi mút. Tất nhiên, tôi rất khổ sở vì càng viết nhiều nó càng ngắn, nhưng tôi chẳng thể dừng được. Tôi nghĩ lúc nào nó ngắn quá, tôi có thể quay lại và lấy thêm chiếc nữa. Có một đống bút chì dùng dở hộp đựng bút trên bàn học của cậu ta. Thiếu một cái cậu ta cũng chẳng biết đâu. Có khi cậu ta còn chưa phát hiện ra cái băng vệ sinh nằm khuất trong ngăn kéo. Ý nghĩ đó khiến tôi kích thích vô cùng—nó khiến tôi cảm thấy nhột một cách khác lạ ở chỗ dưới. Tôi không còn buồn phiền vì chuyện cậu ta chẳng bao giờ thèm nhìn tôi hay tỏ ra cậu ta chẳng để ý đến sự tồn tại của tôi thêm nữa. Bởi tôi đã bí mật sở hữu một thứ của cậu ta—một phần của cậu ta, như nó đã từng.”

***

Mười ngày sau, Scheherazade bỏ học lần nữa để dành cho chuyến thăm thứ hai đến nhà cậu ta. Lúc đó là 11 giờ sáng. Như lần trước, cô nhặt chìa khóa dưới tấm thảm để mở cửa. Một lần nữa, căn phòng cậu ta ở trong trật tự hoàn hảo. Việc đầu tiên là cô chọn một chiếc bút chì đã dùng khá nhiều rồi cẩn thận đặt nó vào hộp bút của mình. Sau đó cô rón rén nằm lên giường, hai bàn tay nắm chặt vào nhau trước ngực, và nhìn lên trần nhà. Đó là chiếc giường cậu ấy ngủ hàng ngày. Ý nghĩ đó khiến tim cô đập dồn dập hơn, khiến cô thấy khó thở được như bình thường. Phổi cô không được không khí lấp đầy còn cổ họng thì khô như rang, khiến mỗi hơi thở đều đau đớn.

Scheherazade rời khỏi giường, vuốt lại tấm ga, rồi ngồi xuống sàn như trước cô đến. Cô lại nhìn lên trần nhà. Mình chưa sẵn sàng cho chiếc giường, cô tự nhủ. Vẫn khó mà chịu đựng được.

Lần nay Scheherazade dành nửa giờ trong căn nhà. Cô kéo tập vở của cậu ta trong ngăn kéo ra và liếc qua chúng. Cô tìm được một bài thu hoạch sách và đọc nó. Bài thu hoạch viết về Kokoro, cuốn tiểu thuyết của nhà văn Soseki Natsume, bài đọc được giao trong mùa hè đó. Chữ cậu rất đẹp, như người ta có thể trông đợi từ một học sinh xuất sắc, không một lỗi hay thiếu sót nào. Bài đó được chấm điểm Xuất sắc. Còn có thể nào khác? Bất cứ giáo viên nào phải đối mặt với văn phong như thế cũng tự động cho điểm Xuất sắc thôi, chả cứ anh có buồn đọc một dòng nào không.

Scheherazade chuyển sang hộc tủ, kiểm tra từng thứ bên trong theo thứ tự. Đồ lót và tất. Sơ mi và quần. Đồng phục bóng đá. Tất cả đều được gấp gọn ghẽ. Không thứ gì dính màu hay sờn rách. Cậu ấy tự gấp quần áo không nhỉ? Hay nhiều khả năng hơn là mẹ cậu gấp hộ? Cô cảm thấy nhói lên nỗi ghen tị với mẹ cậu ta, người có thể làm giúp cậu những việc như thế mỗi ngày.

Scheherazade cúi xuống hít hà đống quần áo trong ngăn kéo. Chúng đều mới giặt và thơm mùi nắng. Cô lấy ra một chiếc áo phông trơn màu xám, trải ra và áp nó lên mặt. Liệu có chút mồ hôi nào của cậu ấy còn sót lại dưới cánh tay không? Nhưng chẳng có gì. Thế mà cô vẫn giữ nó ở đó, hít hà qua mũi. Cô muốn lấy cái áo đó cho mình. Nhưng thế thì mạo hiểm quá. Quần áo của cậu được gấp gọn và sắp xếp tỉ mỉ. Cậu (hoặc mẹ cậu) chắc biết chính xác số lượng áo phông cất trong ngăn kéo. Nếu mất một cái, mọi thứ sẽ xáo trộn ngay. Scheherazade cẩn thận gấp lại cái áo phông và đặt nó lại đúng chỗ. Thay vì cái áo, cô lấy cái huy hiệu nhỏ có hình dạng như quả bóng đá mà cô tìm được trong một ngăn kéo bàn học. Ít ra thì phải mất lâu lâu cậu ấy mới nhận ra nó đã ra đi. Trong khi ở đó, cô kiểm tra lại cái băng vệ sinh trong ngăn kéo dưới cùng của bàn học. Nó vẫn ở đó.

Scheherazade cố tưởng tượng xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu mẹ cậu ta tìm ra cái băng vệ sinh. Bà sẽ nghĩ gì? Liệu bà có yêu cầu cậu giải thích xem cái băng vệ sinh làm cái giời ơi đất hỡi gì trong ngăn bàn cậu? Hay bà sẽ giữ bí mật khám phá của mình, suy đi tính lại những nghi ngờ đen tối trong tâm trí? Scheherazade chẳng biết. Nhưng cô quyết định sẽ để nguyên cái băng vệ sinh ở đó. Xét cho cùng, nó là dấu hiệu đầu tiên của cô.

Để kỷ niệm chuyến thăm lần hai, Scheherazade để lại ba sợi tóc của cô. Buổi tối hôm trước, cô đã nhổ chúng ra, bọc bằng túi bóng, đặt trong phong bì rồi dán kín lại. Cô lấy cái phong bì ra khỏi cặp và nhét nó vào một trong những cuốn vở toán cũ trong ngăn bàn của cậu ta. Ba sợi tóc thẳng và đen, không quá dài cũng không quá ngắn. Chẳng ai có thể biết đó là tóc của ai nếu không làm xét nghiệm DNA, dù rõ ràng chúng là của một đứa con gái.

Cô rời khỏi căn nhà rồi đi thẳng tới trường, đến kịp giờ lớp học buổi chiều đầu tiên. Phải nói lại cô đã rất hạnh phúc trong khoảng chục ngày qua. Cô cảm thấy như cậu ta đã trở thành của cô nhiều hơn. Nhưng có thể như bạn trông đợi, chuỗi sự kiện này sẽ không chấm dứt mà không gặp sự cố nào. Bởi, như Scheherazade nói đấy, lẻn vào nhà người khác gây nghiện rất cao.

***

Kể đến đây, Scheherazade liếc nhìn chiếc đồng hồ cạnh giường và thấy đã 4:32 chiều. “Phải đi rồi,” cô nói, như thể với chính mình. Cô nhảy khỏi giường và mặc lại chiếc quần lót trơn màu trắng, móc áo ngực, xỏ chiếc quần jeans, và trùm cái áo len hiệu Nike màu xanh đậm qua đầu. Sau đó cô vào nhà tắm rửa tay, chải tóc một lượt, rồi lái đi trong chiếc Mazda xanh của cô.

Còn lại một mình mà chẳng có việc gì cụ thể để làm, Habara nằm lên giường nghiền ngẫm câu chuyện cô vừa kể cho anh, thưởng thức từng chút một như con bò nhai lại thức ăn. Nó dẫn tới đâu nhỉ? anh tự hỏi. Cũng như mọi câu chuyện khác của cô, anh không có câu trả lời. Anh thấy thật khó hình dung ra Scheherazade hồi còn là học sinh cấp ba. Lúc đó cô có mảnh mai hơn, không có đám bọng mỡ như bây giờ không? Đồng phục học sinh, tất trắng, tết tóc bím?

Chưa đói, anh không vội nấu cơm mà quay lại đọc tiếp cuốn sách đang dở, chỉ để nhận ra anh không thể tập trung. Hình ảnh Scheherazade lẻn vào phòng của bạn cùng lớp rồi vùi mặt trong chiếc áo phông của cậu ta quá mới mẻ trong tâm trí anh. Anh rất nóng lòng muốn nghe chuyện gì diễn ra sau đó.

***

Chuyến thăm tiếp theo của Scheherazade diễn ra ba ngày sau đó, sau khi cuối tuần đã qua. Như mọi lần, cô đến mang theo những chiếc túi giấy lớn đựng đầy đồ dự trữ. Cô xem xét đống đồ ăn trong tủ lạnh, thay thế mọi thứ đã hết hạn sử dụng, kiểm tra thực phẩm đóng chai và đóng can trong tủ chạn, kiểm tra đồ phụ phẩm và gia vị xem loại nào sắp hết, và lên danh sách những thứ cần mua. Cô bỏ mấy chai Perrier vào tủ lạnh để làm mát. Cuối cùng, cô xếp chồng sách mới mua những đĩa DVD cô mang theo lên bàn.

“Cậu có cần hay muốn gì thêm không?”

“Không nghĩ được gì,” Habara đáp.

Rồi như mọi lần, hai người lên giường và làm tình. Sau màn dạo đầu trong khoảng thời gian thích hợp, anh đeo bao cao su, thâm nhập trong cô và giải phóng sau khoảng thời gian thích hợp. Sau khi liếc con mắt chuyên nghiệp của mình qua thứ đọng lại trong chiếc bao cao su, Scheherazade bắt đầu kể phần mới nhất trong câu chuyện của cô.

***

Như lần trước, cô cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện trong suốt mười ngày sau vụ đột nhập thứ hai của cô. Cô bỏ cái huy hiệu bóng đá vào trong hộp bút chì, thỉnh thoảng lại mân mê nó trong lớp học. Cô gặm nhấm cái bút chì mà cô lấy và liếm đầu bút. Lúc nào cô cũng nghĩ về căn phòng của cậu ta. Cô nghĩ về bàn học của cậu, chiếc giường cậu ngủ, ngăn tủ chứa quần áo của cậu, chiếc quần đùi màu trắng nguyên sơ của cậu, về cái băng vệ sinh và ba sợi tóc cô giấu trong ngăn kéo.

Cô chẳng còn hứng thú gì với việc học. Trên lớp, không nghịch cái huy hiệu hay bút chì thì cô lại mơ mơ màng màng. Về nhà, cô chẳng có tâm trí đâu mà làm bài tập. Điểm số Scheherazade chưa bao giờ thành vấn đề. Không phải là học sinh đứng đầu lớp, nhưng lúc nào cô cũng nghiêm túc hoàn thành bài tập. Thế nên khi thầy giáo gọi cô lên bảng và cô không thể đưa ra câu trả lời đúng, ông thấy khó hiểu hơn là bực bội. Cuối cùng, ông triệu tập cô lên phòng chủ nghiệm trong giờ nghỉ trưa. “Có vấn đề gì đúng không em?” ông hỏi cô. “Có điều gì khiến em phiền lòng à?” Cô chỉ có thể lầm bầm gì đó mơ hồ về việc cảm thấy không được khỏe. Bí mật của cô quá nặng nề và đen tối để có thể chia sẻ với bất cứ ai—cô phải tự mình chịu đựng.

***

“Tôi phải tiếp tục đột nhập vào nhà cậu ấy,” Scheherazade nói. “Tôi bị ép buộc. Cậu cũng tưởng tượng ra việc đó nguy hiểm thế nào. Thậm chí tôi cũng tự nhận thức được. Sớm muộn gì cũng có người phát hiện ra tôi ở đó và gọi cảnh sát. Ý nghĩ đó khiến tôi sợ muốn chết. Nhưng một khi bóng đã lăn thì không có cách nào dừng được. Mười ngày sau chuyến ‘viếng thăm’ thứ hai, tôi lại đến đó lần nữa. Tôi không được lựa chọn. Tôi cảm thấy nếu như tôi không làm thế, tôi sẽ phát điên. Nhìn lại thì tôi nghĩ thực sự tôi cũng thật điên rồ.”

“Chẳng phải như thế sẽ rắc rối cho chị ở trường à, thường xuyên bỏ học ấy?” Habara hỏi.

“Bố mẹ tôi cũng có việc phải lo, thế nên họ bận rộn đến nỗi không thể để ý đến tôi được nhiều. Tôi cũng chưa gây rắc rối gì trước đó, chưa bao giờ thách thức chính quyền. Thế nên họ cứ nghĩ tốt nhất là để tôi tự lập. Đơn xin nghỉ thì dễ như bỡn. Tôi giải thích với thầy chủ nhiệm là tôi mắc bệnh nên thỉnh thoảng phải dành nửa ngày tới bệnh viện. Với cả giáo viên bận lo phải làm sao với những đứa nghỉ đến trường cả năm học, họ đâu cần quan tâm tới việc thi thoảng tôi nghỉ có nửa ngày chứ.”

Schehezarade liếc nhanh cái đồng hồ cạnh giường trước khi tiếp tục.

Tôi lấy chìa khóa dưới tấm thảm và đột nhập vào ngôi nhà đó lần thứ ba. Nó vẫn tĩnh lặng như trước—không, sao đó mà thậm chí còn tĩnh lặng hơn. Tủ lạnh bật làm tôi giật mình—tiếng kêu của nó nghe như tiếng thở dài của một con thú khổng lồ. Điện thoại reo trong lúc tôi ở đó. Tiếng chuông quá to và chói đến nỗi tôi nghĩ mình có thể bị đứng tim luôn. Người tôi vã đầy mồ hôi. Dĩ nhiên là không ai nhấc máy, chuông reo khoảng mười lần thì thôi. Cảm giác căn nhà còn tĩnh lặng hơn sau đó.”

***

Hôm đó Scheherazade dành một lúc lâu nằm dài trên giường của cậu ta. Lần nay tim cô không đập dữ dội nữa, cô cũng có thể thở được bình thường. Cô có thể tưởng tượng cảnh cậu nằm ngủ yên bình bên cạnh cô, thậm chí còn cảm thấy như thể cô đang ngắm nhìn cậu chìm trong giấc ngủ. Cô cảm thấy như thể nếu đưa tay ra, cô có thể chạm vào cánh tay cơ bắp của cậu. Tất nhiên, cậu không ở đó cạnh cô. Chỉ là cô đang lạc trong cơn mơ mộng.

Cô cảm thấy thôi thúc mãnh liệt được ngửi mùi cậu. Nhỏm dậy khỏi giường, cô bước đến hộc tủ, mở một ngăn ra và xem xét những chiếc sơ mi bên trong. Tất cả đều được giặt sạch và gấp lại gọn gàng. Chúng nguyên sơ và không mùi, cũng như lần trước.

Cô chợt nảy ra một ý tưởng. Cô chạy xuống cầu thang, xuống tầng một. Ở đó, trong căn phòng bên cạnh bồn tắm, cô thấy thùng đựng đồ cần giặt và mở nắp ra. Trộn lẫn trong đó là đống quần áo bẩn của ba người trong nhà—mẹ, con gái, và cậu con trai. Rõ ràng là không uổng một ngày. Scheherazade lấy ra một mảnh quần áo nam. Một chiếc áo phông cổ tròn màu trắng. Cô hít một hơi. Mùi hương không thể nhầm lẫn của một cậu con trai trẻ tuổi. Cái mùi mốc meo mà cô từng ngửi thấy trước đó mỗi lúc bọn con trai cùng lớp ở gần. Không phải mùi gì rõ rệt, chắc chắn. Nhưng bởi đó là mùi của cậu ấy, Scheherazade cảm thấy vui sướng vô bờ. Khi đưa mũi lại gần nách áo và hít vào, cô cảm thấy như thể cô đang trong vòng tay anh, hai cánh tay anh bao bọc cô thật chặt.

Với chiếc sơ mi trong tay, Scheherazade leo cầu thang lên tầng hai, nằm xuống chiếc giường của cậu lần nữa. Cô vùi mặt trong chiếc áo, tham lam hít vào. Giờ cô có thể cảm thấy cảm giác thoải mái ở phần dưới của cơ thể. Hai núm vú của cô cũng cương cứng. Đã đến ngày đèn đỏ chưa nhỉ? Không, vẫn còn quá sớm. Có phải là ham muốn tình dục? Nếu thế thì cô có thể làm gì đây? Cô không biết. Dù thế, có một điều là chắc chắn — cô không thể làm gì dưới hoàn cảnh thế này được. Không phải ở đây trong căn phòng của cậu, trên chiếc giường của cậu.

Rốt cuộc Scheherazade quyết định mang chiếc áo về nhà. Thật sự là mạo hiểm. Mẹ cậu chắc sẽ biết có chiếc áo bị mất. Mà thậm chí nếu bà không nhận ra nó đã bị đánh cắp, bà cũng vẫn sẽ thắc mắc xem nó biến đi đâu. Bất cứ người phụ nữ nào giữ cho căn nhà của họ không một tì vết chắc hẳn cũng rất gọn gàng ngăn nắp. Khi có thứ gì bị mất, bà sẽ rà soát căn nhà từ trên xuống dưới, như một con cảnh khuyển, cho đến khi tìm ra nó. Chắc chắn bà sẽ phát hiện ra những dấu vết của Scheherazade trong căn phòng của cậu quý tử của bà. Nhưng dù hiểu rõ điều đó, Scheherazade cũng không muốn rời xa chiếc áo. Bộ não cô đã bất lực trong việc thuyết phục trái tim cô.

Thay vào đó, cô bắt đầu nghĩ về việc sẽ để lại cái gì. Quần lót của cô dường như là lựa chọn tốt nhất. Nó thuộc loại bình thường, đơn giản, tương đối mới và sáng hôm đó vẫn còn sạch sẽ. Cô có thể giấu nó vào trong cùng ngăn tủ quần áo của cậu. Còn gì thích hợp hơn để trao đổi cơ chứ? Nhưng khi cô cởi nó ra, đáy quần đã ướt. Mình đoán thứ này cũng là bởi ham muốn của mình, cô nghĩ. Khó mà để lại thứ gì bị bôi bẩn bởi ham muốn của cô ở trong phòng cậu. Cô sẽ chỉ tự hạ thấp bản thân. Cô mặc nó lại và bắt đầu nghĩ thứ gì khác để bỏ lại.

***

Scheherazade dừng câu chuyện lại. Cô không nói gì một lúc lâu. Cô nằm đó, thở khẽ với đôi mắt nhắm lại. Nằm bên cạnh, Habara cũng làm theo cô, chờ đợi cô tiếp tục.

Cuối cùng, cô mở mắt ra và cất tiếng. “Này, cậu Habara,” cô nói. Đó là lần đầu tiên cô gọi tên anh.

Habara nhìn cô.

“Cậu nghĩ chúng ta có thể làm lại chuyện ấy một lần nữa không?”

“Tôi nghĩ là được,” anh nói.

Họ làm tình lần nữa. Nhưng lần này khác hẳn những lần trước. Dữ dội, say mê, và kéo dài. Cơn cực khoái của cô không thể lẫn đi đâu. Một loạt những cơn co thắt mạnh mẽ khiến cô run rẩy. Gương mặt cô cũng biến chuyển. Với Habara, nó như là bắt được một cái nhìn thoáng qua về Scheherazade thời trẻ: người phụ nữ trong vòng tay anh là cô thiếu nữ mười bảy gặp rắc rối, bằng cách nào đó lại mắc kẹt trong cơ thể một bà nội trợ đương tuổi ba nhăm. Habara có thể cảm nhận được cô ở đây, đôi mắt nhắm lại, cơ thể run rẩy, ngây thơ hít hà mùi mồ hôi trên áo sơ mi của một cậu bé.

Lần này, Scheherazade đã không kể chuyện cho anh nghe sau khi làm tình. Cô cũng không kiểm tra thứ còn lại trong bao cao su của anh. Họ nằm yên lặng bên nhau. Đôi mắt mở to, cô chăm chăm nhìn lên trần nhà. Như con cá mút đá nhìn lên mặt nước tươi sáng. Thật tuyệt vời làm sao, Habara nghĩ, nếu anh cũng có thể sống trong một thời gian hay không gian khác—bỏ lại con người đơn độc, được định rõ mang tên Nobutaka Habara phía sau, trở thành một con cá mút đá vô danh. Anh tưởng tượng anh và Scheherazade bên cạnh nhau, với những giác mút bám chặt vào một tảng đá, cơ thể lượn theo dòng chảy, nhìn lên mặt nước trong khi chờ đợi một con cá hồi béo ngậy tự mãn bơi qua.

“Thế chị để lại thứ gì để đổi lấy chiếc áo?” Habara phá vỡ bầu im lặng.

Cô không trả lời ngay.

“Chẳng gì cả,” cuối cùng cô đáp. “Không gì mà tôi mang theo có thể đổi lấy chiếc áo mang mùi hương của cậu ta được. Vậy nên tôi chỉ lấy nó và lẻn đi. Đó là lúc tôi trở thành một tên trộm, thuần túy và đơn giản.”

***

Mười hai ngày sau đó, khi Scheherazade quay lại nhà cậu ta lần thứ tư, cửa trước được thay khóa mới. Ánh vàng của nó lấp lánh trong ánh mặt trời giữa trưa, như thể để tự hào về sức mạnh tuyệt vời của mình. Và cũng không có chiếc chìa khóa nào được giấu dưới tấm thảm nữa. Rõ ràng chiếc áo bị mất đã khơi lên nỗi nghi ngờ của bà mẹ. Chắc hẳn bà đã kiếm tìm từ trên xuống dưới, bắt gặp những dấu hiệu cho thấy có điều gì khác lạ đang diễn ra trong căn nhà của mình. Bản năng của bà đã không sai lầm, phản ứng của bà nhanh nhạy.

Tất nhiên Scheherazade thất vọng bởi diễn biến này, nhưng đồng thời cô cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Như thể có ai đó bước theo sau và đỡ gánh nặng trên đôi vai giùm cô. Thế có nghĩa là mình không phải đột nhập vào nhà cậu ấy nữa, cô nghĩ. Chắc chắn rằng nếu ổ khóa không bị đổi, cuộc xâm lăng của cô sẽ kéo dài vô thời hạn. Cũng chắc chắn rằng hành động của cô sẽ leo thang sau mỗi lần thăm viếng. Rồi cuối cùng ai đó trong nhà có thể sẽ xuất hiện trong lúc cô đang ở trên lầu. Sẽ không có lối thoát nào. Không cách nào cô thuyết phục được chính mình thoát khỏi mối nguy đó. Dù sớm dù muộn, đó là tương lai đã chờ đợi cô từ lâu, hậu quả sẽ thật nặng nề. Nhưng giờ có đã tránh được nó. Có lẽ cô nên cảm ơn mẹ cậu ta—dù cô chưa bao giờ gặp—vì đôi mắt sắc như mắt diều hâu của bà.

Scheherazade ngửi mùi hương trên áo cậu mỗi đêm trước khi đi ngủ. Cô ngủ với nó đặt bên. Cô bọc nó trong giấy báo và giấu đi trước khi đến trường. Sau bữa tôi, cô mang nó ra vuốt ve và hít hà. Cô sợ mùi hương sẽ nhạt phai theo thời gian, nhưng nó đã không như thế. Mùi mồ hôi của cậu đã vĩnh viễn thấm trên chiếc áo.

Giờ đây khi những cuộc đột nhập không còn là vấn đề, tâm trí của Scheherazade dần bắt đầu trở lại bình thường. Cô mơ mộng trong lớp ít hơn, những lời giảng của thầy giáo cô bắt đầu được ghi nhớ. Tuy thế, thứ cô chú ý không phải giọng nói của thầy giáo mà là hành vi của cậu bạn cùng lớp. Cô kín đáo quan sát cậu, cố gắng phát hiện một sự thay đổi, bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy cậu có thể lo lắng về điều gì đó. Nhưng cậu vẫn hành động như trước giờ vẫn thế. Cậu vẫn ngoái đầu lại và cười đùa như không có gì ảnh hưởng đến cậu, vẫn trả lời ngay khi được gọi. Cậu vẫn hét hò trong khi tập luyện bóng đá và vẫn đổ đầy mồ hôi. Cô không nhận ra bất cứ dấu vết của điều gì bất thường—một cậu trai trẻ ngay thẳng, sống một cuộc sống dường như trong sáng.

Thế nhưng Scheherazade biết được một trong những cái bóng đang che phủ trên đầu cậu. Hay thứ gì gần như thế. Chắc hẳn cũng không có ai khác biết. Chỉ có cô (và có thể là cả mẹ cậu). Trong lần đột nhập thứ ba, cô tình cờ bắt gặp một số tạp chí khiêu dâm được khéo léo giấu trong các hốc sâu nhất trong tủ quần áo của cậu. Chúng chứa đầy hình ảnh những phụ nữ khỏa thân, dang rộng đôi chân và lộ liễu phơi bày bộ phận sinh dục của họ. Một số miêu tả hành vi tình dục: những gã đàn ông đưa dương vật như cây gậy của họ vào cơ thể người phụ nữ trong những tư thế phi tự nhiên nhất. Scheherazade chưa từng để mắt tới những hình ảnh như thế trước đó. Cô ngồi trên bàn học của cậu, chậm rãi lật qua từng trang, thích thú ngắm nghía từng tấm hình. Cô đoán cậu ta sẽ thủ dâm trong khi xem chúng. Nhưng ý nghĩ đó không khiến cô thấy đặc biệt ghê tởm hay gì. Cô chấp nhận việc thủ dâm là một hoạt động hoàn toàn bình thường. Tất cả lũ tinh trùng cũng phải đi đâu đó, cũng như bọn con gái có kinh nguyệt vậy thôi. Hay nói cách khác, cậu cũng là một trẻ vị thành niên điển hình. Không anh hùng cũng chẳng thánh nhân. Cô nhận ra kiến thức cũng là một sự giải thoát.

***

“Khi tôi không đột nhập vào căn nhà nữa, cơn say mê của tôi dành cho cậu ta cũng dần hạ nhiệt. Dần dần, như cơn thủy triều hạ xuống trên một bãi biển dốc dài. Dần dà tôi nhận ra mình ngửi mùi áo cậu ta ít thường xuyên hơn, dành ít thời gian vuốt ve bút chì và huy hiệu của cậu ta hơn. Cơn sốt đã qua. Những điều tôi làm không phải như thứ gì bệnh hoạn mà là thực tế. Chừng nào nó còn kéo dài, chừng đó tôi còn không thể suy nghĩ sáng suốt. Có lẽ mọi người đều trải qua giai đoạn điên rồ như thế lúc này hay lúc khác. Cũng có thể nó chỉ xảy đến với tôi. Cậu thì sao? Cậu từng trải qua điều gì như vậy chưa?”

Habara cố gắng nhớ lại, nhưng anh chẳng nghĩ được gì. “Không, không có gì đặc biệt, tôi không nghĩ thế,” anh nói.

Trông Scheherazade có đôi chút thất vọng bởi câu trả lời của anh.

“Dù sao thì tôi cũng quên hết mọi chuyện về cậu ta sau khi tốt nghiệp. Nhanh chóng và dễ dàng, lạ thật. Thứ gì về cậu ta mà lại khiến tôi của tuổi mười bảy khó khăn đến thế? Cố gắng thế nào tôi cũng không thể nhớ nổi. Cuộc sống này thật lạ, đúng không? Ta có thể hoàn toàn bị mê hoặc bởi thứ gì đó trong một phút, sẵn sàng hy sinh tất cả để biến nó thành của mình, nhưng rồi khi thời gian ngắn ngủi trôi qua, hay khi quan điểm của ta thay đổi đôi chút, đột nhiên sự thay đổi không ngờ của tình cảm đó khiến ta choáng váng. Mình đang tìm kiếm gì đây? ta tự hỏi. Câu chuyện về thời kỳ ‘đột nhập và xâm nhập’ của tôi là như vậy đấy.”

Cô khiến nó nghe như Thời kỳ Xanh của Picasso vậy, Habara nghĩ. Nhưng anh hiểu cô đang cố gắng truyền tải điều gì.

Cô liếc nhìn chiếc đồng hồ cạnh giường. Đã sắp đến lúc cô phải đi.

“Nói thật với cậu,” cuối cùng cô nói, “câu chuyện vẫn chưa kết thúc ở đó. Sau đó mấy năm, khi tôi đang học năm hai trường đào tạo y tá, một dòng chảy số phận kỳ lạ đã đưa chúng tôi gặp lại nhau. Mẹ cậu ta có vai trò quan trọng trong chuyện đó; thực tế là toàn bộ câu chuyện ẩn chứa điều gì đó ma quái—giống như một câu chuyện ma xưa cũ. Cậu có muốn nghe không?”

“Tôi rất muốn,” Habara đáp.

“Tốt nhất là đợi đến lần sau tôi tới thăm,” Scheherazade nói. “Muộn rồi. Tôi phải về nhà để chuẩn bị bữa tối.”

Cô ra khỏi giường, mặc lại quần áo—quần lót, tất, áo lót, và cuối cùng, váy và áo khoác của cô. Habara tình cờ dõi theo những động tác rời khỏi giường của cô. Nó khiến anh ngạc nhiên nhận ra cách phụ nữ mặc đồ có khi còn thú vị hơn cả cách họ cởi bỏ chúng.

“Cậu có cần tôi mua cuốn sách nào không?” cô hỏi trong lúc đi ra cửa.

“Không, tôi không nghĩ được gì,” anh trả lời. Thứ anh thực sự muốn, anh nghĩ, là cô kể hết phần còn lại của câu chuyện, nhưng anh không thể diễn đạt nó thành lời. Làm như vậy có thể phá hủy cơ hội được nghe nó của anh.

***

Tối hôm đó Habara lên giường sớm và nghĩ về Scheherazade. Có thể anh sẽ không bao giờ gặp cô lần nữa. Điều đó khiến anh lo lắng. Chỉ là khả năng đó quá thực tế. Không thứ gì mang tính cá nhân—không hứa hẹn, không hiểu biết ngầm—gắn kết họ lại với nhau. Mối quan hệ giữa họ là mối quan hệ tình cờ được người khác tạo ra, và có thể kết thúc nếu người đó muốn. Nói cách khác, họ được gắn kết với nhau bằng một sợi dây mảnh mai. Có thể—không, chắc chắn—rằng sợi dây đó cuối cùng sẽ bị cắt đứt và anh sẽ mất đi tất cả những câu chuyện lạ lùng và xa lạ mà cô có thể kể. Vấn đề duy nhất chỉ là lúc nào mà thôi.

Cũng có thể một lúc nào đó, anh sẽ bị tước đoạt hoàn toàn quyền tự do, khi đó không chỉ Scheherazade mà tất cả những phụ nữ khác cũng sẽ biến mất khỏi cuộc đời anh. Không bao giờ anh có thể đi vào cơ thể ấm áp và ẩm ướt của họ lần nữa. Không bao giờ anh có thể cảm nhận được cơ thể họ rung lên trong cơn kích ứng lần nữa. Nhưng có thể một viễn cảnh đau buồn hơn nữa đối với Habara, chứ không phải việc những hoạt động tình dục chấm dứt, mới là mất mát của những phút giây thân mật bên nhau. Những gì anh đã dành thời gian bên những phụ nữ được cung cấp cho anh một mặt đem đến cơ hội được bao bọc bởi thực tại, trong khi mặt kia lại phủ định nó hoàn toàn. Chúng chính là một lượng dồi dào những gì Scheherazade đem đến—mà thực tế, món quà của cô là bất tận. Viễn cảnh mất đi điều đó khiến anh buồn hơn hết thảy.

Habara nhắm mắt lại và thôi suy nghĩ về Scheherazade. Thay vào đó, anh nghĩ về lũ cá mút đá. Về những con cá mút đá không hàm, bám chặt vào những tảng đá, ẩn mình trong đám cỏ thủy sinh, lắc lư qua lại theo dòng chảy. Anh tưởng tượng rằng anh là một trong số chúng, chờ đợi một con cá hồi xuất hiện. Nhưng chẳng có con cá hồi nào bơi qua, dù anh có đợi bao lâu chăng nữa. Cuối cùng mặt trời lặn, cả thế giới của anh bao phủ trong màn đêm. ♦

Copyright © 2014 by Haruki Murakami | Bản dịch © 2014 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

4 comments on “Truyện ngắn: “Scheherazade” – Haruki Murakami

  1. Hong-Anh Nguyen
    August 9, 2015

    Mình khá bất ngờ là Murakami lại có thể viết truyện với một nhân vật chính là một phụ nữ chứ không phải là một nhân vật nam quen thuộc, nhất là sau thảm bại Aomame của 1Q84. Mình cũng thích viết truyện ngắn kiểu như vậy, có một cái kết rất lửng lơ, và mơ hồ như một điềm báo mà 100 người đọc thì 99 người sẽ có một dự cảm giống nhau về số phận nhân vật. Nhưng các nhà văn thì không bao giờ thích kết luận cái gì cả. :)

    Liked by 1 person

  2. genderchats
    August 9, 2015

    Mình thích và hay đọc các tác phẩm của Murakami, thích nhất cuốn “South of the Border, West of the Sun”.

    Đọc bản dịch của bạn, thực sự rất thích vì cách dịch rất chân thực và nguyên bản. Việc chọn từ và cách diễn đạt phản ánh đúng giọng và cách kể chuyện của Murakami.

    Cảm ơn đã chọn một truyện hay và đã dịch rất hay truyện ngắn đó để chia sẻ với mọi người.

    Liked by 2 people

  3. Hong-Anh Nguyen
    August 13, 2015

    Ngẫm lại thì truyện ngắn này mang dáng dấp một đoạn tiểu thuyết thường gặp của Murakami nhiều hơn là một truyện ngắn độc lập. Trong “đoạn” này thì nhân vật nữ kia có nhiều đất hơn nhưng trong cuốn tiểu thuyết giả định là không gian lớn của truyện ngắn này thì dĩ nhiên Habara vẫn là nhân vật chính quen thuộc. Lại có một lỗ hổng nào đó ở trong lòng rồi lại hoang hoải đi tìm kiếm một điểm nối giữa lỗ hổng chênh chao ấy với cuộc đời cũng rất chênh chao này.

    Với chi tiết S. đã có chồng con và một cuộc sống “bình thường” nào đó bên ngoài cuộc sống được mô tả ở đây là nhà văn đã đóng đinh cho sự biến mất của cô này khỏi cuộc đời của Habara rồi. Xuất hiện bí ẩn, biến mất bí ẩn, thế là khỏi phải giải thích nhiều mà người đọc thì cứ tha hồ nặng lòng băn khoăn :)). Nam chính của Murakami thì kiểu gì cũng sẽ có một kết thúc có hậu, kiếm được một em/chị nào đó để bắt đầu một cuộc sống mới.

    Nói chung là chừng nào mà thiên hạ vẫn còn đắm đuối với những câu chuyện kiểu này của Murakami thì chừng ấy trong lòng xã hội còn nhiều linh hồn cứ mãi loay hoay với cái tôi của chính mình.

    Liked by 2 people

  4. ha trong vu
    March 16, 2016

    “cá mút đá”? “lamprey eel” là loại lươn biển, con Chình

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on December 1, 2014 by in Truyện ngắn and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,501 other followers

%d bloggers like this: