Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Richard A. Posner: Về đạo văn


Richard A. Posner

Photo by Hugh Williams

Richard A. Posner (1939–), luật gia và nhà kinh tế học người Mỹ, là thẩm phán tòa 7th Cir., Hoa Kỳ và giảng viên cao cấp tại Trường Luật Đại học Chicago. Ông là học giả pháp lý được trích dẫn nhiều nhất của thế kỷ 20. Bài viết dưới đây, “On Plagiarism,” được đăng trên The Atlantic (April 2002 Issue). Về một khảo cứu chuyên sâu của cùng tác giả về đề tài này, xem chương 2, “How to Think about Copyright,” trong William M. Landes & Richard A. Posner, The Economic Structure of Intellectual Property Law (Harvard University Press, 2003), pp. 37–70.

Về đạo văn

Gần đây hai sử gia đại chúng bị phát hiện là đã nẫng những đoạn văn từ sách của các sử gia khác. Họ có xác định nguồn trong cước chú [footnote, chú thích cuối trang], nhưng không đặt dấu trích dẫn quanh các đoạn sao chép. Cả hai đều nhanh chóng bị chôn vùi dưới một cơn tuyết lở phê phán. Bê bối này sẽ sớm bị quên lãng, nhưng nó để lại sau lưng những câu hỏi “Đạo văn” là gì? Tại sao nó bị lên án? Đó là những câu hỏi quan trọng. Cái nhãn “đạo văn” có thể hủy hoại nhà văn, tiêu tán sự nghiệp học thuật, dập tắt cơ hội ứng cử của chính trị gia, và khiến sinh viên ở một trường hay viện đại học bị đuổi. Những chương trình tìm kiếm mới trên máy tính, dù trong dài hạn có thể ngăn chặn đạo văn, nhưng trong ngắn hạn sẽ dẫn đến việc phát hiện thêm nhiều trường hợp.

Trước hết chúng ta phải phân biệt giữa một người đạo văn với một người vi phạm bản quyền. Cả hai đều là những người sao chép, nhưng người vi phạm bản quyền thì cố chiếm đoạt lợi nhuận tạo ra từ tài sản thuộc về người khác—cụ thể là người giữ bản quyền tác phẩm mà người vi phạm đã sao chép. Một bản in lậu của một cuốn best seller hiện hành là một ví dụ tốt về vi phạm bản quyền. Tuy nhiên, sẽ không có vi phạm bản quyền khi tài sản trí tuệ “bị đánh cắp” nằm trong phạm vi công cộng ([public domain], trong trường hợp này nó không còn là tài sản), hoặc nếu mục đích không phải là chiếm đoạt lợi nhuận của người giữ bản quyền. Học thuyết “sử dụng hợp lý/công bằng” (fair use) cho phép các đoạn văn ngắn trong một cuốn sách được trích dẫn trong một bài điểm sách hay một tiểu luận phê bình; và tác giả giễu nhại một tác phẩm có bản quyền được phép sao chép dung lượng cần thiết của tác phẩm để độc giả có thể nhận ra tác phẩm mới là tác phẩm giễu nhại. Hơn nữa, một tác giả có thể trích một đoạn từ một tác giả khác để giúp câu chuyện thêm cuốn hút; nhưng làm vậy mà không đặt dấu trích dẫn—vờ như văn người khác là văn mình—thì giống gian lận hơn là sử dụng hợp lý.

“Đạo văn,” trong nghĩa rộng nhất của thuật ngữ mơ hồ này, đơn giản là việc sao chép mà không thừa nhận, bất kể tác phẩm có hay không có bản quyền. (Trên thực tế, đạo văn có thể là sao chép một tác phẩm không có bản quyền—ví dụ, một ý tưởng). Nếu in lại Hamlet dưới tên mình thì tôi là người đạo văn mà không phải là người vi phạm bản quyền. Bản thân Shakespeare là một người đạo văn ghê gớm trong nghĩa rộng của từ này mà tôi đang sử dụng. Đoạn mô tả nổi tiếng cảnh Cleopatra trên thuyền hoàng gia trong Antony and Cleopatra được lấy gần như nguyên văn từ bản dịch một tác phẩm của Plutarch về cuộc đời của Mark Antony:

“on either side of her, pretty, fair boys apparelled as painters do set forth the god Cupid, with little fans in their hands, with which they fanned wind upon her”

trở thành

“on each side her/ Stood pretty dimpled boys, like smiling Cupids,/ With divers-colour’d fans, whose wind did seem/ To glow the delicate cheeks which they did cool.”

(Lưu ý cách Shakespeare cải thiện bản gốc.)

Trong The Waste Land, T. S. Eliot “thuổng” phần mở đầu nổi tiếng trong đoạn văn của Shakespeare:

“The barge she sat in, like a burnish’d throne,/ Burn’d on the water”

trở thành

“The Chair she sat in, like a burnished throne,/ Glowed on the marble.”

Nhắc đến Shakespeare mới nhớ, West Side Story chỉ là một trong những mắt xích trong chuỗi đạo văn bắt đầu với Pyramus and Thisbē của Ovid và tiếp tục với The Tragical History of Romeus and Juliet của nhà văn bị quên lãng Arthur Brooke, được Shakespeare vơ vét triệt để. Milton trong Paradise Lost đã đạo Sách Sáng thế, cũng như Thomas Mann trong Joseph and His Brothers. Những ví dụ về đạo văn không chỉ giới hạn trong văn học. Một ví dụ trong hội họa là Édouard Manet, tác phẩm của ông từ những năm 1860 đã “trích” một cách rộng rãi Raphael, Titian, Velásquez, Rembrandt, cùng những người khác, mà dĩ nhiên không bày tỏ sự công nhận.

Nếu đó là những ví dụ về đạo văn thì chúng ta sẽ muốn có thêm tác phẩm đạo văn. Chúng cho thấy không phải tất cả việc sao chép mà không thừa nhận đều là “đạo văn” theo nghĩa miệt thị. Mặc dù không có sự thừa nhận chính thức về việc sao chép trong những ví dụ của tôi, nó cũng không có bất kỳ khả năng gây nhầm lẫn nào. Và bản sao đã cộng thêm giá trị cho bản gốc—đây không phải là sao chép mù quáng. Đạo văn cũng vô tội khi không có giá trị gắn với tính nguyên bản; nên các thẩm phán, những người cố gắng che dấu tính nguyên bản và vờ như phán quyết của mình đã được định trước, tự do “đạo” thẩm phán khác mà không cần ghi nhận hay mang hiềm khích.

Nhưng tất cả những gì có thể nói để biện hộ cho một tác giả kết hợp những đoạn văn từ một tác giả khác, chỉ đơn thuần để thêm gia vị cho tác phẩm của mình, mà không thừa nhận, là nhịp đọc của tác phẩm của ông ta có thể bị ảnh hưởng nếu ông ta buộc phải gián đoạn một đoạn tự sự có nhịp điệu nhanh để thú nhận rằng “một bậc tiền bối của tôi, ——, đã viết những điều tôi muốn viết sau đây tốt hơn tôi có thể, nên thay vì diễn giải ông, tôi sẽ chép lại cho các bạn đoạn sau đây, thụt lề và trong dấu trích dẫn, từ cuốn —— của ông.” Không cần nói từng đó để biện hộ cho một tác giả đạo văn vì sự lười biếng hay đãng trí vô cùng, và đãng trí là lời biện hộ chuẩn khi một người phải đối mặt với bằng chứng đạo văn.

Do cước chú không báo hiệu việc kết hợp nguyên văn tài liệu từ nguồn được chú thích, tất cả những gì có thể nói để biện hộ cho hai sử gia mà tôi nhắc đến để mở đầu bài viết này là họ đã khiến việc đạo văn của mình dễ bị phát hiện hơn. Điều này liên quan đến việc họ nên chịu chỉ trích nặng nề đến đâu, do một trong những lý do khiến đạo văn trong học thuật bị lên án nặng nề là thường thì nó rất khó phát hiện. (Ngược lại, Eliot và Manet muốn độc giả và khán giả nhận ra được sự vay mượn của mình.) Điều này đúng với những bài luận đạo văn của sinh viên, và ở mức độ thấp hơn với những bài viết học thuật đạo văn của giáo sư. Đó là những hình thức gian lận đặc biệt nghiêm trọng, do chúng có thể dẫn người đọc đến những việc, chẳng hạn như cho sinh viên điểm tốt hoặc bỏ phiếu thăng chức giáo sư, mà anh ta sẽ không làm nếu biết sự thật. Nhưng độc giả của những sử gia đại chúng lại không phải những sử gia chuyên nghiệp, và phần lớn không mảy may tâm quan sử gia kia nguyên bản đến mức nào. Công chúng muốn một cuốn sách tốt, một vở kịch hay, và việc một cuốn sách hay một vở kịch có thể là tác phẩm của nhiều bàn tay—sự thật là phần lớn nghệ thuật và giải trí đều như vậy—thì không hề quan trọng đối với điều đó. Nguy hại không phải là với độc giả mà là với những tác giả có tác phẩm không lấp lánh dù có vàng lấy cắp về.

Copyright © 2002 by Richard A. Posner | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Information

This entry was posted on July 11, 2016 by in Pháp lý, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: