Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Cơn khủng hoảng nhân khẩu học của Nga


Nguồn: Joseph Chamie & Barry Mirkin, “Russian Demographics: The Perfect Storm,” YaleGlobal, Dec. 11, 2014.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Sự chú ý của thế giới hầu hết tập trung vào việc đồng rúp giảm mạnh, bốc hơi đầu tư và bóng ma suy thoái của Nga sau khi nó chiếm đất Crimea và can thiệp vào Ukraina khiến nhiều người không nhận ra cơn bão khủng hoảng đang kéo đến bên trong biên giới nước này: nhân khẩu học.

Cơn khủng hoảng nhân khẩu học, bao gồm tỉ lệ tử vong tương đối cao, tỉ suất sinh thấp cùng chảy máu chất xám đang ngày một đè nặng lên xã hội Nga và nền kinh tế đang xấu đi của nó. Bên cạnh việc lực lượng lao động bị thu hẹp, những chi phí tốn kém cho dân số già và các ca chết non phiền hà, Nga đang phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc phải tuyển dụng phần lớn người lao động phổ thông nhập cư cho các công việc quan trọng, mà rất nhiều người đang làm việc bất hợp pháp.

Trong hầu hết nửa sau thế kỷ 20, dân số Nga không ngừng tăng trưởng. Chỉ với hơn 100 triệu người năm 1950, dân số Nga đã đạt mức 149 triệu người vào đầu những năm 1990. Kể từ đó đến nay, dân số Nga tụt giảm, con số mà các báo cáo chính thức đưa ra là khoảng 144 triệu người.

Dân số giảm là kết quả của việc tỉ suất tử lớn hơn tỉ suất sinh trong gần hai thập niên và số người nhập cư không đủ để bù đắp lượng thiếu hụt. Số người chết tăng lên phản ánh tỉ suất tử đang ở mức tương đối cao. Số trẻ được sinh ra giảm là do tỉ suất sinh thấp, ở mức 1,2 ca sinh/phụ nữ cuối thập niên 1990 và hiện nay dao động trong khoảng 1,7 ca sinh/1 phụ nữ. Tỉ lệ đó vẫn thấp hơn 20% so với mức 2,1 ca sinh/1 phụ nữ, mức độ cần thiết để đảm bảo sự thay thế dân số.

Tỉ lệ hút thuốc, rượu bia, sử dụng ma túy, HIV/AIDS, bệnh lao, béo phì, bệnh tim, bạo lực, tự tử và ô nhiễm môi trường cao góp phần làm cho sức khỏe người Nga đi xuống. Ước lượng tuổi thọ khi sinh (life expectancy at birth) của nam giới Nga hiện nay là 64 tuổi, thấp hơn 15 năm so với ước lượng tuổi thọ khi sinh của người Đức, Ý, và Thụy Điển.

Chênh lệch giữa ước lượng tuổi thọ khi sinh của nam và nữ ở Nga cũng đáng chú ý; ở mức gần 13 năm, một trong những sự chênh lệch giới tính lớn nhất. Chưa hết, ước lượng tuổi thọ khi sinh của phụ nữ Nga ở mức 74 năm cũng chưa là gì so với nhiều nước phát triển khác, chẳng hạn như ở Ba Lan là 80 tuổi.

Chính sách để giải quyết cơn khủng hoảng về sức khỏe vẫn chưa thỏa đáng. Chiến dịch hạn chế tiêu thụ rượu định kỳ của Nga không hiệu quả. Ước tính có khoảng 700.000 người Nga đang phải chung sống với HIV/AIDS trong năm 2013, tăng 5% so với năm trước đó. Với chính sách cấm liệu pháp thay thế opioid và các dịch vụ điều trị cho người nghiện ma túy, tỉ lệ nhiễm HIV trong nhóm người Nga tiêm chích ma túy ở mức 18-31%.

Ở hầu hết các nước châu Âu áp dụng chương trình cung cấp kim tiêm miễn phí (needle exchange programme) và liệu pháp thay thế opioid, tỉ lệ người tiêm chích ma túy nhiễm HIV/AIDS chỉ ở mức thấp, dưới 17%. Để hạn chế hút thuốc, ước tính 40% dân số trưởng thành, hiện nay Nga đã cấm hút thuốc nơi công cộng. Xét về chi phí y tế bình quân đầu người, Nga đứng gần cuối trong số các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), ở mức 1.474 USD/người năm 2012, mức trung bình của OECD là 3.484 USD/người.

Mặc dù gần đây có tăng, tỉ suất sinh thấp vẫn tồn tại do các dịch vụ sức khỏe sinh sản không đầy đủ, thiếu biện pháp tránh thai hiện đại với chi phí thấp, nạo phá thai không an toàn và phổ biến, vô sinh, phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ít hơn, thái độ đối với hôn nhân thay đổi và vô sinh tự nguyện. Hơn nữa, tỉ lệ phá thai ở Nga, ước tính trung bình hai lần phá thai trên mỗi lần sinh, vốn đã ở mức cao nhất trên thế giới.

Một yếu tố khác khiến tỉ lệ sinh thấp là tỉ lệ li hôn cao. Trong năm 2012, cứ hai cuộc hôn nhân lại có một vụ li dị. Để hạn chế xu hướng này, chính phủ đã khuyến khích sinh sản thông qua nhiều biện pháp khác nhau. Chẳng hạn, các gia đình Nga được một khoản 429.408 rúp, tương đương 12.500 USD khi đó, sau khi sinh con hoặc nhận con nuôi.

Năm 2013, chính phủ đã cân nhắc việc tăng thuế li dị như một biện pháp hạn chế li hôn và phát huy giá trị gia đình. Bảo vệ trẻ em và truyền thống gia đình cũng là lí do chính phủ ban hành Luật tuyên truyền LGBT [hay luật chống đồng tính] nhằm ngăn chặn những tư tưởng về “các mối quan hệ tình dục phi truyền thống” giữa người trẻ phát tán. Chính phủ cũng đang cân nhắc việc khôi phục thuế vô sinh, nhắm đến khoảng 10% phụ nữ ở cuối độ tuổi tứ tuần.

Mặc dù là đất nước có số dân nhập cư lớn thứ hai trên thứ giới, với 11 triệu người, tương đương 8% dân số, lượng người nhập cư không bù đắp được lượng người di cư đi. Những người nhập cư này thường đến từ các nước Liên Xô cũ nghèo đói và ít học, do đó thường chấp nhận những công việc lương thấp, bởi thế mà người dân Nga không ưa gì chấp nhận. Nhiều người di cư đến từ các nước cộng hòa Trung Á và Caucasus [Cáp-ca-dơ] cũ, đặc biệt là Uzbekistan, Tajikistan và Kazakhstan, bởi thế họ có nhiều khác biệt về tôn giáo, sắc tộc, và ngôn ngữ so với các dân tộc Nga bản địa.

Hơn nữa, hơn 1/3 số người nhập cư này, tương đương khoảng 4 triệu, đang cư trú bất hợp pháp và phải sống thường xuyên dưới nguy cơ bị quấy rối và trục xuất. Nhập cư bất hợp pháp đã trở thành vấn đề chính trị đến nỗi nó đã kích động bài ngoại và chủ nghĩa siêu dân tộc, tạo nên rất nhiều nhóm chống nhập cư.

Gần đây, khoảng 800.000 người, trong đó có nhiều người Nga bản địa, buộc phải di cư bởi các cuộc xung đột liên tục diễn ra ở Ukraine, đã tràn vào lãnh thổ Nga dưới nhiều trạng thái khác nhau. Một số trường hợp được nhận trợ cấp của chính phủ, cũng như được đưa tới định cư ở nhiều khu vực khác nhau trên khắp đất Nga. Những lượt người bổ sung đến từ Ukraina nhiều khả năng sẽ tiếp tục gây ra bất ổn ở những khu vực này.

Chính sách nhập cư của Nga tập trung vào thu hút lao động có tay nghề cao từ nước ngoài, nhưng nó đã thất bại. Lao động nhập cư được xem là vô cùng cần thiết để chống lại sự suy giảm mạnh của dân số Nga trong độ tuổi lao động, dự kiến nó sẽ giảm 25% đến giữa thế kỷ này.

Dân số lão hóa đang đặt gánh nặng lên nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, sản xuất, các lực lượng vũ trang và các chương trình hưu trí. Trong thập niên tới, lực lượng lao động của Nga dự kiến sẽ giảm còn khoảng hơn 12 triệu, tương đương 15% dân số.

Tuổi nghỉ hưu thấp còn khiến lực lượng lao động của Nga suy giảm trầm trọng hơn: 60 tuổi đối với nam và 55 đối với nữ. Trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như nghề nghiệp nguy hiểm hoặc thất nghiệp, tuổi nghỉ hưu còn thấp hơn. Tuy nhiên, dân số già hơn không phải là điều tốt. Theo một cuộc khảo sát toàn cầu 2014 về phúc lợi kinh tế và xã hội của người cao tuổi, Nga xếp thứ 65 trên 96 quốc gia.

9af56-chamiefig1

Kích thước dân số tương lai của Nga có thể đi theo một số kịch bản, chủ yếu được xác định bởi tỉ suất sinh (Hình 1). Ví dụ, nếu tỉ suất sinh cơ bản là tiếp tục giữ nguyên, đây không phải giả định không hợp lý, thì dân số Nga sẽ giảm xuống còn khoảng 111 triệu vào giữa thế kỷ này và 67 triệu vào năm 2100. Tức là dân số Nga sẽ giảm còn một nửa kích thước hiện tại vào cuối thế kỷ 21.

Tỉ suất sinh của Nga có thể tăng trong những thập niên tới. Tuy nhiên, thậm chí giả sử rằng nó tăng lên 1,9 ca sinh/1 phụ nữ cho đến cuối thế kỷ này – biến trung bình (the medium variant) – thì dân số Nga sẽ tiếp tục giảm còn 121 triệu người vào giữa thế kỷ này và 102 triệu vào cuối thế kỷ.

Nếu tỉ suất sinh lập tức tăng và duy trì ở mức sinh thay thế là 2,1 ca sinh /1 phụ nữ trong thế kỷ này, một kịch bản khó có thể thể xảy ra nhưng đưa ra để biết, dân số Nga sẽ tăng lên 141 triệu người vào năm 2050 và 151 triệu người vào năm 2100. Hơn nữa, nếu tỉ suất sinh lớn hơn mức sinh thay thế, ở mức 2,4 ca sinh/1 phụ nữ cho đến năm 2100 – biến cao (the high variant) – khả năng còn khó xảy ra hơn nữa, dân số Nga sẽ tăng lên đến 175 triệu người vào cuối thế kỷ này.

Trong khi nhiều người có thể lạc quan về sự phục hồi nhân khẩu, dân số của Nga rất có thể sẽ tiếp tục giảm trong những thập niên tới, có thể đạt mức cuối cùng trong năm 2100, tương tự như số dân năm 1950, khoảng 100 triệu người. Để tránh suy giảm dân số, tỉ suất sinh của Nga phải tăng và duy trì ít nhất là ở mức sinh thay thế trong suốt thế kỷ này, một kịch bản khả dĩ, nhưng không chắc có thể xảy ra.

Bản dịch © 2014 Nguyễn Huy Hoàng

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on December 11, 2014 by in Chính trị, Văn hóa & Xã hội and tagged , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,632 other followers

%d bloggers like this: