Czesław Miłosz (1911–2004) là nhà văn, nhà thơ, và dịch giả người Ba Lan. Ông được trao giải văn chương quốc tế Neustadt năm 1978 và giải Nobel văn chương năm 1980.
Bức ảnh chụp ông ngoại tôi năm sáu tuổi theo tôi chứa đựng bí mật về tính cách ông.
Một cậu bé hạnh phúc, vui tươi, một tâm hồn tươi sáng và yên bình nhìn thấy rõ qua làn da.
Bức ảnh chụp từ những năm 1860, và bây giờ tôi, đã già, đến chơi cùng đứa trẻ ấy.
Bên chiếc hồ quen thuộc nơi cậu ném những viên sỏi xuống, dưới những cây tần bì sẽ tìm được đường vào những bài thơ tôi.
Dòng họ Kunat được tính vào giới thân sĩ quý tộc Calvinít, điều mà tôi đã hợm hĩnh ghi nhớ, bởi vì ở Litva thuộc vào hàng khai sáng nhất là những người Calvin.
Gia đình cải sang Công giáo La Mã muộn, vào khoảng năm 1800, nhưng tôi không còn lưu giữ bất kỳ hình ảnh nào của ông ngoại tôi trong hàng ghế ở nhà thờ Świętobrość.
Song ông không bao giờ nói xấu các linh mục hay vi phạm các chuẩn mực luân lý được chấp nhận.
Là sinh viên Trường Cả ở Warsaw, ông đã nhảy múa trong các vũ hội và nghiên cứu các tác phẩm của thời kỳ chủ nghĩa thực chứng.
Ông nghiêm túc nghe theo những lời gọi của “lao động hữu cơ” và vì thế mở một xưởng sản xuất vải ở Szetejnie, thành thử hồi bé tôi thường chơi trong các căn phòng đầy máy chuội vải.
Ông hết mực lịch sự với mọi người, lớn cũng như nhỏ, giàu cũng như nghèo, và có biệt tài chăm chú lắng nghe người ta.
Oscar Milosz, gặp ông ở Kaunas năm 1922, gọi ông là un gentil homme francais du dix-huitieme siecle, một quý ông Pháp của thế kỷ mười tám.
Vẻ mực thước bên ngoài của ông không nói lên toàn bộ câu chuyện; bên dưới ông giấu đi sự thông thái và lòng tốt chân thành.
Nghĩ về những gánh nặng di truyền của mình, tôi có những giây phút nhẹ nhõm khi nhớ đến ông; vì tôi hẳn đã nhận lấy thứ gì đó từ ông, nên tôi không hoàn toàn vô dụng.
Ông được gọi là một người “vị Litva,” và chẳng phải ông đã xây một ngôi trường ở Legmedis và trả lương cho một giáo viên tiếng Litva hay sao?
Ai nấy đều yêu mến ông, người Ba Lan, người Litva, và người Do Thái, và ông được người dân các ngôi làng kế cận kính trọng –
Những ngôi làng mà chỉ vài năm sau khi ông mất đã bị trục xuất đến Siberia, vì thế bây giờ ở chỗ của chúng chỉ còn lại một đồng bằng trống trải.
Trong tất cả các cuốn sách, ông thích nhất là các hồi ký của Jakób Gieysztor, bởi vì chúng mô tả chi tiết thung lũng Niewiaza của chúng tôi, nằm giữa Kiejdany và Krakinów.
Hồi trẻ tôi đã không quan tâm đến chúng; toàn bộ mối quan tâm của tôi hướng tới tương lai.
Bây giờ tôi đọc say sưa các hồi ký ấy, vì đã học được giá trị của các địa danh, những khúc cua trên đường, những ngọn đồi và những chuyến phà trên sông.
Người ta phải thật trân trọng tỉnh lẻ, ngôi nhà, ngày tháng và dấu vết của những người đã qua.
Một kẻ lang thang ở California, tôi giữ một lá bùa hộ mệnh: bức ảnh chụp ngọn đồi ở Świętobrość, nơi ông ngoại tôi Sigismund Kunat, kị ngoại tôi Szymon Syruć và kị bà, Eufrozyna, được chôn dưới gốc cây sồi.
Czesław Miłosz, “My Grandfather Sigismund Kunat,” New and Collected Poems, 1931-2001 (Ecco Press, 2001).
Nguyễn Huy Hoàng dịch.