Nguyễn Huy Hoàng

H. L. A. Hart: Về luật như là các mệnh lệnh cưỡng chế


HLA Hart.jpg

Hart, H. L. A., “Law as Coercive Orders.” The Concept of Law. 2nd edn., with a Postscript edited by Penelope Bulloch and Joseph Raz (Oxford: Clarendon Press, 1994), 20–25.

H. L. A. Hart (1907–1992), cố giáo sư luật học tại Viện Đại học Oxford, là một trong những nhà triết học pháp lý quan trọng nhất thế giới trong thế kỷ 20. The Concept of Law, xuất bản lần đầu năm 1961, là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.

Về luật như là các mệnh lệnh cưỡng chế

(Bản dịch nháp)

Ngay cả trong một xã hội lớn, phức tạp, như xã hội của một nhà nước hiện đại, cũng có những dịp một viên quan chức, mặt đối mặt với một cá nhân, ra lệnh cho anh ta làm điều gì đó. Một viên cảnh sát ra lệnh cho một chiếc xe cụ thể dừng lại hoặc một người ăn mày cụ thể đi tiếp. Nhưng những tình huống đơn giản này không phải là, và không thể là, cách thức tiêu chuẩn mà pháp luật hoạt động, bởi vì không xã hội nào có thể hỗ trợ số lượng quan chức cần thiết để đảm bảo mọi thành viên của xã hội đều được thông báo một cách chính thức và riêng rẽ về mọi hành động anh ta được yêu cầu thực hiện. Thay vào đó, những hình thức kiểm soát cụ thể hóa như vậy hoặc là ngoại lệ, hoặc là phần bổ sung hoặc phần củng cố kèm theo của những hình thức chỉ dẫn chung vốn không định rõ, và không hướng đến, các cá nhân cụ thể, và không hướng dẫn một hành động cụ thể được thực hiện. Do đó, hình thức chuẩn của ngay cả một điều luật hình sự (thứ tương đồng nhất với một mệnh lệnh được hỗ trợ bằng sự đe dọa trong mọi dạng luật pháp) là tổng quát theo hai nghĩa; nó chỉ ra một dạng ứng xử chung và áp dụng cho một nhóm người chung được kỳ vọng là biết nó áp dụng cho họ và tuân thủ nó. Các chỉ dẫn mặt đối mặt, định rõ, chính thức ở đây có vị trí thứ yếu: nếu chỉ dẫn tổng quát sơ cấp không được một cá nhân cụ thể chấp hành, các quan chức có thể nhắc nhở và yêu cầu tuân thủ, như một thanh tra thuế vẫn làm, hoặc sự bất tuân có thể được chính thức xác định và lập biên bản, và hình phạt được đe dọa từ trước có thể được áp đặt bởi một tòa án.

Sự kiểm soát pháp lý do đó chủ yếu, dù không chỉ, là kiểm soát bằng các chỉ dẫn chung theo ý nghĩa kép nói trên. Đây là đặc điểm đầu tiên mà chúng ta phải thêm vào mô hình đơn giản về tay súng [tiến vào ngân hàng và ra lệnh cho nhân viên đưa tiền] nếu muốn nó tái tạo cho chúng ta những đặc tính của pháp luật. Phạm vi người bị ảnh hưởng và cách thức mà phạm vi này được chỉ định có thể khác nhau với các hệ thống pháp lý khác nhau và ngay cả với các đạo luật khác nhau. Trong một nhà nước hiện đại, người ta thường hiểu rằng nếu không có chỉ dẫn đặc biệt nhằm mở rộng hoặc thu hẹp nhóm người này, các đạo luật chung của nhà nước được mở rộng đến tất cả mọi người trong biên giới lãnh thổ. Trong giáo luật cũng có sự hiểu biết tương tự rằng thông thường thì mọi thành viên của giáo hội đều nằm trong phạm vi luật lệ của nó trừ khi một nhóm hẹp hơn được chỉ định. Trong mọi trường hợp, phạm vi pháp dụng một đạo luật là vấn đề về cách diễn giải một đạo luật cụ thể được hỗ trợ bằng những hiểu biết chung như vậy. Cần lưu ý ở đây rằng mặc dù các luật gia, bao gồm [John] Austin, đôi khi nói về các đạo luật được hướng đến các nhóm người, sẽ là sai lầm nếu đề xuất một điều tương tự đối với tình huống mặt đối mặt vốn thực sự không tồn tại và không được những người sử dụng cách diễn đạt này dự tính. Ra lệnh cho mọi người hành động là một hình thức giao tiếp và có đòi hỏi việc thật sự “hướng” đến họ, tức là, thu hút hoặc tiến hành các bước nhằm thu hút sự chú ý của họ, nhưng làm luật cho mọi người thì không. Do đó, bằng một phát biểu tương tự, “Đưa tiền đây,” tay súng bày tỏ mong muốn của anh ta là nhân viên ngân hàng phải làm điều gì đó và thực sự hướng đến người nhân viên đó, tức là anh ta hành động đủ một cách bình thường để đưa cách diễn đạt này đến sự chú ý của người nhân viên. Nếu không làm như vậy mà chỉ đơn thuần nói cùng những từ ngữ này trong một căn phòng trống, anh ta sẽ hoàn toàn không hướng đến người nhân viên và sẽ không ra lệnh cho anh ta làm điều gì cả: chúng ta có thể mô tả tình huống này như tình huống mà tay súng chỉ đơn giản nói, “Đưa tiền đây.” Về khía cạnh này việc làm luật khác với ra lệnh cho mọi người hành động, và chúng ta phải tính đến sự khác biệt này trong việc sử dụng ý tưởng đơn giản này như một mô hình cho luật pháp. Quả thật, chúng ta có thể mong muốn rằng luật nên được đưa đến sự chú ý của những người mà chúng áp dụng càng sớm càng tốt, có thể là ngay sau khi chúng được làm ra. Mục đích của các nhà lập pháp trong việc làm luật sẽ thất bại trừ khi điều này nói chung được thực hiện, và các hệ thống pháp lý thường quy định, bằng những quy tắc đặc biệt liên quan đến việc ban hành, rằng điều này sẽ được thực hiện. Nhưng luật có thể được hoàn thiện như là luật trước khi điều này được thực hiện, và ngay cả khi nó không hề được thực hiện. Ngược lại, trong trường hợp không có những quy tắc đặc biệt, luật vẫn được làm ra một cách hợp lệ ngay cả khi những người chịu ảnh hưởng phải tự tìm hiểu luật gì đã được làm ra và ai là người chịu ảnh hưởng bởi điều này. Điều mà những người nói về luật được “hướng” đến một số người cụ thể muốn nói, là đó là những người mà một luật cụ thể áp dụng, tức là những ai mà nó đòi hỏi phải hành xử theo những cách nhất định. Nếu sử dụng từ “hướng [đến]” ở đây chúng ta có thể không nhận ra sự khác biệt quan trọng giữa làm ra một đạo luật và đưa ra một mệnh lệnh mặt đối mặt, và chúng ta có thể nhầm lẫn giữa hai câu hỏi riêng biệt: “Luật này áp dụng cho ai?” và “Luật này được công bố đến ai?”

Bên cạnh việc giới thiệu đặc điểm tính tổng quát, chúng ta cần thực hiện một sự thay đổi căn bản hơn trong tình huống tay súng nếu muốn có một hình mẫu hợp lý về tình hình nơi pháp luật được làm ra. Đúng là có cảm giác rằng tay súng có uy thế hay ưu thế trước nhân viên ngân hàng; nó nằm trong khả năng tạm thời đưa ra một mối đe dọa của anh ta, điều này có thể là đủ để khiến nhân viên ngân hàng làm điều cụ thể mà anh ta được yêu cầu. Không có hình thức quan hệ ưu thế và ti thế nào khác giữa hai người ngoài hình thức cưỡng chế ngắn ngủi này. Nhưng với những mục đích của tay súng, điều này có thể là đủ; vì mệnh lệnh mặt đối mặt đơn giản “Đưa tiền đây không tao bắn” sẽ biến mất cùng với dịp này. Tay súng không đưa ra cho nhân viên ngân hàng (dù có thể cho băng đảng theo đuôi) những mệnh lệnh dài hạn để được các nhóm người tuân thủ từ lần này đến lần khác. Nhưng luật pháp trên tất cả lại có đặc tính “dài hạn” hay dai dẳng này. Do đó, nếu muốn sử dụng khái niệm về các mệnh lệnh được hỗ trợ bằng sự đe dọa để giải thích pháp luật là gì, chúng ta phải cố gắng tái tạo thứ đặc tính lâu dài này mà pháp luật có.

Do đó, chúng ta phải giả sử rằng có một niềm tin chung ở những người mà các mệnh lệnh nói chung được áp đặt rằng, theo sau sự bất tuân nhiều khả năng sẽ là việc thực hiện mối đe dọa, không chỉ trên lần đầu ban hành mệnh lệnh, mà liên tục cho đến khi mệnh lệnh được thu hồi hoặc bãi bỏ. Có thể nói niềm tin liên tục vào những hệ quả của sự bất tuân này đã giữ những mệnh lệnh ban đầu được duy trì hay mang tính “dài hạn,” mặc dù như chúng ta sẽ thấy sau này, sẽ có khó khăn trong việc phân tích phẩm chất bền bỉ của pháp luật trong những từ ngữ đơn giản này. Dĩ nhiên, hợp lực của nhiều nhân tố vốn có thể không được tái tạo trong tình huống tay súng, trên thực tế, có thể sẽ cần thiết nếu niềm tin chung vào khả năng tiếp diễn việc thực hiện mối đe dọa như vậy muốn tồn tại: có thể sức mạnh để thực hiện các mối đe dọa đi cùng với các mệnh lệnh dài hạn ảnh hưởng đến số lượng lớn người như vậy trên thực tế chỉ có thể tồn tại, và sẽ chỉ được cho là tồn tại, nếu biết trước có số lượng đáng kể người dân đã chuẩn bị sẵn sàng tự nguyện tuân thủ, tức là độc lập với nỗi sợ trước mối đe dọa, và sẵn sàng hợp tác trong việc thực hiện các mối đe dọa đối với những ai không tuân thủ.

Bất kể cơ sở của niềm tin chung vào khả năng thực hiện các mối đe dọa này là gì, chúng ta cũng phải phân biệt nó với một đặc tính cần thiết hơn nữa mà chúng ta phải thêm vào tình huống tay súng nếu muốn nó gần tương đồng với tình hình ổn định nơi có luật pháp. Chúng ta phải giả sử rằng, bất kể động lực là gì thì phần lớn mệnh lệnh cũng thường được phần lớn người chịu ảnh hưởng tuân thủ thay vì bất tuân thủ. Ở đây chúng ta sẽ gọi điều này, theo Austin, là “thói quen tuân thủ chung” và lưu ý, với ông, rằng như nhiều khía cạnh khác của luật, nó là một khái niệm về cơ bản mơ hồ hoặc không chính xác. Câu hỏi có bao nhiêu người phải tuân thủ bao nhiêu mệnh lệnh chung như vậy, và trong tuân thủ trong bao lâu, nếu có luật pháp, không có chỗ cho nhiều câu trả lời rõ ràng hơn câu hỏi một người phải có ít tóc đến đâu để trở thành hói. Nhưng trong sự tuân thủ chung trên thực tế này là sự khác biệt quan trọng giữa luật và mệnh lệnh trong trường hợp tay súng đơn giản ban đầu. Uy thế tạm thời thuần túy của một người trước một người khác được cho một cách tự nhiên là đối cực của luật pháp, với bản chất tương đối lâu dài và ổn định của nó, và, quả thật, trong phần lớn hệ thống pháp lý, thực hiện quyền lực cưỡng chế ngắn hạn như vậy, như tay súng đã làm, sẽ cấu thành tội phạm hình sự. Quả thật vẫn còn phải xem liệu khái niệm đơn giản, dù được thừa nhận là mơ hồ, về thói quen tuân thủ chung trước các mệnh lệnh chung được hỗ trợ bằng sự đe dọa này có thật sự đủ để tái tạo đặc tính ổn định và sự liên tục mà các hệ thống pháp luật sở hữu hay không.

Khái niệm về các mệnh lệnh chung được hỗ trợ bằng sự đe dọa do một người đưa ra và nhìn chung được tuân thủ mà chúng ta đã xây dựng bằng cách liên tiếp bổ sung vào tình huống tay súng đơn giản trên đây rõ ràng gần tương đồng với một đạo luật hình sự do cơ quan lập pháp của một nhà nước hiện đại ban hành hơn bất kỳ dạng pháp luật nào khác. Có nhiều dạng pháp luật nhìn bề ngoài có vẻ rất không giống các đạo luật hình sự như vậy, và sau này chúng ta sẽ phải xem xét tuyên bố rằng các dạng pháp luật khác, bất chấp hình thức trái ngược, cũng là những phiên bản phức tạp hoặc trá hình của cùng hình thức này. Nhưng nếu muốn tái tạo các đặc tính của ngay cả một đạo luật hình sự trong mô hình chúng ta đã tạo dựng về các mệnh lệnh chung nhìn chung được tuân thủ, chúng ta phải nói thêm về người ra các mệnh lệnh này. Hệ thống pháp lý của một nhà nước hiện đại có đặc trưng là một dạng uy quyền nhất định bên trong lãnh thổ của nó và độc lập với các hệ thống khác mà chúng ta vẫn chưa tái tạo trong mô hình đơn giản của mình. Hai khái niệm này không đơn giản như vẻ ngoài của chúng, nhưng điều tối cần thiết đối với chúng, theo một quan điểm dựa trên lẽ thông thường (có thể không tỏ ra đầy đủ), có thể được thể hiện như sau. Luật Anh, luật Pháp, và luật pháp của bất cứ quốc gia hiện đại nào cũng điều chỉnh hành vi của người dân sinh sống trong các vùng lãnh thổ có giới hạn địa lý tương đối rõ ràng. Bên trong lãnh thổ của mỗi quốc gia có thể có nhiều nhân vật hoặc nhiều cơ quan ra các mệnh lệnh chung được hỗ trợ bằng sự đe dọa và nhận được sự tuân thủ như thói quen. Nhưng chúng ta nên phân biệt một số trong số các nhân vật hoặc cơ quan này (tức là, Hội đồng Hạt London hay một bộ trưởng thực hiện những gì chúng ta gọi là quyền lực của một cơ quan lập pháp ủy nhiệm) như các nhà lập pháp cấp dưới so với Queen in Parliament (nữ hoàng và lưỡng viện) vốn là tối cao. Chúng ta có thể thể hiện mối quan hệ này trong thuật ngữ đơn giản về thói quen bằng cách nói rằng trong khi Queen in Parliament trong việc làm luật không tuân theo ai theo thói quen thì các nhà làm luật cấp dưới giữ mình trong những giới hạn luật định và như vậy có thể nói trong việc làm luật họ là đại diện của Queen in Parliament. Nếu họ không làm như vậy, chúng ta sẽ không có một hệ thống pháp luật ở Anh mà là nhiều hệ thống; trong khi trên thực tế chỉ vì Queen in Parliament là tối cao so với tất cả bên trong lãnh thổ theo ý nghĩa này và các cơ quan khác thì không mà chúng ta có ở Anh một hệ thống duy nhất mà chúng ta có thể phân thành một hệ thống phân cấp bao gồm các thành phần tối cao và cấp dưới.

Cách mô tả đặc tính tiêu cực về Queen in Parliament này, rằng không có thói quen tuân theo những mệnh lệnh của người khác, xác định gần đúng khái niệm về sự độc lập mà chúng ta dùng trong khi nói về các hệ thống pháp lý riêng biệt của các quốc gia khác nhau. Cơ quan lập pháp tối cao của Liên Xô không có thói quen tuân theo Queen in Parliament, và bất cứ điều gì Queen in Parliament ban hành về các vấn đề Liên Xô (cho dù sẽ tạo nên một phần của luật pháp Anh) cũng sẽ không tạo nên một phần của luật pháp Liên Xô. Nó sẽ chỉ như vậy nếu Queen in Parliament được cơ quan lập pháp Liên Xô tuân thủ như thói quen.

Vì lẽ đơn giản này của vấn đề, mà sau này chúng ta sẽ phải xem xét một cách nghiêm túc, ở bất cứ nơi nào tồn tại một hệ thống pháp lý cũng phải có ai đó hoặc cơ quan nào đó ban hành các mệnh lệnh chung được hỗ trợ bằng sự đe dọa và nhìn chung được tuân thủ, và phải có một niềm tin chung rằng các mối đe dọa này nhiều khả năng sẽ được thực hiện nếu có sự bất tuân. Người này hay cơ quan này phải là tối cao ở trong nước và độc lập với bên ngoài. Nếu, làm như Austin, chúng ta gọi một người hoặc một cơ quan tối cao và độc lập như vậy là chủ quyền tối thượng, thì pháp luật của bất cứ nước nào cũng sẽ là các mệnh lệnh chung được hỗ trợ bằng sự đe dọa do chủ quyền tối thượng hoặc cấp dưới trong sự tuân phục chủ quyền tối thượng ban hành. ♦

Copyright © 1961 by H. L. A. Hart | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on April 12, 2016 by in Pháp lý and tagged .

Archives

Categories

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,417 other followers

%d bloggers like this: