Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Xám” – Sheila Heti

grayness

Illustration by Camille Chevrillon

Sheila Heti (1976–) là nhà văn người Canada. Cô là tác giả của tám cuốn sách hư cấu và phi hư cấu, bao gồm các cuốn tiểu thuyết Motherhood, How Should a Person Be?, và Ticknor.

Xám

Cả thế giới đã có thể vẫn xám, như trong quá khứ, trong những bộ phim cũ. Nhưng rồi một ngày màu sắc đã đến, một lúc nào đó giữa khi ấy và bây giờ. Tôi nghĩ đó chắc hẳn là những cuộc chiến. Sau những cuộc chiến người ta nói, Chúng ta cần một lý do để bớt buồn phiền. Có người đề nghị, Màu sắc? Thế giới đồng ý màu sắc là cần thiết, để kéo người ta ra khỏi nỗi tuyệt vọng của cái chết, ra khỏi tất cả những khúc xương chất đống. Màu sắc đã được đưa vào. Chúng được chở đến bằng xe tải, và mọi người đều lấy thỏa thuê. Đặt màu sắc vào nơi của nó là việc của tất cả mọi người trên hành tinh này. Một số thứ đã được quyết định trước, như cỏ thì xanh, và bạn sẽ nhận vé phạt nếu cho cỏ của mình màu lam hoặc đỏ. Nhưng những thứ khác bạn có thể quyết định, như màu áo của bạn. Đó là một ủy ban nhỏ gồm những người đưa ra những quyết định lớn, họ cần thiết, nhưng mỗi cá nhân khiêm tốn, làm công việc của họ, thì cũng thế. Thế giới thở phào nhẹ nhõm: bây giờ mọi thứ đã đẹp hơn rất nhiều! Và trong nhiều ngày đã không có cuộc chiến nào, chỉ có người ta tận hưởng màu sắc, nhưng con người thì mau chóng thích nghi với những gì đẹp đẽ và tốt đẹp, và sau đó các cuộc chiến lại bắt đầu, và ủy ban bị giải tán.

Cách đây đã lâu tôi cũng là thành viên của ủy ban này—không phải ủy ban ban đầu, mà là ủy ban lập ra để kỷ niệm, gồm con gái của các ủy viên. Chúng tôi tập hợp để ghi lại những gì đã thực sự xảy ra trong các cuộc trò chuyện đó, để chúng tôi có thể kể lại với thế giới. Chúng tôi đã hỏi cha mình, Ở trong ủy ban thì như thế nào? Các cuộc họp đã diễn ra như thế nào? Nhưng họ đã mất trí nhớ, một số người, và những người khác thì giận dữ với các thành viên khác của ủy ban, và không chịu cho chúng tôi biết lý do. Chúng tôi thu thập được rất ít thông tin để để dành lại cho thế giới, cho hậu thế. Rồi chúng tôi cũng giải thể. Chúng tôi tự nhủ, Thôi thì cứ tận hưởng màu sắc. Ai quan tâm làm thế nào nó có mặt ở đây? Và chúng tôi đã làm như thế. Chúng tôi trở nên giống như mọi người khác, không phải các nhân viên lưu trữ của quá khứ, mà là những con người bình thường đi qua những màu sắc của hiện tại, như thể chúng tôi chẳng biết gì.

Rồi một hôm, Amanda nghĩ thực ra chúng tôi nên nói chuyện với những người trên thế giới đã tham gia phân tán màu sắc trên mặt đất, chỉ là những người bình thường, những người đã làm việc đó. Các cô con gái còn lại đều đã mệt, nhưng tôi muốn làm cùng cô, vì tôi thích cô và chuyện đó nghe có vẻ vui. Tôi hỏi cô có nghĩ tôi nên mang máy quay đi không, và cô nói có, chúng tôi có thể làm một bộ phim tài liệu. Chúng tôi đến một thị trấn nhỏ và đứng ở quảng trường và tiếp cận những người đang đi mua sắm cuối tuần và hỏi họ nó thế nào khi bắt đầu có màu sắc, và họ có tham gia tô màu mọi thứ không? Chúng tôi chỉ hỏi người già. Hầu hết không muốn nói chuyện với chúng tôi, nhưng một bà cụ thì có. Bà mời chúng tôi về căn hộ của bà uống trà.

Căn hộ bà tràn ngập màu sắc, giống như thế giới còn lại, trừ một góc vẫn xám. Đó là góc bí mật chưa được tô màu của riêng bà—có lẽ là nơi duy nhất như thế trên thế gian này! Thế giới sẽ lên cơn kích động khi biết vẫn còn một góc chưa được tô màu; nhưng bà nói suốt năm mươi năm, sáu mươi năm, bảy mươi năm nay, bà đã không cho bất cứ ai vào. Bà thà từ bỏ những người chồng và những người bạn, để có thể giữ một góc của thế giới không màu.

Rõ là bà rất yên tâm khi có nó, yên tâm như có một con chuột nhỏ màu xám làm bạn. Ồ, bà bảo chúng tôi, khi bà nói với cái máy quay phim, tránh giao tiếp bằng mắt với nó, những ngón tay mân mê tách trà trên chiếc đĩa nhỏ, đó là tất cả những gì mà người ta có thể nói đến—chị định cho cái này màu gì? Chị định cho cái kia màu gì? Chẳng phải mọi thứ bây giờ đều rất đẹp sao? Làm thế nào mà chúng ta đã sống được với cái sắc xám đó? Tại sao thế giới lại mất nhiều thời gian đến thế? Cái cách mà chúng ta đều đang hợp tác, chẳng phải tốt đẹp lắm sao?

Bà có những biểu hiện chua chát nho nhỏ khi bắt chước những người từ lâu lắm rồi, nhiều người bây giờ đã chết, bà nói. Bà cũng đã lao vào cơn say trong một thời gian ngắn, tô mọi thứ trong tầm mắt, thậm chí cả những thứ không nằm trong thẩm quyền, như hàng rào nhà hàng xóm.

Nhưng một hôm bà trở về căn hộ, nơi bà chưa tô màu trong góc. Bà đã tô màu những thứ khác, bà chỉ chừa nó lại. Bà nghĩ, Thôi mệt rồi, mai rồi làm. Bà kể chúng tôi chuyện này với đôi mắt buồn rầu. Và chuyện gì đã xảy ra? Ngày mai biến thành ngày mai, như với rất nhiều người chúng ta. Nó cứ xuất hiện mãi trong danh sách việc cần làm, như một việc đã ở đó nhiều tháng đến nỗi bạn không còn để ý đến nữa. Và tháng chuyển thành năm, và bằng cách nào đó bà đã không bao giờ làm chuyện đó. Có vấn đề gì với những thứ không bao giờ biến mất khỏi danh sách? Có phải là nó thực ra chúng ta không muốn làm? Hay thậm chí chúng ta không cần làm? Chúng ta đưa nó vào vì nghĩ mình nên làm. Sao không gạch nó đi cho rồi? Và thế là rốt cuộc bà đã gạch nó đi, và đến lúc đó thế giới đã không còn đủ màu sắc mà bà có thể dùng để tô vào cái góc.

Bà đã ở lại căn hộ đó—nhiều người khuyên bà chuyển đi, vì dân nhập cư đang chuyển vào tòa nhà, và vì vậy bạn bè bà nghĩ bà nên chuyển. Nhưng cho dù không ưa gì dân nhập cư, bà đã không để ý đến họ cho lắm, họ là những láng giềng tốt bụng, và cái góc ảm đạm đó đã trấn an bà một cách hơi buồn cười. Bà nhìn nó mỗi ngày lúc uống trà. Không, bà đã không có ai ghé thăm và phải, những người hàng xóm nhập cư đáng mến đã nghĩ bà là một kẻ hợm hĩnh, nhưng thực sự bà phải làm gì nếu một người họ phát hiện ra và bép xép với ai đó? Bà không thể mạo hiểm. Và bà đã không mạo hiểm. Cuối cùng bà đứng dậy dẫn chúng tôi ra ngoài, rất rất buồn. Bà bảo chúng tôi làm ơn đừng phát sóng phim tài liệu, hoặc viết về nó, khi bà còn sống. Bà muốn sống với cái góc nhỏ như thế cho đến khi chết, không bị bắt đi hay phải vào tù, hay có ai đó từ ủy ban nào đó đến tô màu nó, nên chúng tôi đồng ý, vì chúng tôi thấy tiếc cho bà, và chúng tôi thích bà.

Cuối cùng bà ra đi vào năm ngoái, và tuần tới phim tài liệu của chúng tôi sẽ lên sóng, nhưng chúng tôi thấy buồn vì điều đó. Chủ yếu là chúng tôi ước gì mình đã không đợi ngày kỷ niệm này, một năm ngày giỗ của bà, với cái kiểu ham muốn cho thế giới thấy những gì mình đã làm mà mọi người cảm thấy. Chúng tôi tự hào về bộ phim ngắn mà chúng tôi làm, và tự hào đã tìm thấy câu chuyện này, nhưng không tự hào về chuyện bà phải chết để chúng tôi được đưa nó ra thế giới. Bà sống, và sống với cái góc của bà, thì tốt hơn là chúng tôi được chiếu bộ phim của mình. Tại sao luôn luôn có quá nhiều nỗi buồn khi một điều tốt xảy ra, một sự cân bằng giữa cái tốt và cái xấu? Bà chẳng thể nói, Cứ cho thế giới thấy bộ phim của các cháu! và cảm thấy an toàn rằng chẳng còn ai quan tâm đến một góc nhỏ chưa được tô màu hay sao? Không, nhưng có lẽ bà biết một điều gì đó mà chúng tôi không biết, về màu sắc, và sắc xám, và các góc, cái gì thì được phép đối với bạn trong sự riêng tư của bạn, trong căn hộ nhỏ bé của bạn, còn cái gì thì không.

Sheila Heti, “Grayness,” The New Yorker (July 16, 2020).

Copyright © 2020 by Sheila Heti | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on July 16, 2020 by in Truyện and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: