Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Picasso” – César Aira


Picasso.jpg

César Aira (1949–) là một dịch giả và nhà văn tiêu biểu của nền văn chương Argentina đương đại. Truyện ngắn “Picasso” được in trong tập The Musical Brain and Other Stories, trans. Chris Andrews (New Directions, 2015).

Picasso

Mọi chuyện bắt đầu khi vị thần hiện ra từ chai Sữa ma thuật và hỏi tôi muốn chọn gì hơn: có một bức Picasso hay trở thành Picasso. Ông có thể cho tôi cả hai điều ước nhưng, ông cảnh báo tôi, chỉ một trong hai. Tôi phải suy nghĩ về điều đó khá lâu—đúng hơn, ông buộc tôi phải suy nghĩ. Dân gian và văn học có đầy câu chuyện về những kẻ ngốc tham lam bị trừng phạt vì sự hấp tấp của họ, khiến ta nghĩ những điều ước đó quá tốt để có thể là thật. Không có văn thư hay tiền lệ đáng tin cậy nào làm cơ sở để quyết định, bởi điều này chỉ có thể xảy ra trong các câu chuyện hoặc chuyện đùa; và trong các câu chuyện đó luôn có một mưu mẹo, nếu không thì sẽ không vui và không còn là câu chuyện. Một lúc nào đó, tất cả chúng ta đều bí mật tưởng tượng chuyện này diễn ra. Nó đã diễn ra với tôi, chỉ trừ việc không phải là kịch bản “ba điều ước” cổ điển. Điều ước vị thần cho tôi thật bất ngờ, và một trong các lựa chọn là tối hậu, đến nỗi tôi cần một lúc để đánh giá chúng.

Đó là lựa chọn lạ lùng nhưng không phải là không phù hợp; thực ra, thế lại đặc biệt thích hợp. Tôi sẽ rời Bảo tàng Picasso, trong trạng thái mê ly và ngưỡng mộ vô bờ bến, và lúc đó không ai có thể đề nghị tôi bất cứ điều gì, hoặc bất cứ hai điều gì, có thể cám dỗ tôi hơn nữa. Thực ra tôi vẫn chưa rời khỏi bảo tàng. Tôi đang ở trong vườn, ngồi trên một chiếc bàn ngoài trời, sau khi tới quán đồ uống và mua một chai Sữa ma thuật nhỏ mà tôi thấy du khách uống ở mọi nơi. Đó là buổi chiều thu hoàn hảo: ánh sáng dịu nhẹ, không khí mát mẻ, và một lúc nữa mới đến hoàng hôn. Tôi lấy sổ và bút từ túi ra để ghi chép, nhưng rốt cuộc lại chẳng viết gì.

Tôi cố gắng sắp xếp lại các ý tưởng của mình. Tôi thầm lặp đi lặp lại lời nói của vị thần: có một bức Picasso hay trở thành Picasso. Ai lại không muốn có một bức Picasso? Ai lại từ chối một món quà như thế? Nhưng mặt khác, ai lại không muốn trở thành Picasso? Có số phận nào đáng ghen tị hơn trong lịch sử hiện đại hay sao? Ngay cả những đặc quyền của quyền lực tối cao trên thế gian cũng không so sánh được với những gì mà ông đã có, bởi chúng có thể bị các sự kiện chính trị hay chiến tranh loại bỏ, trong khi quyền lực của Picasso, vượt qua quyền lực của bất cứ tổng thống hay vị vua nào, là bất khả xâm phạm. Bất cứ ai ở vị trí của tôi cũng sẽ muốn lựa chọn thứ hai, vốn bao gồm cả lựa chọn thứ nhất, không chỉ bởi Picasso có thể vẽ mọi bức Picasso ông thích mà còn bởi ai cũng biết ông giữ rất nhiều tranh của riêng mình, trong đó có những bức đẹp nhất (bảo tàng tôi đang tới thăm được thành lập với bộ sưu tập cá nhân của ông), và trong những năm cuối đời ông thậm chí còn mua lại những tác phẩm ông đã bán hồi còn trẻ.

Dĩ nhiên, sự bao gồm này không phải là tất cả những ưu điểm của việc biến thành Picasso, hoàn toàn không phải: “là” vượt xa “có,” bao gồm mọi niềm vui linh động của tạo hóa, vươn tới một chân trời không thể tưởng tượng. “Là Picasso,” sau một Picasso trong đời thật—cho dù thực sự ông ra sao—có nghĩa là là một Siêu Picasso, một Picasso được nâng tới quyền lực của ma thuật hay phép lạ. Nhưng tôi biết những tài năng của mình (je m’y connaissais en fait de génies), và tôi có thể nói hoặc đoán rằng nó không đơn giản đến thế. Có lý do chính đáng để ngần ngại, và thậm chí chùn lại trong nỗi sợ. Để trở thành người khác, một người phải chấm dứt việc là chính mình, và không ai tự nguyện đồng thuận với sự đầu hàng ấy. Không phải tôi coi trọng bản thân mình hơn Picasso, hay khỏe mạnh hơn, hay được trang bị tốt hơn để đương đầu với cuộc sống. Ông khá bất ổn (tôi biết được nhiêu đó từ tiểu sử của ông), nhưng không bất ổn bằng tôi, thế nên bằng cách trở thành ông tôi có thể phần nào cải thiện tình trạng sức khỏe tinh thần của mình. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực kiên nhẫn của cả cuộc đời, tôi đã làm hòa với chứng loạn thần kinh, những nỗi sợ hãi, lo âu, và những khuyết tật khác của mình, hoặc chí ít đã đạt được một mức độ mà tôi có thể giữ chúng dưới tầm kiểm soát, và không có gì đảm bảo phép chữa trị một phần này sẽ hiệu quả với những vấn đề của Picasso. Đó ít nhiều là lý luận của tôi, mặc dù không viết thành lời; đó chỉ là một chuỗi linh tính.

Về cơ bản, đây là một trường hợp cực đoan của vấn đề về sự đồng nhất, được đưa ra không chỉ bởi bậc thầy xứ Málaga mà còn bởi mọi nghệ sĩ mà người ta ngưỡng mộ hay tôn kính hay nghiên cứu. Vấn đề đã vượt xa Picasso, nhưng đồng thời vẫn ở lại trong ông. Sự đồng nhất là một trong những điều không thể được khái quát hóa. Không có sự đồng nhất nói chung, như một khái niệm, mà chỉ có sự đồng nhất với nhân vật này hoặc nhân vật kia nói riêng. Và nếu nhân vật là Picasso, như trong trường hợp này, thì không thể có nhân vật khác. Khái niệm này đã tự mình thay đổi hoàn toàn, như thể chúng ta nói (dù bằng một cách vụng về) rằng nó không phải là về “đồng nhất hóa Picasso” mà về “Picasso hóa sự đồng nhất.”

Một số ít cá nhân đã truyền cảm hứng cho rất nhiều bút mực; những ai từng tiếp xúc với Picasso đều để lại một lời chứng thực, một giai thoại, hoặc một bản phác họa nhân vật. Người ta gần như buộc phải tìm thấy một đặc điểm chung. Chẳng hạn, tôi đọc được rằng ông có vấn đề về hành vi. Ông thấy một mảnh giấy nằm trên sàn nhà trong căn hộ, và nó làm ông khó chịu, nhưng ông sẽ không nhặt nó lên, và mảnh giấy cứ thế nằm đó trong mấy tháng trời. Chính xác là điều tương tự cũng xảy đến với tôi. Nó giống như một điều cấm kỵ nhỏ, không thể hiểu được, một tình trạng tê liệt ý chí, ngăn tôi làm những điều tôi muốn làm, và làm như vậy vô thời hạn. Picasso cố gắng sửa chữa nó bằng khối lượng nghệ thuật điên cuồng của ông, như thể bằng cách vẽ hết bức này tới bức khác ông có thể khiến mảnh giấy tự nhặt nó lên.

Dù duyên cớ là gì thì cũng không thể nghi ngờ tính liên tục của tác phẩm của ông, thông qua mọi sự biến hình của ông. Picasso chỉ là Picasso chừng nào ông còn là họa sĩ, nên nếu tôi trở thành Picasso thì tôi có thể vẽ mọi bức Picasso mà tôi thích, bán chúng và trở nên giàu có, và có thể (bởi giới giàu có thể làm mọi chuyện trong những ngày này) thôi là Picasso nếu tôi cảm thấy mắc kẹt trong một cuộc sống mà tôi không thích. Đó là lý do tôi nói món quà “là” bao gồm cả món quà “có.”

Picasso từng nói, “Tôi muốn giàu có, để có thể sống trong yên bình, như những người nghèo.” Đặt sang một bên niềm tin mê muội rằng người nghèo không có vấn đề, có điều gì đó thật kỳ lạ trong câu nói của ông: ông vốn đã giàu khi ông nói vậy, rất giàu. Nhưng chưa giàu bằng bây giờ, ba mươi năm sau khi ông chết, với sự gia tăng của giá tranh ông vẽ. Mọi người đều biết các họa sĩ phải chết, và do đó ngừng vẽ, để sản phẩm của họ trở nên thực sự giá trị. Vậy mới có một hố ngăn kinh tế giữa việc “là Picasso” và “có một bức Picasso,” cũng như giữa sự sống và cái chết. Lời nhận xét về việc sống trong yên bình, bỏ qua một bên sự thơ ngây dễ dãi của nó, có thể được áp dụng cho tình huống mà vị thần đã đặt tôi vào; đó là thông điệp từ thế giới bên kia, được gửi tới khi biết rằng điều ước tha thiết nhất của tôi là một cuộc sống yên bình thật sự, không có vấn đề.

Với mức giá hiện tại, và với sự khiêm tốn tương đối của nguyện vọng của mình, chỉ một bức là đủ để giúp tôi giàu có và cho tôi được sống trong yên bình, viết tiểu thuyết, thư giãn, và đọc sách.… Tôi quyết định rồi. Tôi muốn một bức Picasso.

* * *

Ý nghĩ ấy mới xuất hiện trong tâm trí tôi chưa được bao lâu thì một bức tranh đã xuất hiện trên bàn, mà chẳng ai để ý tới; lúc đó, những người ngồi bàn bên cạnh đã đứng dậy và rời đi, còn những người khác thì quay lưng về phía tôi, những nữ phục vụ ở quán đồ uống cũng vậy. Tôi nín thở, nghĩ, Nó là của mình.

Thật tuyệt vời: một bức sơn dầu cỡ trung từ những năm ba mươi. Tôi chăm chú ngắm nó trong một lúc lâu. Thoạt đầu, nó là sự hỗn loạn của các nhân vật bị đặt sai vị trí, sự chồng chất của các đường nét và màu sắc hoang dại nhưng về cơ bản lại hài hòa. Rồi tôi trở nên nhận thức được sự bất đối xứng đẹp đẽ đập vào mắt người xem, rồi ẩn đi, rồi xuất hiện trở lại ở nơi khác, rồi biến mất lần nữa. Lớp sơn nổi, các đường nét (được vẽ bằng kỹ thuật alla prima), là minh chứng bậc thầy của sự tự tin chỉ có thể đạt được bằng trình độ điêu luyện tự nhiên.

Nhưng phẩm chất hình thức của bức tranh chỉ đơn thuần là một lời mời khám phá nội dung tường thuật của nó, bắt đầu để lộ bản thân từng chút từng chút một, như thể tôi đang giải mã chữ tượng hình. Trước hết là một bông hoa, một bông hồng đỏ thắm, nổi lên từ những bề mặt lập thể đa lớp của những cánh hoa; đối diện nó, như một hình ảnh phản chiếu, là một bông nhài trong màu trắng tinh nguyên, được vẽ theo phong cách Phục hưng, ngoại trừ vòng xoắn vuông góc của tua hoa. Trong sự đụng độ giữa hình và nền, đặc trưng của Picasso, không gian được lấp đầy bằng những người dê và người sên nhỏ bé, đội mũ lông chim, áo chẽn và quần ống túm, hoặc mặc giáp; cũng có những nhân vật trần truồng, giống người lùn và để râu quai. Nhân vật chủ tọa trong khung cảnh cung đình này chắc hẳn là nữ hoàng, dựa theo vương miện của bà: một nữ hoàng khuyết tật kỳ quái, như một món đồ chơi hư hỏng. Hiếm khi nào sự biến dạng của cơ thể phụ nữ, một trong những thương hiệu của Picasso, lại được đưa tới mức cực đoan như vậy. Chân tay bà chìa ra khỏi cơ thể không theo một trật tự nào, rốn và mũi bà đuổi nhau trên lưng, cối xay của thân mình bà được dát bằng nhiều vết ố màu trên váy, và một chân, bọc trong chiếc giày cao gót khổng lồ, chĩa thẳng lên trời…

Đột nhiên, cốt truyện lộ mình trước tôi. Tôi đang nhìn bức tranh minh họa cho một câu chuyện dân gian Tây Ban Nha, hay đúng hơn, một câu chuyện đùa, câu chuyện đùa thuộc dạng nguyên bản và trẻ con nhất; chắc hẳn nó đã trở lại với Picasso từ thời thơ ấu của ông. Câu chuyện đùa nói về một nữ hoàng què quặt không nhận thức được khuyết tật của mình, và thần dân của bà cũng không dám nói ra điều đó. Quan nội chính cuối cùng nghĩ ra một chiến lược khéo léo để cho bà biết. Ông tổ chức một cuộc thi hoa, trong đó những người làm vườn của vương quốc sẽ cạnh tranh bằng các mẫu vật tốt nhất của họ. Một ban giám khảo gồm các chuyên gia thu hẹp lại còn hai bông hoa lọt vào chung khảo: một bông hoa hồng và một bông hoa nhài. Quyết định cuối cùng, sự lựa chọn bông hoa thắng cuộc, thuộc về nữ hoàng. Trong một buổi lễ hoành tráng, với sự tham dự của toàn bộ quần thần, quan nội chính đặt hai bông hoa lên trước ngai vàng, và mời bậc quân vương của ngài bằng giọng nói to, dõng dạc, “Su Majestad, escoja,” nghĩa là, “Bệ hạ, mời người chọn,” nhưng nếu tách từ cuối cùng ra (“Su Majestad es coja”) thì lại nghĩa là, “Bệ hạ, người bị thọt.”

Giọng điệu hài hước của câu chuyện được diễn dịch một cách trực quan bằng sự rối rắm đa màu sắc của đám quần thần, bằng vị quan nhiếp chính mập lùn đang giơ ngón trỏ (to hơn cả thân hình còn lại của ông), và, trên hết, bằng nữ hoàng, được tạo nên bằng nhiều lớp vẽ chồng chéo đến nỗi trông bà như thể được nặn ra từ một bộ bài được gấp lại hàng trăm lần, bác bỏ cái ý tưởng cho rằng chín là số lần tối đa một mảnh giấy có thể gấp đôi lại được.

Câu chuyện có một số chi tiết hấp dẫn, khiến Picasso quyết định biến nó thành một hình ảnh có thêm nhiều lớp ý nghĩa. Thứ nhất, nhân vật chính què quặt và không biết điều đó. Người ta có thể không nhận thức được nhiều điều về bản thân mình (ví dụ, lấy trường hợp ngay trước mắt, việc họ là thiên tài), nhưng khó mà tưởng tượng được điều đó có thể diễn ra với một khiếm khuyết về thể chất rõ ràng như què quặt. Có lẽ lời giải thích nằm trong vị thế vương giả của nhân vật chính, vị thế Một và chỉ một, ngăn bà đánh giá bản thân mình bằng những tiêu chuẩn thể chất thông thường.

* * *

Một và chỉ một, cũng như chỉ có duy nhất một Picasso. Có điều gì đó mang tính tự truyện về bức họa và về ý tưởng nó dựa trên một câu chuyện đùa thuở thơ ấu mà chắc hẳn ông đã nghe được từ bố mẹ hay bạn học, và thậm chí về cả việc sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách ẩn ý của ông, mà nếu không có nó thì câu chuyện đã chẳng còn hài hước và vô nghĩa. Bức tranh được vẽ trong thời gian Picasso đã ở Pháp được 30 năm và hoàn toàn thích nghi với ngôn ngữ và văn hóa bản địa; thật kỳ lạ, nói một cách nhẹ nhàng nhất, khi ông tìm tới tiếng Tây Ban Nha để đem lại chiếc chìa khóa cho một tác phẩm mà nếu không có nó thì sẽ không thể hiểu được. Có lẽ cuộc nội chiến Tây Ban Nha đã làm sống lại chất yêu nước trong ông, và bức họa này là một kiểu kính trọng âm thầm đối với quê hương, vốn đã tan hoang vì cuộc xung đột. Có lẽ, và điều này không nhất thiết loại trừ giả thuyết trước đó, căn nguyên của tác phẩm kia là một ký ức tuổi thơ, mãi tồn tại như một khoản nợ cần trả khi nghệ thuật của ông đã đạt tới một mức độ đủ quyền lực và tự do. Suy cho cùng, đến những năm ba mươi, Picasso đã được công nhận là một họa sĩ ưu tú về những phụ nữ bất đối xứng: làm phức tạp việc đọc hiểu một bức vẽ bằng cách đưa ra một đường vòng ngôn ngữ chỉ là một phương tiện bóp méo khác, dù được hoàn thành, trong trường hợp này, bằng cách áp dụng nó lên một nữ hoàng.

Còn một giả thuyết thứ ba, ở một mức độ khác so với hai giả thuyết đầu, liên quan đến nguồn gốc siêu nhiên của bức họa. Cho đến lúc này, vẫn chưa ai biết nó từng tồn tại; bí ẩn của nó, bí mật của nó, vẫn còn nguyên vẹn cho đến khi nó hiện hữu trước mắt tôi, một người nói tiếng Tây Ban Nha, một nhà văn Argentina yêu mến Duchamp và Roussel.

Dù thế nào thì nó cũng là một bức độc nhất, là số ít ngay cả trong những tác phẩm của một nghệ sĩ lấy tính dị biệt làm nguyên tắc; nó khó mà không leo tới một mức giá kỷ lục. Trước khi bắt đầu một trong những ý nghĩ tưởng tượng thường lệ của mình về sự giàu có trong tương lai, tôi dành thêm một chút thời gian để chiêm ngưỡng bức kiệt tác. Tôi mỉm cười. Nữ hoàng bé nhỏ xiêu vẹo này, người phải sắp xếp lại đám chân tay lộn xộn một lần nữa mới nhận được ra, thật cảm động, có khuôn mặt như bánh bích quy (một khi ta tìm ra), vương miện vàng màu giấy gói sô cô la, và đôi bàn tay như con rối. Bà là trung tâm của một không gian không tâm. Vòng tròn quần thần, bộ sưu tập thực sự gồm những phép lạ hội họa, đang chờ đợi lựa chọn của bà; sự phù du của những bông hoa là một lời nhắc nhở về thời gian, mà với bà nó không phải một quá trình mà là một khoảnh khắc của sự hiểu biết, một nhận thức sau cùng, sau cả một đời ảo tưởng.

Có thể tưởng tượng ra một phiên bản tàn nhẫn hơn của câu chuyện này: nữ hoàng luôn biết rằng bà què quặt (làm sao mà không biết cho được?), nhưng phép cư xử đúng mực đã ngăn thần dân của bà đề cập tới một chủ đề mà bà muốn tránh. Một ngày, triều thần thách đố một người dám nói ra điều đó trước mặt bà. Điều này có thể thực tế hơn, nhưng không phải những gì bức tranh thể hiện. Không ai lại đem nữ hoàng ra làm trò đùa; không ai lại chế nhạo bà. Các triều thần đều mến mộ bà, và muốn bà biết điều đó. Bên dưới thông điệp bề ngoài (“mời người chọn”), thông điệp ẩn (“người bị thọt”) được dành cho bà: bà nghe nó và rồi, trong một tia sáng giác ngộ, bỗng hiểu tại sao thế giới rung chuyển khi bà bước đi, tại sao đường viền trang phục của bà được cắt chéo, và tại sao viên đại thần luôn vội vã tới đưa tay đỡ bà mỗi lần bà xuống cầu thang. Họ phải mượn đến ngôn ngữ của loài hoa, phương tiện vĩnh cửu của những thông điệp tình yêu. Bà phải chọn bông hoa đẹp nhất trong vương quốc, cũng như tôi buộc phải chọn giữa hai món quà mà vị thần ban cho.…

Và ngay lúc đó tia sáng giác ngộ của tôi tới, đóng băng nụ cười trên gương mặt tôi. Tại sao điều đó không xảy đến trước khi tôi có thể hiểu, nhưng tất cả những gì quan trọng là nó đã xảy đến với tôi ngay lúc này. Như trong một cơn ác mộng, một vấn đề không thể giải quyết lờ mờ hiện ra, nhấn chìm tôi trong lo âu. Tôi vẫn đang ở trong bảo tàng, sớm muộn gì tôi cũng phải ra về; cuộc sống của tôi như một người đàn ông giàu có chỉ có thể bắt đầu ở bên ngoài kia. Làm sao tôi rời được Bảo tàng Picasso với một bức Picasso dưới cánh tay? ♦

Bản dịch © 2015 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

2 comments on “Truyện ngắn: “Picasso” – César Aira

  1. phuong duong
    October 2, 2015

    đôi khi một sự việc xảy ra chỉ để cho mình ngộ ra mình là ai…

    Like

  2. diyday
    December 11, 2015

    Hello. I don’t read in Vietnamese. I’m Indonesian. I’ve just translated this story into my language and while googling to know about it more I found your blog. It’s interesting to know that there’s Vietnamese version of the story, and of some other stories I’ve translated either (I have a look to your archive). Sorry for my bad English. Regards.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on September 26, 2015 by in Truyện and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,648 other followers

%d bloggers like this: