Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Đi-đứng” – László Krasznahorkai


Krasznahorkai.jpg

Photo by Ornan Rotem

László Krasznahorkai (1954–) là nhà văn và nhà viết kịch người Hungary, tác giả của các cuốn tiểu thuyết SátántangóNỗi buồn kháng cự, và Chiến tranh và chiến tranh. Ông được trao giải Kossuth của chính phủ Hungary năm 2004 và giải Man Booker Quốc tế năm 2015.

Đi-đứng

Tôi phải rời khỏi cái nơi này, bởi vì đây không phải là nơi mà bất cứ ai cũng có thể ở, hay là nơi đáng để ở lại, bởi vì đây là nơi—với sức nặng không thể chịu đựng nổi, lạnh, buồn, ảm đạm, và chết chóc của nó—mà tôi phải thoát khỏi, để lấy va ly đi, va ly trước mọi thứ khác, hai va ly là đủ, nói một cách chính xác, để nhét mọi thứ vào hai va ly, rồi chốt khóa lại để tôi có thể phi đến chỗ thợ giày, và thay đế giày—tôi đã thay đế giày, rồi lại thay đế giày, cần giày bốt, một đôi giày bốt xịn—dù sao đi nữa một đôi giày bốt xịn và hai va ly là đủ, và với những thứ này chúng ta đã có thể khởi hành, khi chúng ta có thể xác định—bởi vì đây là bước đầu tiên—chính xác thì chúng ta ở đâu; thế nên cần một kiểu năng lực, cần một thứ kiến thức thực tế để chúng ta có thể xác định được chính xác mình ở đâu—không chỉ một cảm giác về hướng, hay một thứ bí ẩn nào đó cư ngụ sâu trong tận trái tim—để rồi nhờ đến kiến thức này, ta có thể chọn được đúng hướng; chúng ta cần có một cảm quan, như thể ta đang nắm một thiết bị định hướng cụ thể trong tay, một thiết bị giúp chúng ta tuyên bố: ở thời điểm này, chúng ta ở đây và ở đây trong điểm không gian này, đứng, thực tế là thế, ở một giao lộ đặc biệt không thể chịu đựng nổi, lạnh, buồn, ảm đạm, và chết chóc, một giao lộ người ta phải rời đi, bởi vì đây không phải là nơi mà anh ta có thể ở, hay có thể ở lại, anh ta—trong điểm tối bất an, sình lầy trong không gian này—không thể làm gì khác ngoài việc nói: đi đi, và đi ngay đi, đi ngay lập tức mà không cần nghĩ về nó, và đừng nhìn lại, chỉ cần đi theo tuyến đường đã được xác định trước, với cái nhìn cố định về phía trước, cái nhìn cố định, tất nhiên, theo đúng hướng, lựa chọn hướng nào cũng không có vẻ khó khăn một cách đầy đau đớn, trừ khi, tất nhiên, thấy rõ rằng kiến thức thực tế này, cảm quan cụ thể này—trong khi nó xác định được tọa độ của các điểm mở rộng qua nỗi buồn và sự hữu tử—đột nhiên tuyên bố: trong “hoàn cảnh thông thường,” chuyện thường xảy ra là chúng ta nói rằng từ đây chúng ta phải đi theo hướng này hoặc hướng kia, nói cách khác, chúng ta nói hướng này là đúng, hoặc hướng ngược lại hoàn toàn là đúng: nhưng có những trường hợp nhất định, cái gọi là “hoàn cảnh bất thường,” mà cảm quan này, kiến thức thực tế này, được tôn trọng một cách chính đáng, tuyên bố rằng hướng chúng ta đã chọn là đúng, nó bảo chúng ta: hãy đi đi, đúng thế, hướng này, phải—và chính cảm quan ấy đồng thời cũng bảo chúng ta rằng hướng ngược lại cũng tốt, và đó là khi mà trạng thái gọi là đi-đứng bắt đầu, bởi anh ta ở đây, với hai va ly nặng trên tay và một đôi giày bốt mới thay đế xuất sắc, anh ta có thể đi về bên phải, và anh ta sẽ không mắc sai lầm, và anh ta có thể đi về bên trái, và đi bên trái chắc chắn anh ta cũng sẽ không mắc một sai lầm nào, nên cả hai hướng ấy, đối nghịch nhau, được cái cảm quan thực tế trong chúng ta đánh giá là hoàn toàn tốt, và điều này có mọi lý do chính đáng, bởi vì cái kiến thức thực tế ấy, chỉ ra hai hướng hoàn toàn đối nghịch nhau, đến giờ vẫn hoạt động bên trong một khuôn khổ được quyết định bởi ước muốn, tức là “đi về bên phải” cũng tốt như “đi về bên trái,” bởi vì cả hai hướng, so với ước muốn của chúng ta, đều chỉ về nơi xa xôi nhất, nơi xa nhất tính từ nơi đây; cái điểm để đến theo bất kỳ hướng nào khi ấy không còn được quyết định bởi kiến thức thực tế, cảm quan, hay năng lực, mà bởi ước muốn, và chỉ riêng ước muốn—khao khát không chỉ được đưa đến nơi có khoảng cách lớn nhất so với vị trí hiện tại của một người, mà còn đến nơi có hứa hẹn lớn nhất, nơi anh ta có thể được yên bình, vì chắc chắn đó là điều cốt yếu, sự yên bình, đấy là cái mà anh ta tìm trong khoảng cách ước muốn kia, sự yên bình nào đó khỏi nỗi lo âu bức bối, đau đớn, điên rồ mà không thể nói ra, thứ chiếm lấy anh ta bất cứ khi nào anh ta nghĩ đến tình cảnh hiện tại của mình, khi anh ta bỗng nghĩ đến điểm xuất phát của mình, vùng đất xa lạ bất tận mà anh ta đang ở, và là nơi mà anh ta phải rời khỏi, bởi mọi thứ ở đây đều không thể chịu đựng nổi, lạnh, buồn, ảm đạm, và chết chóc, nhưng là nơi, ngay trong chính khoảnh khắc đầu tiên, anh ta gần như không thể di chuyển khỏi cú sốc khi anh ta nhận ra—và anh ta thực sự thất kinh—khi anh ta nhận ra rằng đôi tay và đôi chân anh ta về cơ bản là bị buộc chặt, chính vì cái cảm quan thực tế không lầm lỗi của anh ta mà đôi tay và đôi chân anh ta bị buộc chặt, bởi vì cái cảm quan thực tế ấy chỉ đồng thời về hai hướng ngược nhau và bảo: cứ đi đi, đúng hướng rồi, nhưng làm sao người ta có thể đi theo hai hướng ngược nhau cùng lúc, đó là vấn đề, và bởi vậy vấn đề còn mãi, anh ta đứng như thể bị neo lại ở đây như một con thuyền mục nát, anh ta đứng gồng mình dưới sức nặng của những va ly nặng, anh ta đứng, anh ta không di chuyển, và như thế, đứng, anh ta khởi hành vào thế giới hoang vu một cách bất động, theo một hướng—hướng nào không quan trọng, nó có thể là bất cứ hướng nào—và anh ta không nhúc nhích dù chỉ một phân, đến giờ anh ta đã đi được rất xa, và những chuyến lang thang của anh ta trong thế giới hoang vu đã bắt đầu, bởi vì trong khi trên thực tế anh ta đang bất động, dáng vẻ gồng mình của anh ta, gần như trông như một bức tượng, đã khắc mình vào một sự bất khả để được để lại ở đây; anh ta xuất hiện trên mọi con đường: người ta thấy anh ta ở phương Bắc ban ngày, anh ta được biết đến ở châu Mỹ và anh ta được biết đến ở châu Á, anh ta được nhận ra ở châu Âu và anh ta được nhận ra ở châu Phi, anh ta đi qua những ngọn núi, anh ta đi qua những thung lũng sông, anh ta đi và đi và không thôi lang thang ngay cả chỉ một đêm, anh ta nghỉ chỉ lúc này lúc khác trong một tiếng đồng hồ, nhưng ngay cả thế anh ta ngủ như một con vật, như một người lính, anh ta không hỏi bất cứ điều gì, và anh ta không nhìn chằm chằm theo ai trong một lúc lâu; người ta hỏi anh ta: thế anh đang làm gì, hỡi kẻ điên dại, anh đang đi đâu với cái nhìn ám ảnh trong mắt? ngồi xuống đây và hãy nghỉ ngơi, nhắm mắt lại và ở lại đây qua đêm; nhưng anh ta không ngồi xuống và anh ta không nghỉ ngơi, anh ta không nhắm mắt và anh ta không ở lại đó qua đêm, bởi anh ta không ở lại lâu, bởi vì anh ta nói—nếu anh ta có nói lời nào—rằng anh ta phải ở trên đường, và hiển nhiên hỏi anh ta đi đâu chỉ lãng phí thời gian, anh ta không bao giờ tiết lộ cho ai nơi anh ta đến trong cuộc diễu hành cưỡng buộc này, bởi thậm chí chính anh ta còn không hề biết cái anh ta có thể đã biết ở một thời điểm trước, khi, vẫn đứng với hai va ly nặng trong tay, anh ta lên đường đến thế giới hoang vu; anh ta lên đường, nhưng hành trình của anh ta, trên thực tế, không phải là một hành trình, mà thay vào đó, suốt thời gian nó không thể là một hành trình, anh ta trông như một bóng ma đáng thương mà không ai sợ, không ai lấy để dọa trẻ con, tên anh ta không được thì thầm trong các ngôi đền để anh ta tránh xa các thành phố, vậy nên nếu anh ta xuất hiện đây đó thì mọi người chỉ xua anh ta đi: ồ, lại là hắn, bởi anh ta xuất hiện lần nữa rồi lần nữa ở châu Mỹ và châu Á, anh ta xuất hiện lần nữa rồi lần nữa ở châu Âu và châu Phi, và người ta bắt đầu có ấn tượng là anh ta thực ra chỉ đang đi vòng tròn, đi vòng quanh địa cầu như kim giây của một chiếc đồng hồ đeo tay, và nếu có điều gì đáng chú ý về sự hiện diện của anh ta ở đây hay đó, cũng như có thể có ở một bóng ma đáng thương, thì lần thứ hai anh ta xuất hiện, hay lần thứ ba, hay lần thứ tư, người ta chỉ phớt lờ anh ta đi, và quả thật, chẳng ai quan tâm, nên càng ngày càng có ít dịp người ta cố gắng hỏi thăm anh ta hay mời anh ta một chỗ để nghỉ lại, càng ngày càng có ít dịp thức ăn được đặt trước mặt anh ta, và theo thời gian chẳng ai thực sự vui khi có anh ta trong nhà, bởi ai biết—họ kháo với nhau—ở đây đang có chuyện gì, dù hiển nhiên họ đã mất hứng thú với cả anh ta, họ đã mất hứng đến tận cùng, bởi anh ta, không như kim đồng hồ, chẳng chỉ một điều gì, anh ta không biểu thị điều gì, và cái làm thế giới khó chịu nhất—nếu có gì có thể nói là làm khó chịu thế giới này—là trước hết và trên hết con người này vô dụng, anh ta chỉ đi và không có giá trị gì trên thế giới cả, nên rồi cũng đến một lúc anh ta đi lại trên thế giới và trên thực tế chẳng ai để ý gì đến anh ta, anh ta biến mất, ở một mức độ vật chất anh ta gần như đã bay hơi, đối với thế giới này anh ta trở thành không gì cả; tức là, họ đã quên anh ta, thế tất nhiên không có nghĩa là anh ta đã vắng mặt khỏi thực tại, bởi anh ta vẫn còn ở đó, khi anh ta đi không biết mệt giữa châu Mỹ và châu Á, châu Phi và châu Âu, chỉ là mối liên hệ giữa anh ta và thế giới đã bị phá vỡ, và anh ta trở nên, theo cách ấy, bị lãng quên, vô hình, và như thế cuối cùng anh ta cũng đơn độc hoàn toàn và trọn vẹn, và từ đó anh ta bắt đầu để ý thấy, ở những trạm riêng lẻ trên chuyến lang thang, rằng còn có những nhân vật khác, những bản sao chính xác của anh ta: thỉnh thoảng anh ta lại thấy mình mặt đối mặt với những nhân vật giống hệt mình như đúc, như thể anh ta đang nhìn vào gương; ban đầu anh ta giật mình và nhanh chóng rời khỏi thành phố ấy hay vùng đất ấy, nhưng rồi thỉnh thoảng anh ta quên đi cái nhìn của những nhân vật xa lạ ấy và bắt đầu xem xét họ, anh ta bắt đầu tìm kiếm những sự khác biệt giữa tướng mạo mình và họ, và qua thời gian số phận đưa anh ta đến ngày càng gần những bản sao chính xác ấy, ngày càng rõ va ly của họ đều giống hệt nhau, tấm lưng còng kia chỉ là một, mọi thứ, cách họ giữ mình dưới sức nặng kia, cách họ kéo lê thân mình trên con đường này hay con đường kia, mọi thứ đều là một, tức là nó không chỉ là sự giống nhau, mà còn là một bản sao chính xác, và những đôi giày bốt cũng vậy, với cùng một chuyên gia giày thay đế, anh ta nhận ra khi có lần bước vào một sảnh lớn để uống nước, đế mới của họ cũng tốt như của anh ta, và máu trong tĩnh mạch anh ta lạnh cứng, anh ta thấy toàn bộ sảnh được lấp đầy với những người giống hệt anh ta, anh ta vội vã uống nốt chỗ nước rồi khẩn trương rời khỏi thành phố và vùng đất ấy, và từ đó anh ta không hề đặt chân đến bất cứ nơi nào mà anh ta giả định hoặc cảm thấy mình có thể gặp phải những kẻ lang thang như thế; từ lúc đó trở đi anh ta bắt đầu trốn tránh họ, để anh ta được đơn độc tột cùng, và những chuyến lang thang của anh ta đánh mất đi tính ngẫu nhiên cuồng tín của mình; nhưng anh ta đi tiếp không biết mệt, và sau đó một giai đoạn hoàn toàn mới của những chuyến lang thang của anh ta bắt đầu, bởi anh ta tin chắc rằng chỉ có quyết định tự giam mình vào một mê cung thì anh ta mới có thể tránh, đến một mức độ khả dĩ, tất cả những bản sao chính xác ấy, nên từ đây trở đi những giấc mơ ấy mới bắt đầu, tức là anh ta ngủ ở những nơi hoàn toàn ngẫu nhiên, ở những giờ hoàn toàn ngẫu nhiên, ngắn ngủi và mơ màng, và một số trong những khoảng thời gian gián đoạn của giấc ngủ ngắn ngủi và mơ màng ấy, anh ta bắt đầu mơ như chưa bao giờ mơ: anh ta mơ chính xác cùng một giấc, từng chi tiết mảnh như sợi tóc, mơ đi mơ lại, anh ta mơ những chuyến lang thang của mình đang đi đến một đường cùng—và bây giờ anh ta thấy trước mặt một kiểu đồng hồ lớn, hay bánh xe, hay một kiểu xưởng chế tác quay, sau khi thức dậy anh ta sẽ không bao giờ có thể xác định được nó một cách chắc chắn, và dù sao đi nữa anh ta cũng đang đứng trước thứ gì như thế, hay một nhóm những thứ như thế—anh ta bước vào cái đồng hồ, hay bánh xe, hay xưởng chế tác, anh ta đứng ở giữa, và trong nỗi mệt mỏi không thể nói nên lời mà anh ta đã sống trong đó cả cuộc đời, anh ta sụm xuống đất như thể vừa trúng đạn, anh ta sụp xuống như một tòa tháp đổ sập lên mình, đáp xuống phía mạn sườn, anh ta nằm xuống để cuối cùng cũng có thể ngủ như một con thú kiệt sức đến chết, và giấc mơ liên tục lặp lại, bất cứ khi nào anh ta quay đầu xuống một góc nào đó, hay kiếm được một cái đệm để mà ngả lưng, anh ta lại nhìn thấy giấc mơ ấy, với độ chính xác như sợi tóc mảnh, lặp đi lặp lại—mặc dù đáng lẽ anh ta đã có thể thấy một điều hoàn toàn khác nếu anh ta nâng tầm mắt lên, dẫu chỉ một lần—suốt những chuyến lang thang kéo dài dường như hàng trăm hàng trăm năm—chỉ cần ngẩng đầu lên, mãi mãi bị kéo xuống, chỉ một lần thôi, anh ta đã có thể thấy rằng mình vẫn đang đứng đó, hai va ly trong tay, đôi giày bốt được chuyên gia thay đế dưới chân, và ở đó anh ta dính chặt vào mảnh đất cỡ đế giày mà anh ta đứng chôn chân, nên sẽ chẳng bao giờ có hy vọng nào nữa rằng anh ta có thể di chuyển khỏi đó, bởi anh ta sẽ phải đứng đó cho đến tận cùng thời gian, tay và chân bị buộc theo hai hướng đồng thời cùng đúng, và anh ta sẽ phải đứng đó cho đến tận cùng thời gian, bởi đó là nhà của anh ta, đó chính là nơi mà anh ta sinh ra, và đó là nơi mà anh ta sẽ chết vào một ngày nào đó, ở nhà, nơi mọi thứ đều lạnh lẽo và buồn.

László Krasznahorkai, “Downhill on a Forest Road,” trans. Ottilie Mulzet, in The World Goes On, trans. Ottilie MulzetGeorge Szirtes, and John Batki (New Directions, 2017).

Copyright © 2017 by László Krasznahorkai | Bản dịch © 2018 Nguyễn Huy Hoàng.

Một bản của bản dịch này được đăng trên Tuổi trẻ Cuối tuần số 17 năm 2018.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Information

This entry was posted on May 17, 2018 by in Truyện and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,736 other followers

%d bloggers like this: