Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Chủ nghĩa dân túy đạo đức và dân chủ


Palace of Westminster.jpg

Nguồn: H. L. A. Hart, “Moral Populism and Democracy,” in Law, Liberty, and Morality (Oxford University Press, 1988), pp. 77–83.

Tiểu luận Bàn về tự do của Mill, giống như cuốn Nền dân trị Mỹ của Tocqueville, là lời kêu gọi mạnh mẽ về một nhận thức sáng suốt về những nguy hiểm đi cùng với những lợi ích của chế độ dân chủ. Lớn nhất trong những nguy hiểm đó, theo quan điểm của họ, không phải là việc đa số có thể sử dụng quyền lực của mình để đàn áp một thiểu số, mà là, với sự lan rộng của các tư tưởng dân chủ, việc họ nên làm như vậy có thể trở thành một ý tưởng chấp nhận được. Với Mill, những nguy hiểm này là một phần của cái giá phải trả cho tất cả những điều rất có giá trị trong chính thể dân chủ. Ông nghĩ cái giá này chắc chắn đáng trả; nhưng ông rất quan tâm đến việc nhắc nhở những người ủng hộ dân chủ về mối nguy hiểm và sự cần thiết phải cảnh giác. “Việc giới hạn quyền lực chính phủ đối với cá nhân không hề mất đi tầm quan trọng khi những người nắm giữ quyền lực định kỳ giải trình trước cộng đồng—tức là trước đảng phái mạnh nhất trong đó.” Mill kiên định về chủ đề này đến mức, như Morley nói, tiểu luận của ông nói một cách nào đó là “một trong những cuốn sách quý tộc nhất từng được viết ra.” Chắc chắn chủ thuyết của Mill tương phản rất mạnh với sự nhấn mạnh mà Stephen đặt lên tầm quan trọng trong các vấn đề đạo đức của công luận, và lên chức năng của sự trừng phạt như một “biểu hiện của tình cảm đạo đức của công chúng.” Morley quả thật đã nói, như Stephen nói với chúng ta trong Lời nói đầu của ông, rằng ở nơi Mill bảo vệ thiểu số khỏi sự cưỡng ép của đa số, những nguyên tắc của Stephen lại phơi bày họ trước nó.

Stephen đã bác bỏ cáo buộc của Morley, và có lẽ nó đã không công bằng. Bởi dù sự phủ nhận của Stephen không phải là rất dễ dung hòa với sự nhấn mạnh của ông về tầm quan trọng của đa số đạo đức áp đảo, cũng có thể đơn giản là lập trường phức tạp của ông không thu gọn vào một quan điểm quá đơn giản như quan điểm cho rằng một đòi hỏi cưỡng ép hoặc trừng phạt pháp lý của công chúng là chính đáng chỉ đơn giản vì nó phổ biến hoặc là yêu cầu của đa số. Tuy nhiên, nỗi sợ của Mill rằng một chủ thuyết như vậy có thể lan rộng với dân chủ chắc chắn là chính đáng. Có vẻ vô cùng dễ dàng tin rằng việc trung thành với những nguyên tắc dân chủ đòi hỏi việc chấp nhận cái có thể gọi là chủ nghĩa dân túy đạo đức: quan điểm cho rằng đa số có quyền đạo đức để điều chỉnh cách mọi người sống. Đây là một hiểu lầm về dân chủ vẫn đe dọa đến tự do cá nhân, và tôi sẽ dành phần còn lại của bài giảng này để xác định sự nhầm lẫn mà nó dựa vào.

Sai lầm trọng tâm là việc không phân biệt được nguyên tắc chấp nhận được rằng quyền lực chính trị giao phó cho đa số thì tốt nhất với tuyên bố không chấp nhận được rằng những gì đa số làm với quyền lực thì nằm ngoài chỉ trích và không bao giờ được phản kháng. Không ai là nhà dân chủ nếu không chấp nhận điều đầu tiên, nhưng không nhà dân chủ nào chấp nhận điều thứ hai. Mill và nhiều người khác đã hợp nhất lòng tin vào dân chủ như hình thức quản trị tốt nhất—hoặc ít hại nhất—với niềm tin vững chắc rằng có nhiều việc ngay cả một nền dân chủ cũng không được làm. Sự kết hợp hai quan điểm này rất có lý, bởi lẽ, dù một nhà dân chủ theo đuổi niềm tin rằng dân chủ tốt hơn các hình thức chính thể khác, anh ta không theo đuổi niềm tin rằng nó là hoàn hảo hay không thể sai lầm hay không bao giờ bị phản kháng. Để hỗ trợ cho kết luận này, chúng ta cần một tiền đề xa hơn, vượt qua khẳng định đơn giản rằng giao phó quyền lực chính trị cho đa số thì tốt hơn giao phó cho một giai cấp được chọn. Tiền đề xa hơn này phải là biến thể nào đó, thế tục hoặc khác, của việc đồng nhất vox populi với vox Dei. Một biến thể, vốn được nhắc đến thường xuyên trong bài giảng này, là quan điểm cho rằng đạo đức thực chứng được ủng hộ bởi một đa số đạo đức áp đảo thì miễn nhiễm với chỉ trích.

Dĩ nhiên, không ngạc nhiên khi những nhầm lẫn này đã ra đời hay thậm chí tồn tại được ở các nền dân chủ như Hoa Kỳ, nơi các quyền cá nhân được bảo vệ đến một mức độ nhất định bởi một bản hiến pháp thành văn; hay ở Anh, nơi từ lâu những nghị sĩ dân cử của Quốc hội đã được coi là đại diện nhưng không phải đại biểu của cử tri. Bởi trong sự vận hành thực tế của nền dân chủ có nhiều lực lượng rất có khả năng sẽ khuyến khích niềm tin rằng nguyên tắc của chế độ dân chủ có nghĩa là đa số luôn luôn đúng. Ngay cả chính trị gia đứng đắn nhất cũng có thể muốn giữ chức, và một thái độ mềm dẻo hoặc thụ động trước những gì đa số nghĩ là đúng sẽ khiến điều này dễ dàng hơn so với việc tuân thủ khắt khe lý thuyết rằng bổn phận của anh ta là làm những gì anh ta nghĩ là đúng, và sau đó chấp nhận thôi chức nếu anh ta không thể thuyết phục đa số giữ lại mình. Nhưng những gì có thể hiểu như một sự cám dỗ đối với các nhà lập pháp dân cử lại có thể đáng thất vọng với những ai không chịu sự cám dỗ tương tự. Bất kể có lập luận nào khác ủng hộ việc thực thi đạo đức, không ai nên nghĩ ngay cả khi đạo đức phổ biến được một “đa số áp đảo” ủng hộ hoặc bị nhiều người cho là “không thể dung thứ, đáng phẫn nộ, và ghê tởm” rằng trung thành với những nguyên tắc dân chủ đòi hỏi anh ta phải thừa nhận việc áp đặt nó lên một thiểu số là chính đáng. ♦

Bản dịch này không bao gồm các cước chú có trong nguyên bản.

Copyright © 1963 by H. L. A. Hart | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on November 7, 2016 by in Chính trị, Pháp lý and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,611 other followers

%d bloggers like this: