Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Loạn luân giữa người trưởng thành có phải là tội phạm?


caihoden.jpg

Nguồn: Peter Singer, “Should Adult Sibling Incest Be a Crime?” Project Syndicate, Oct. 8, 2014.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng.

Tháng trước, Hội đồng Đạo đức Liên bang Đức, một cơ quan luật định đã gửi báo cáo lên Bundestag (Hạ viện Đức), khuyến nghị rằng không nên coi loạn luân giữa anh chị em đã trưởng thành là tội phạm. Khuyến nghị này được đưa ra sau một phán quyết của Tòa án Nhân quyền châu Âu năm 2012 ủng hộ việc kết tội một người đàn ông ở Leipzig vì có quan hệ tình dục với em gái mình. Từ chối từ bỏ mối quan hệ, anh ta bị kết án nhiều năm trong tù. (Em gái anh ta được đánh giá là ít có trách nhiệm hơn và không bị bắt giam.)

Loạn luân giữa người lớn không phải là tội phạm trong mọi nền tài phán. Ở Pháp, tội phạm này được bãi bỏ sau khi Napoleon thông qua Bộ luật Hình sự mới của ông năm 1810. Loạn luân giữa người lớn có sự đồng thuận giữa hai người cũng không phải là tội phạm ở Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bờ Biển Ngà, Brazil, Argentina, và nhiều nước Mỹ Latin khác.

Hội đồng Đạo đức của Đức đã điều tra nghiêm túc. Báo cáo của cơ quan này (hiện chỉ có bản tiếng Đức) bắt đầu từ lời khai của những người đang trong mối quan hệ bị cấm đoán, đặc biệt là những cặp anh chị em mang nửa dòng máu chỉ biết đến nhau khi họ đã trưởng thành. Những cặp đôi này miêu tả những khó khăn mà họ gặp phải nếu mối quan hệ giữa họ bị hình sự hóa, bao gồm việc bị tống tiền và nguy cơ mất quyền nuôi đứa con sinh ra từ mối quan hệ trước đó.

Bản báo cáo không cố gắng đưa ra đánh giá cuối cùng về tính đạo đức của việc quan hệ tình dục có sự đồng thuận giữa anh chị em. Thay vào đó, nó đặt ra câu hỏi liệu có hay không một nền tảng thích hợp để luật hình sự có thể cấm những mối quan hệ như thế. Nó chỉ ra rằng quan hệ tình dục tự nguyện giữa hai người có đủ khả năng tự quyết định không hề bị cấm trong bất cứ tình huống nào khác. Báo cáo cho rằng cần phải có một minh chứng rõ ràng và thuyết phục cho việc xâm nhập vào khu vực trọng yếu của cuộc sống riêng tư này. Báo cáo xem xét những căn cứ mà trên đó, gánh nặng của những minh chứng nói trên có thể được đáp ứng. Nguy cơ trẻ em sinh ra bất thường về mặt di truyền là một lý do như vậy; nhưng ngay cả khi chỉ thế là đủ, nó chỉ biện minh cho một lệnh cấm vừa rộng hơn vừa hẹp hơn lệnh cấm hiện hành về loạn luân.

Lệnh cấm sẽ hẹp hơn, bởi nó sẽ chỉ được áp dụng trong trường hợp có thể sinh con: Trường hợp của người đàn ông ở Leipzig đã đưa sự chú ý tới vấn đề này đã thắt ống dẫn tinh từ năm 2004, nhưng điều đó không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của anh ta. Và mục tiêu của việc tránh những dị thường về mặt di truyền sẽ biện minh cho việc mở rộng việc cấm quan hệ tình dục giữa các cặp vợ chồng có nguy cơ cao sinh con dị thường. Với quá khứ phát xít của Đức, người Đức hiện nay khó mà đối xử với mong muốn của mục tiêu đó như là thứ gì khác ngoài việc cho phép nhà nước quyết định ai có thể sinh sản.

Hội đồng cũng cân nhắc sự cần thiết phải bảo vệ mối quan hệ gia đình. Báo cáo lưu ý rằng loạn luân giữa anh chị em là rất hiếm, không phải bởi điều đó là tội phạm, mà bởi việc lớn lên cùng nhau trong môi trường gia đình hay môi trường tương tự gia đình (bao gồm cả cộng đồng kibbutzim của người Israel nuôi dưỡng những đứa trẻ không cùng dòng máu) có xu hướng phủ nhận sức hấp dẫn tình dục.

Báo cáo công nhận tính chính đáng của mục tiêu bảo vệ gia đình, và dùng nó để giới hạn phạm vi khuyến nghị của nó đối với quan hệ tình dục giữa anh chị em ruột đã trưởng thành. Báo cáo cho rằng quan hệ tình dục giữa người thân thuộc khác, chẳng hạn giữa bố mẹ và con cái đã trưởng thành, thuộc một danh mục khác, bởi sự khác biệt của quan hệ quyền lực giữa các thế hệ, và khả năng gây hại lớn hơn cho các mối quan hệ gia đình khác.

Những điều cấm kỵ về loạn luân trở nên nghiêm trọng hơn, như nhà tâm lý học xã hội Jonathan Haidt đã thể hiện khi ông trình bày đối tượng thực nghiệm về Julie và Mark, hai anh chị em đã trưởng thành khi đi nghỉ cùng nhau đã quyết định quan hệ tình dục, chỉ để biết nó sẽ ra sao. Julie đang dùng thuốc tránh thai, nhưng Mark vẫn dùng bao cao su để đảm bảo an toàn. Cả hai đều tận hưởng trải nghiệm này, nhưng quyết định không làm nó lần nữa. Điều đó vẫn còn là bí mật đưa họ thân thiết nhau hơn.

Haidt hỏi những đối tượng của ông rằng liệu có ổn khi Julie và Mark quan hệ tình dục không. Đa số cho rằng không, nhưng khi được hỏi tại sao, họ lại đưa ra những lý do vốn đã bị loài trừ khỏi câu chuyện – ví dụ, nguy hiểm cận huyết, hoặc rủi ro mà mối quan hệ của họ phải chịu.

Có lẽ không phải là tình cờ khi một phát ngôn viên của Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo Đức của bà Angela Merkel được yêu cầu bình luận về khuyến nghị của Hội đồng Đạo đức, bà cũng nói một điều hoàn toàn nằm ngoài lề, đề cập đến sự cần thiết của việc bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, báo cáo lại không có khuyến cáo về loạn luân liên quan đến trẻ em, và một số người bị bắt bởi pháp luật hình sự thậm chí còn không biết nhau khi còn nhỏ.

Khi Haidt chỉ ra cho những đối tượng của ông rằng những lý do họ đưa ra đều không áp dụng được cho trường hợp này, họ thường trả lời: “Tôi không giải thích được, tôi chỉ biết như thế là sai trái.” Haidt gọi điều này là “moral dumbfounding.” (Cảm giác mãnh liệt rằng điều gì đó là sai trái nhưng không thể giải thích tại sao.)

Trong những trường hợp cấm kỵ loạn luân, phản ứng của chúng ta có một lời giải thích về mặt tiến hóa rõ ràng. Nhưng chúng ta có nên cho phép quyết định xem điều gì là tội phạm bị chi phối bởi cảm giác ác cảm, thứ có thể củng cố cho sự thích hợp về mặt tiến hóa của tổ tiên chúng ta, những người vốn thiếu biện pháp tránh thai hiệu quả?

Ngay cả việc thảo luận về câu hỏi đó cũng gây tranh cãi. Ở Ba Lan, Jan Hartman, giáo sư triết học tại Đại học Jagiellonian ở Krakow, đã đăng tải một bình luận trình bày quan điểm của Hội đồng Đạo đức Đức. Hội đồng quản trị của trường đã miêu tả tuyên bố của Hartman là “làm băng hoại phẩm giá nghề giáo sư đại học” và chuyển vấn đề cho một ủy ban kỷ luật. Nhanh chóng quên rằng phẩm giá của nghề này cũng đòi hỏi tự do ngôn luận, một trường đại học nổi tiếng dường như đã không chống nổi bản năng. Điều đó không cho thấy có thể có một cuộc tranh luận duy lý về việc liệu có nên tiếp tục coi loạn luân giữa anh chị em đã trưởng thành là tội phạm hay không.

Peter Singer là giáo sư luân lý học sinh vật tại Đại học Princeton và là giáo sư danh dự tại Đại học Melbourne. Các cuốn sách của ông bao gồm Animal Liberation, Practical Ethics, The Ethics of What We Eat (đồng tác giả với Jim Mason), Rethinking Life and Death, The Point of View of the Universe, đồng tác giả với Katarzyna de Lazari-Radek, The Most Good You Can Do, Famine, Affluence, and Morality, và gần đây nhất là One World NowEthics in the Real World. Năm 2013, ông được Viện Gottlieb Duttweiler vinh danh ở vị trí thứ ba trong danh sách các “nhà tư tưởng đương thời có ảnh hưởng nhất.”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on October 8, 2014 by in Pháp lý, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,572 other followers

%d bloggers like this: