Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Công việc của nhà văn


the poets.jpg

The Poets by Georgios Roilos

Nguồn: Tim Parks, “The Writer’s Job,” Where I’m Reading From: The Changing World of Books (New York, NY: New York Review Books, 2015), pp. 109–16.

Công việc của nhà văn

Chính xác thì từ khi nào việc trở thành nhà văn bắt đầu được nhìn nhận như một lựa chọn nghề nghiệp, với những khóa học văn bằng phù hợp và thứ bậc? Tình trạng này có tạo ra bất kỳ thay đổi nào với những gì được viết ra hay không?

Ở trường chúng ta được dạy hai cách nhìn đối lập về nhà văn như nghệ sĩ. Anh ta có thể là một người thợ lành nghề mang tài năng của mình để phục vụ cộng đồng, đổi lại nhận được sự công nhận và có thể cả tiền. Đây, họ nói với chúng ta, là quan điểm cổ điển, như có thể thấy trong Hy Lạp của Sophocles, hoặc La Mã của Virgil, hoặc nước Anh thời Augustus của Giáo hoàng. Ngoài ra nhà văn có thể đưa câu chuyện cuộc của đời anh ta vào nghệ thuật, thờ ơ với những chỉ trích và phê bình của xã hội nhưng lại được nó ngưỡng mộ chính vì sự từ chối khấu đầu. Đây là quan điểm Lãng mạn khi nó phát triển trong cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19.

Hãy bỏ qua một bên tính chính xác lịch sử của điều này; đó là cái họ dạy chúng ta và mắc kẹt trong đầu chúng ta: một mặt nhà văn như nghệ nhân có cá tính thì gần như không quan trọng, tình trạng phổ biến thời tiền công nghiệp, khi nhà văn không nhiều và giữ vai trò bậc dưới trong những hệ thống thứ bậc khá cứng nhắc (một Petrarch hay một Chaucer); mặt khác nhà văn như một siêu nhân có sức lôi cuốn (các Byron và các Shelley) có sự nhạy cảm tinh tế và sức mạnh sáng tạo cho anh ta quyền vượt qua ranh giới và chất vấn những quy tắc của cộng đồng. Cách nhìn này phù hợp với thời đại của sự căng thẳng giữa cá nhân và xã hội đại chúng cơ giới hóa. Nhà văn Lãng mạn giúp độc giả chiến đấu chống lại những áp lực đồng nhất hóa của một thế giới công nghiệp hóa hiện đại.

Như chúng ta biết, T. S. Eliot đã làm phức tạp vấn đề bằng cách bảo chúng ta rằng nhà văn phải vượt qua cá tính của họ và tìm một chỗ đứng trong truyền thống văn học; tác phẩm của họ chỉ thực sự đặc biệt khi nó đánh dấu sự phát triển tiếp theo trong quá trình khai mở tự nhiên của trí tưởng tượng tập thể như được thể hiện trong “điển phạm văn học” (“the canon”). Với tôi hồi còn là một thanh niên lúng túng khi đọc Eliot, suy nghĩ tinh tế này có vẻ đem lại một thỏa hiệp giữa quan điểm cổ điển và Lãng mạn. Nhưng chỉ có vẻ. Đọc cẩn thận, Eliot lại Lãng mạn hơn bao giờ hết: chỉ những người có cá tính thực sự, những người đặc biệt như ông, mới hiểu được cá tính là gánh nặng thế nào và muốn rũ bỏ nó. Với những người đặc biệt ấy, văn học trở thành vở kịch của sự thăng hoa hay sự hy sinh bản ngã thông qua việc khám phá công việc của những người đặc biệt tương đương khác đi trước, sau đó thêm những đóng góp cá nhân của riêng mình vào những thành tựu của họ. Trong nỗ lực này có điều gì đó cao quý và đau đớn nâng nhà văn lên một ngôi đền được tôn thờ bởi một giới tinh hoa. Trên tất cả Eliot nhấn mạnh rằng sáng tạo văn học sẽ đòi hỏi một công việc khó khăn vô tận trong nhiều năm và rất có thể một văn bằng ngành văn học châu Âu cổ điển và/hoặc hiện đại. Người trẻ mong mỏi giờ có một chương trình học cốt lõi để đi theo để trở thành nhà văn, nhưng biết rằng nó sẽ đòi hỏi rất nhiều năm lao động cực nhọc.

Tuy nhiên, không điều nào trong số này chuẩn bị chúng ta cho sự ra đời của sáng tác như một “nghề.” Trong khoảng ba mươi bốn mươi năm qua, nhà văn đã trở thành những người du hành trên một con đường nghề nghiệp được xác định rõ ràng, như bất cứ nghề nghiệp thuộc tầng lớp trung lưu nào khác, nhưng, tuy nhiên, không phải để trở thành người thợ phục vụ cộng đồng, mà để tạo dựng hình ảnh bản thân (một phần thông qua tác phẩm được xuất bản, nhưng cũng bằng hàng chục cách khác) như những nghệ sĩ thể hiện lối đi của nền văn hóa. Nói ngắn gọn, một điều vĩ đại mới tiếp theo. Một Doris Lessing. Rushdie. Một Pamuk.

Cứ như thể chủ nghĩa Lãng mạn tự phát của các nhà thơ thế kỷ 19 đã trở thành một lời mô tả công việc; chúng ta biết một nhà lãng mạn là thế nào (chính trị, các mẫu hình hành vi), chúng ta biết đó là con đường đến với sự vĩ đại trong văn học, vậy thì làm thôi. Cuốn tiểu thuyết Youth của Coetzee thể hiện với sự hài hước tinh tế những thử thách của một thanh niên trẻ có phương pháp đang tìm cách trở thành kiểu nhà văn không phải là anh ta.

Hãy xem xét một vài thay đổi dẫn chúng ta đến tình trạng này.

Trong thế kỷ 20 người ta không còn chỉ đọc tiểu thuyết và thơ mà còn bắt đầu nghiên cứu chúng. Đó là một cuộc cách mạng. Đột nghiên ai cũng nghiên cứu văn học. Ở trường nó là bắt buộc. Họ làm những bài thi văn học. Họ hiểu rằng khi có những ẩn dụ và mẫu hình biểu tượng và diễn biến nhân vật, v.v., thì ta có “văn học.” Họ giả định rằng nếu bạn có thể phân tích nó, thì rất có thể bạn có thể tự mình làm ra nó. Do uy tín rất lớn được dành cho nhà văn, và do bây giờ người ta chấp nhận rằng không ai cần phải gắn liền với những nghề nghiệp tẻ nhạt bởi những yếu tố ngẫu nhiên như giai cấp, màu da, giới tính, hay thậm chí IQ, rất nhiều người (có cả tôi!) bắt đầu viết. Những người ấy cảm thấy họ biết văn học là gì và làm thế nào để tạo ra nó.

Trong nửa sau của thế kỷ, chi phí xuất bản giảm đáng kể, số lượng nhan đề tiểu thuyết và thơ mỗi năm tăng lên (hiện nay khoảng một trăm ngàn nhan đề tiểu thuyết tiếng Anh được xuất bản trên thế giới mỗi năm), lợi nhuận bị thắt chặt, chiết khấu thì dã man. Chẳng bao lâu xuất hiện tình trạng vài tác giả có giá bán được rất nhiều sách trong khi rất nhiều nhà văn chỉ bán được vài cuốn sách có giá. Tuy nhiên chính vì nhóm thứ nhất giờ ở trên tháp ngà và có danh tiếng quốc tế mà nhóm thứ hai nóng lòng lao vào cuộc chiến hơn, một phần với hy vọng giành được danh tiếng tương tự.

Việc nhiệm vụ của nhà văn không chỉ là viết sách, mà còn là quảng bá bản thân bằng mọi cách có thể, đã trở nên rõ ràng. Anh ta lập một trang web, một trang Facebook (tôi không phải ngoại lệ), có thể thuê nhà quảng cáo cho riêng mình. Anh ta tham dự mọi ngày hội văn học trên thế giới, không lương. Anh ta ngồi trên ghế giám khảo giải thưởng văn học với rất ít tiền, viết những bài báo để đổi lại một dòng đề cập đến ấn phẩm gần đây của mình, hoàn thành hàng chục cuộc phỏng vấn trên Internet, lên tiếng ủng hộ sách của những nhà văn đồng nghiệp với hy vọng lời khen sẽ được báo đáp. Thêm nữa vào danh sách này không phải là khó.

Sự xuất hiện của đại diện xuất bản báo hiệu một nhận thức về cuộc xung đột giữa ý tưởng về nhà văn như một nhà lãng mạn, nghề nghiệp phản chính thống với nhu cầu của nhà văn chuyên nghiệp là khớp với một cỗ máy quảng bá và công nghiệp lâu đời. Hy vọng rằng đại diện xuất bản sẽ dung hòa cả hai. Tuy nhiên, chẳng bao lâu họ nhận ra mình quá choáng ngợp trước áp lực từ những người hy vọng thành người mới đến và những biến chứng hợp đồng đến mức họ không còn có thể được nhìn nhận như một cửa ngõ vào thế giới xuất bản, hoặc như những trung gian có thể giúp nhà văn khỏi bẩn tay. Chính vào thời điểm này, trong những năm 1980, các lớp sáng tác bắt đầu phổ biến và diện mạo của nghề nhà văn bắt đầu khẳng định mình.

Một trong những lầm tưởng về các chương trình sáng tác là sinh viên tham gia để học cách viết. Việc học hỏi như vậy, khi và nếu diễn ra, là một sản phẩm phụ đáng giá có thể có cũng có thể không liên quan đến giảng dạy; quá trình ngồi xuống viết trong một năm rất có thể sẽ đem lại kết quả mà không cần đến giảng viên. Không, sinh viên tham gia chương trình để thể hiện mình với giảng viên, những người như những nhà văn được đặt đúng chỗ (anh ta hình dung!) giúp anh ta giới thiệu mình với các nhà xuất bản. Hầu hết các chương trình sáng tác hiện nay đều có các lớp tiếp cận đại diện xuất bản và quảng bá tác phẩm. Nói ngắn gọn, chuẩn bị cho công việc.

Đồng thời nhu cầu học một khóa sáng tác đắt đỏ dài một năm của hàng ngàn người muốn trở thành nhà văn cũng cung cấp việc làm có lương cho những nhà văn lớn tuổi hơn gặp vấn đề với việc kiếm sống nhưng quyết tâm bám trụ. Một trong những vấn đề của việc nhìn nhận sáng tác như một nghề là nghề nghiệp là những thứ gắn liền với bạn đến khi nghỉ hưu. Việc sự sáng tạo có thể không cùng độ rộng với toàn bộ cuộc đời làm việc của một người lại không được thừa nhận. Một số lượng không cân xứng nhà thơ giảng dạy trong những chương trình này.

Các chương trình sáng tác thường bị lên án vì sự tiêu chuẩn hóa và phẳng hóa ngày càng lớn trong tự sự đương đại. Điều này là không công bằng. Chính nỗi lo bị khai trừ khỏi nghề nghiệp đã chọn của các nhà văn, cùng với một niềm tin chung là chúng ta biết văn học là gì và có thể học cách tạo ra nó, là thứ khuyến khích mọi người viết những cuốn sách giống nhau. Không ai thật sự mong đợi cái gì thực sự mới. Chỉ những phiên bản mới của cái cũ. Hết lần này đến lần khác khi đọc để điểm sách, hoặc có lẽ làm giám khảo cho một giải thưởng, tôi gặp nhiều tiểu thuyết viết cẩn thận, “làm văn” như văn người ta biết. Tiểu thuyết văn học đã trở thành một thể loại như mọi thể loại khác, với một quỹ đạo nhất định, một khoản thù lao dễ đoán, và một nội dung khá hạn chế và được lên kế hoạch cẩn thận của trí tuệ tự do phương Tây. Hiếm hơn nhiều là loại sách (hãy nghĩ đến The Twin của Gerbrand Bakker, hoặc On a Day Like This của Peter Stamm, hoặc lùi xa hơn, Letty Fox: Her Luck, của nhà văn tuyệt diệu người Úc Christina Stead) mà nhà văn có vẻ, một cách đáng ngạc nhiên, làm việc trực tiếp từ kinh nghiệm và trí tưởng tượng, dựa trên kiến thức về văn học quá khứ chỉ trong chừng mực nó cung cấp công cụ để cuộc sống có thể diễn ra trên trang giấy.

Như vậy, một công chúng phản thông thường thì thích thú với khái niệm nhà văn nổi loạn, hoặc ít nhất là độc lập một cách đáng ngưỡng mộ, nhưng chính nhà văn ấy, để đạt được thành công, ngày càng phải điều chỉnh theo logic của một cỗ máy công nghiệp, đến lượt nó lại khuyến khích tạo dựng một hình ảnh phản thông thường. Đây là một sự kích động đạo đức giả. Trong lúc đó thế giới mở ra; sách lưu hành rộng hơn và được dịch nhanh hơn bao giờ hết. Một quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ ưu ái nhà văn nào có phong cách và nội dung dễ dàng đi qua biên giới. Thành công và nổi tiếng sinh ra những kẻ bắt chước. Rất nhiều. Không ai đọc được mọi thứ. Không ai có thể đọc được một phần trăm của mọi thứ. Thế mà những giải thưởng quốc tế vẫn có ý bảo chúng ta đâu là tiểu thuyết hay nhất của năm, ai là nhà văn vĩ đại nhất.

Thành tựu tối hậu của nghề nhà văn, sau một đời của những ngày hội văn học, những danh sách chung khảo và giải thưởng, những buổi đọc sách, những buổi hội thảo, những bằng danh dự, những bài giảng, và, dĩ nhiên, viết, là, hoặc sẽ là, đặt mình vào “điển phạm văn học.” Nhưng trong văn hóa xuất bản mà chúng ta có ngày nay, bất cứ ý tưởng nào cho rằng một tiến trình nghiên cứu sàng lọc chậm có thể tạo ra một điển phạm đáng tin cậy như những điển phạm mà chúng ta thừa hưởng từ quá khứ xa xôi cũng đều vô nghĩa. Dù thế nào thì trong tương lai những thứ giả dạng là điển phạm đối với thời đại của chúng ta chủ yếu cũng sẽ là kết quả của marketing tốt, tự quảng bá, và sự tình cờ thuần túy.

Có phải tất cả đây đều là tin xấu? Chỉ khi nào người ta đắm chìm vào những mơ mộng về sự vĩ đại. Trong một bài nói chuyện khôi hài mang tên “Mười ngàn nhà thơ” tại hội nghị thường niên của Hiệp hội Học giả và Nhà phê bình Văn học tại Đại học Boston hồi tháng 10 năm ngoái, nhà thơ xuất sắc Mark Halliday trầm tư:

Tôi nghĩ tất cả chúng ta những người cứ phấn đấu rồi phấn đấu để xuất bản một tập thơ rồi một tập thơ nữa vẫn còn yêu những ý tưởng về SỰ VĨ ĐẠI và SỰ QUAN TRỌNG.

Như Halliday kết luận, những ý tưởng như vậy chỉ đơn giản là không phù hợp với thời đại của nghề nhà văn. ♦

Tim Parks (1954–) là nhà văn, nhà phê bình văn học, và dịch giả tiếng Ý người Anh. Ông hiện là phó giáo sư ngành văn học và dịch thuật tại Đại học IULM, Milan.

Copyright © 2012 by Tim Parks | Bản lược dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on November 3, 2016 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,572 other followers

%d bloggers like this: