Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Tại sao người vô tội nhận tội


Jed S. Rakoff.jpg

Nguồn: Jed S. Rakoff, “Why Innocent People Plead Guilty,” The New York Review of Books, 20 Nov. 2014.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng.

Hệ thống tư pháp hình sự ở Hoa Kỳ ngày nay chẳng mấy như những gì các nhà lập quốc dự tính, phim ảnh và truyền hình mô tả, hay một người Mỹ trung bình vẫn tin.

Đối với những nhà lập quốc, yếu tố quan trọng trong hệ thống tư pháp hình sự là bồi thẩm đoàn, hoạt động không chỉ như một cơ chế tìm kiếm sự thật và một phương tiện để đạt được sự công bằng, mà còn là một lá chắn chống lại bạo ngược chuyên chế. Như câu nói nổi tiếng của Thomas Jefferson, “Tôi cho rằng hệ thống xét xử thông qua bồi thẩm đoàn là mỏ neo duy nhất con người từng hình dung ra mà theo đó, chính phủ có thể được tổ chức đúng theo những nguyên tắc hiến định.”

Tu chính án VI bảo đảm rằng “trong mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử nhanh chóng và công khai bởi một bồi thẩm đoàn công bằng.” Hiến pháp còn đảm bảo rằng tại phiên tòa, bị cáo phải được luật sư hỗ trợ, những người có thể đối chất và thẩm vấn công tố viên, và thay mặt bị cáo đưa ra bằng chứng. Một người chỉ có thể bị kết án khi một bồi thẩm đoàn không thiên vị nhất trí cho rằng anh ta là có tội khi không còn nghi ngờ hợp lý nào, và tuyên bố công khai trong phán quyết của nó.

Những bộ phim lấy cảm hứng từ những đảm bảo này thường xuyên được chiếu trong rạp và trên truyền hình như một trận chiến mở diễn ra ở nơi công cộng trước thẩm phán và bồi thẩm đoàn. Nhưng tất cả điều này chỉ là viễn cảnh. Trên thực tế, hệ thống tư pháp hình sự của chúng ta gần như là một hệ thống độc quyền của những thỏa thuận nhận tội, thương lượng đằng sau những cánh cửa đóng kín mà không phải chịu sự giám sát tư pháp. Bản án phần lớn được xác định chỉ bởi một mình công tố viên.

Năm 2013, trong khi 8% tổng số các vụ cáo buộc hình sự liên bang được bãi bỏ (hoặc bởi sai lỗi trong thực tế, trong luật, hay do bị cáo quyết định hợp tác), hơn 97% số vụ còn lại được giải quyết thông qua thỏa thuận nhận tội, không đến 3% phải đưa ra xét xử. Các thỏa thuận nhận tội xác định phần lớn bản án được áp dụng.

Trong khi không có số liệu thống kê tổng hợp cho 50 bang, hiếm có bang nào mà thỏa thuận nhận tội không đóng vai trò tương tự trong ít nhất 95% trường hợp phạm tội không được bãi bỏ; một lần nữa, thỏa thuận nhận tội thường quyết định bản án, đôi khi theo luật định nhưng đôi khi lại là vấn đề thực tế. Hơn nữa, trên thực tế, trong cả hệ thống bang và liên bang, thẩm quyền quyết định các điều khoản của thỏa thuận nhận tội nắm phần lớn trong tay công tố viên, luật sư bào chữa có rất ít tiếng nói trong đó, thậm phán thậm chí còn ít hơn.

Trong lịch sử, không phải lúc nào cũng như vậy. Cho tới tận hồi kết của cuộc Nội chiến, thỏa thuận nhận tội vẫn còn là rất hiếm. Một bị cáo hình sự hoặc sẽ phải ra tòa, hoặc đầu thú và nhận tội. Nếu bị cáo bị kết tội, thẩm phán có quyền tự quyết cao trong việc quyết định án phạt; quyết định đó chịu rất ít ảnh hưởng từ các bên, và khả năng phải xét xử phúc thẩm là hạn chế nhất.

Điều nay bắt đầu thay đổi từ sau cuộc Nội chiến, chủ yếu là bởi những biến đổi và xáo trộn sau chiến tranh cùng với số lượng dân nhập cư tăng cao dẫn đến tỷ lệ tội phạm tăng lên đáng kể, từ đó phải có cách để giải quyết các vụ việc mà không phải đặt gánh nặng lên vai hệ thống tư pháp hình sự. Thỏa thuận nhận tội là một giải pháp: nhận tội để nhận án phạt thấp hơn, đổi lại được tha bổng các tội nghiêm trọng hơn, các bị cáo có thể giảm bớt thời gian ngồi tù, công tố viên có thể giải quyết vụ án trong khi hệ thống tư pháp không bị các phiên tòa đè nặng.

Thỏa thuận nhận tội hầu như không được thực hiện ở các quốc gia khác bởi nó bị coi là một dạng “bắt tay với quỷ dữ” khiến tội phạm tránh được hiệu lực đầy đủ của pháp luật. Nhưng ở Mỹ, nó đã trở nên phổ biến. Dù ban đầu tỏ ý không muốn có một hệ thống thỏa thuận nhận tội, cuối cùng Tối cao Pháp viện lại đồng ý thông qua nó, như một hình thức thỏa thuận hợp đồng giữa các bên độc lập (công tố viên và luật sư bào chữa) giúp hệ thống tư pháp hình sự hoạt động trơn tru hơn. Tương tự, các học giả cuối cùng cũng chấp nhận thỏa thuận nhận tội như một hệ thống cơ chế điều tiết, dẫu không lắm hài lòng bởi vai trò của thẩm phán bị suy yếu.

***

Như vậy, thỏa thuận nhận tội được áp dụng ngay trong những năm sau Thế chiến II, giải quyết hơn 80% tổng số vụ án hình sự. Nhưng có lẽ ngay cả thế, những vụ án phải đưa ra tòa xét xử cũng như thẩm quyền của luật sư và thẩm phán vẫn đủ để “giữ cho hệ thống trong sạch.” Nói thế có nghĩa là một bị cáo hoàn toàn vô tội vẫn có thể chọn được đưa ra xét xử mà không cần lo sợ rằng mình sẽ phải chịu một án phạt tù kéo dài do các công tố viên chi phối.

Tất cả đã thay đổi trong hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, trong hoàn cảnh tỷ lệ tội phạm một lần nữa tăng cao. Những năm 1950 là giai đoạn mà tỷ lệ tội phạm ở Mỹ tương đối thấp, nó bắt đầu tăng lên đáng kể trong những năm 1960, và đến khoảng những năm 1980, tội phạm nghiêm trọng, phần nhiều liên quan đến ma túy, xảy ra với tần suất chưa từng thấy trong nhiều thập niên. Kết quả là cơ quan lập pháp tiểu bang và liên bang đã phải tăng hình phạt đối với các hành vi vi phạm hình sự. Chẳng hạn như ở New York, “Luật Rockefeller” ban hành năm 1973 quy định mức án bắt buộc tối thiểu là 15 năm tù cho hành vi buôn bán từ 2 ounces [56,7 grams] (hoặc sở hữu từ 4 ouces [113,4 grams]) heroin, cocaine, hoặc cần sa. Ngoài ra, để đáp lại xu hướng nhiều thẩm phán áp đặt mức hình phạt quá khoan dung, nhiều hình phạt mới, nghiêm khắc hơn thường xuyên được áp dụng bắt buộc và, trong 37 bang mà thẩm phán được bầu lên, nhiều thẩm phán “mềm mỏng” đã bị đánh bại, thay vào đó là những thẩm phán “cứng rắn với tội phạm” hơn.

Ở cấp độ liên bang, Quốc hội đã áp đặt chế tài tối thiểu bắt buộc đối với những tội phạm liên quan đến ma túy, súng, khiêu dâm trẻ em, cùng nhiều tội khác. Không chỉ thế, đôi khi những hình phạt bắt buộc này còn được áp dụng liên tiếp. Chẳng hạn, luật liên bang quy định mức tối thiểu là 10 năm tù giam, tối đa là tù chung thân cho tội tham gia vào âm mưu phân phối từ 5kg cocaine trở lên. Nhưng nếu âm mưu này còn bao gồm cả việc sử dụng vũ khí trái phép, bị cáo dù đóng vai trò không đáng kể trong vụ án cũng phải chịu mức tối thiểu 15 năm tù, ví dụ thế, gồm 10 năm đầu tiên cho số ma túy, và 5 năm tiếp theo cho tội sử dụng vũ khí. Nếu có hai vũ khí, mức phạt tối thiểu sẽ tăng lên 40 năm, ví dụ thế, 10 năm cho số ma túy, 5 năm cho vũ khí đầu tiên, và 25 năm cho vũ khí thứ hai — tất cả các mức hình phạt này đều là bắt buộc, các thẩm phán không có quyền giảm án.

Ngoài những mức án tối thiểu bắt buộc, năm 1984, với sự ủng hộ của cả hai đảng, Quốc hội đã đưa ra một cơ chế hướng dẫn tuyên án bắt buộc được thiết kế nhằm tránh sự chênh lệch mức án “không hợp lý.” Bởi những hướng dẫn này không hà khắc như mức án tối thiểu bắt buộc, và bởi chúng cho phép thẩm phán có thêm một số quyền hạn, ban đầu người ta đã không nhận thức được mức độ chuyển giao thẩm quyền định án từ thẩm phán vào tay các công tố viên ra sao, có lẽ còn nhiều hơn cả mức án tối thiểu bắt buộc.

Tuy nhiên, một điều nhanh chóng trở nên rõ ràng là những hướng dẫn và mức án tối thiểu bắt buộc nói trên đã khiến xét xử bồi thẩm đoàn biến mất trên thực tế trong những vụ án hình sự liên bang. Do đó, trong khi 19% tổng số bị cáo hình sự liên bang được đưa ra xét xử vào năm 1980, con số này đến năm 2000 đã giảm xuống 6% và đến năm 2010 là chưa đến 3%, tiếp tục giữ ở mức đó tới nay.

Lý do là bởi những hướng dẫn cũng như mức án tối thiểu bắt buộc nói trên cho phép công tố viên khuyến khích bị cáo chấp nhận những thỏa thuận nhận tội mà thật ra là ép buộc. Trong đa số các vụ hình sự, luật sư bào chữa chỉ được gặp khách hàng của họ khi hoặc ngay sau khi anh ta bị bắt giữ, do đó lúc đầu công tố viên gặp phải bất lợi thông tin đáng kể. Nếu tiền bảo lãnh quá cao đến nỗi khách hàng bị giữ lại như vẫn thường xảy ra (dù Hiến pháp cấm “tiền bảo lãnh cao quá mức”), luật sư bào chữa có rất ít cơ hội được gặp anh ta để thẩm vấn và móc nối các sự kiện, trừ trong những giờ thăm viếng giới hạn và phải chịu rất nhiều hạn chế khó khăn khác đến từ hầu hết các nhà tù.

Ngược lại, các công tố viên thường có một bản báo cáo đầy đủ, hoàn chỉnh từ cảnh sát với các cuộc phỏng vấn nhân chứng và các bằng chứng khác, lời khai của đại bồi thẩm đoàn, báo cáo xét nghiệm pháp y, điều tra. Trong khi phần lớn các yếu tố này có thể chỉ là từ một phía và thiếu chính xác — báo cáo mới đây của Viện Hàn lâm Khoa học về sự nhận diện không đáng tin của nhân chứng minh chứng rất rõ mối nguy này — nó không chỉ cho các công tố viên một lợi thế rất lớn so với luật sư bào chữa, mà còn khiến các công tố viên tự tin, có khi là thái quá, về sức mạnh của trường hợp của anh ta.

***

Trong bối cảnh này, thông thường trong vài ngày sau vụ bắt giữ, các luật sư bào chữa yếu thế về thông tin sẽ gặp gỡ công tố viên quá tự tin rằng trừ khi vụ án có thể giải quyết nhanh chóng bằng một thỏa thuận nhận tội, anh ta sẽ khởi tố bị cáo với hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất mà anh ta chứng minh được. Trên thực tế, cho đến tận cuối năm ngoái, các tổng chưởng lý vẫn ra lệnh cho các công tố viên khởi tố bị cáo với những tội danh nghiêm trọng nhất có thể chứng minh được — dĩ nhiên là trừ khi bị cáo muốn nhận tội, khi đó công tố viên sẽ đưa ra một mức giảm án đáng kể, nhưng chỉ khi thỏa thuận được đưa ra kịp thời (do đó tiết kiệm chi phí công tố). Nếu không, anh ta vẫn sẽ buộc tội nghiêm trọng nhất, và dù cánh cửa thỏa thuận nhận tội không bao giờ đóng lại, mức án sẽ dần tăng so với mức án được đưa ra nếu bị cáo nhận tội ngay từ đầu.

Trong tình huống điển hình này, công tố viên có mọi lợi thế. Anh ta biết nhiều khía cạnh của vụ án (như đã phân tích ở trên, có lẽ anh ta cảm thấy tự tin hơn mức cần thiết bởi anh ta chỉ nghe từ một phía), trong khi luật sư bào chữa thì không. Hơn nữa, các công tố viên nắm quyền quyết định khởi tố bị can. Thật vậy, luật pháp Mỹ cho phép công tố viên được tự do quyết định; và cả công tố viên lẫn luật sư bào chữa đều biết bồi thẩm đoàn, thường chỉ nghe từ một phía, nhiều khả năng sẽ chấp nhận bất cứ mức án nào công tố viên đề nghị.

Nhưng thứ thực sự đặt công tố viên vào vị thế chủ động là anh ta có thể quyết định mức án theo cách anh ta công khai mô tả hành vi phạm tội, dựa trên hướng dẫn tuyên án, mức án bắt buộc tối thiểu (mà dù không còn bắt buộc đối với hệ thống liên bang, nhiều thẩm phán vẫn theo đó thực hiện), và đơn giản là khả năng định hình bất cứ mức phạt nào được đưa ra của anh ta. Chẳng hạn, công tố viên có thể đồng ý với luật sư bào chữa trong một vụ ma túy liên bang rằng nếu có một thỏa thuận nhận tội, bị cáo sẽ chỉ phải thú nhận việc buôn bán một vài ounces heroin, hành vi đó không phải chịu mức án tối thiểu và mức án hướng dẫn là dưới 2 năm; nhưng nếu bị cáo không nhận tội, anh ta sẽ bị khởi tố trong một vụ án ma túy liên quan tới hàng kg heroin mà lượng anh ta bán chỉ là một phần nhỏ, mức án tối thiểu bắt buộc sẽ là mười năm và mức án hướng dẫn là từ 25 năm trở lên. Nói cách khác, công tố viên chứ không phải thẩm phán mới là người nắm giữ thẩm quyền tuyên án trên thực tế, dù được che giấu dưới vỏ bọc là một quyết định khởi tố.

Luật sư bào chữa hiểu rất rõ vấn đề này, do đó anh ta nhận thức được kết cục tốt nhất cho khách hàng của mình phần nhiều là một thỏa thuận nhận tội sớm, trong khi công tố viên vẫn sẵn sàng chấp nhận lời cầu xin cho một mức án ở mức độ tương đối thấp. Thật vậy, trong năm 2012, mức án trung bình cho các bị cáo trong các vụ án ma túy liên bang chấp nhận bất cứ thỏa thuận nhận tội nào là 5 năm và 4 tháng, trong khi mức án trung bình cho các bị cáo đưa ra xét xử là 16 năm.

Dù chịu áp lực phải đồng ý với thỏa thuận nhận tội đầu tiên được đưa ra, luật sư bào chữa thận trọng sẽ vẫn cố gắng thuyết phục công tố viên cho phép anh ta có thời gian để tìm hiểu những biện hộ pháp luật và thực tế; nhưng công tố viên, thường xuyên phải làm việc quá sức và thiếu nhân lực, có thể sẽ không đồng ý. Hơn nữa, luật sư bào chữa không thể đột ngột từ chối đề nghị của công tố viên bởi theo quyết nghị mới đây của Tối cao Pháp viện, luật sư bào chữa sẽ phải đối mặt với một khiếu nại về “hỗ trợ tư vấn không hiệu quả” nếu anh ta từ chối một thỏa thuận nhận tội như một thủ đoạn đàm phán mà không tham khảo ý kiến của khách hàng.

Luật sư bào chữa cũng thừa nhận rằng ngay cả khi anh ta cho rằng thỏa thuận nhận tội đang được đưa ra là không công bằng so với những thỏa thuận nhận tội được đưa ra bởi những công tố viên khác trong hoàn cảnh tương tự, anh ta cũng không hoặc có nhưng rất ít quyền truy đòi. Khiếu nại với cấp trên của công tố viên hiếm khi thành công bởi họ cảm thấy cần phải hỗ trợ cho cấp dưới của họ, và một lần nữa bởi công tố viên có thể định hình các sự kiện để khiến cấp trên của anh ta đồng ý rằng thỏa thuận nhận tội được đề xuất là chấp nhận được. Luật sư bào chữa cũng không thể khiếu nại đến một bên trung lập thứ ba, như thẩm phán, bởi trong hầu hết các thẩm quyền tài phán, quan tòa không được tham gia vào các cuộc đàm phán thỏa thuận nhận tội. Tóm lại, luật sư và khách hàng của anh ta bị mắc kẹt.

***

Dù có rất nhiều biến thể về chủ đề này, tất cả đều chứng minh cùng một điểm cơ bản: công tố viên có mọi quyền hạn. Đề xuất của Tối cao Pháp viện rằng thỏa thuận nhận tội là một thỏa thuận công bằng và tự nguyện giữa hai bên tương đối bình đẳng hoàn toàn là hoang đường: nó giống một “hợp đồng định sẵn” hơn, trong đó một bên có thể áp đặt ý chí của mình lên bên kia.

Đề xuất của một số học giả rằng thỏa thuận nhận tội tương đương một quá trình điều tiết cũng hoang đường tương tự: chưa nói đến việc mất cân bằng quyền lực, không có một văn bản pháp quy nào kiểm soát việc thực thi quyền hạn khởi tố của công tố viên, cũng như chưa có một quá trình khiếu nại hiệu quả nào đối với việc anh ta thực thi quyền hạn đó ra sao. Kết quả là trong 2,2 triệu người Mỹ đang chấp hành án phạt tù — tự thân nó đã là một con số khủng khiếp — hơn 2 triệu người là kết quả của những thỏa thuận nhận tội do các công tố viên của chính phủ chi phối, những người cũng chi phối các mức án phạt hiệu quả không kém.

Một người hoài nghi có thể hỏi: Như thế thì đã sao? Xét cho cùng, tỷ lệ tội phạm đã giảm với mức độ chưa từng có từ những năm 1960 trong hai thập niên qua, và khó mà kết luận rằng hệ thống tư pháp hình sự của chúng ta, bằng cách cho công tố viên quyền hạn buộc tội phạm phải chấp nhận những án phạt tù đáng kể, lại chẳng đóng góp phần nào đáng kể trong sự sụt giảm này. Hầu hết người Mỹ cảm thấy hiện nay an toàn hơn nhiều so với những thập niên trước, và cảm giác đó đóng góp một phần đáng kể vào sự hưởng thụ cuộc sống của họ. Việc gì phải tranh luận về việc trao quyền cho các công tố viên mà điều đó lại đang đem đến kết quả này cho chúng ta?

Câu trả lời có thể tìm thấy trong tư tưởng của Jefferson rằng một hệ thống tư pháp hình sự bí mật và bị chính phủ chi phối cuối cùng sẽ đem đến sự lạm quyền, thậm chí là bạo ngược. Cụ thể, tôi cho rằng hệ thống thỏa thuận nhận tội do công tố viên chi phối hiện tại có thể mang lại những hậu quả sau.

Thứ nhất, là không công bằng. Hệ thống tư pháp hình sự của chúng ta dựa trên quan điểm tiền đề rằng trước khi tước bỏ quyền tự do của một cá nhân, anh ta phải có “ngày ở tòa,” anh ta phải được thách thức chính phủ và đưa ra những chứng cứ và lập luận của riêng mình, sau đó phải có một bồi thẩm đoàn không thiên vị quyết định anh ta có tội hay không có tội, và cuối cùng, nếu anh ta bị phán quyết là có tội, một thẩm phán trung lập sẽ quyết định hình phạt dành cho anh ta. Như tôi đã trình bày, nhiều biện pháp đảm bảo phương pháp công bằng này đã được thể hiện trong Hiến pháp của chúng ta, dựa trên kinh nghiệm của những nhà lập quốc với hệ thống công lý thuộc địa gian lận của Anh. Chẳng phải hệ thống thỏa thuận nhận tội mà chúng ta có hiện nay đã thay thế những lý tưởng của Hiến pháp bằng những gian lận tương tự?

Thứ hai, và có liên quan chặt chẽ, hệ thống thỏa thuận nhận tội do công tố viên chi phối là sản phẩm của các cuộc đàm phán bí mật lớn ẩn sau những cánh cửa đóng của văn phòng công tố, và chúng không hề được xem xét lại, dù là tự xét hoặc do tòa án. Một hệ thống bí mật như thế chắc chắc đem lại những kết quả tùy tiện. Thật vậy, có một sự mỉa mai không hề nhẹ về việc các biện pháp lập pháp được thiết kế để khắc phục các tệ nạn trong việc định án chênh lệch và tùy tiện lại trao quyền cho công tố viên chủ trì một hệ thống thỏa thuận nhận tội bí mật, không có nguyên tắc mà chúng ta thậm chí còn không biết nó có hoạt động một cách tùy tiện hay không.

Thứ ba, có lẽ nghiêm trọng nhất, là bằng cách gây nên những sức ép quá mức, hệ thống thỏa thuận nhận tội do công tố viên chi phối dường như dẫn đến việc có rất nhiều bị cáo nhận những tội ác mà họ chưa bao giờ thực hiện. Đơn cử như tổ chức Innocence Project [Dự án Vô tội] và các luật sư cộng sự của họ đã chứng minh được khoảng 300 trường hợp bị kết án nhầm về những tội hiếp dâm và giết người mà trên thực tế, họ không phạm phải, và trong số đó có 30 người, hay 10%, đã nhận tội. Có lẽ họ làm như vậy là bởi dù vô tội, họ phải đối mặt với khả năng bị kết án tử và do đó tìm cách trách hình phạt tử hình, thậm chí với mức giá là tù chung thân. Nhưng những trường hợp được đưa ra ánh sáng khác, phát sinh với tần suất đáng lo ngại, cho thấy tâm lý tự bảo vệ này cũng hoạt động trong những trường hợp chưa đến mức án tử hình. Ví dụ, theo báo cáo của National Registry of Exonerations (một dự án chung của Trường Luật Đại học Michigan và Trường Luật Đại học Northwestern), trong 1.428 trường hợp được giải tội từ năm 1989 với mọi khung hình phạt, 151 (hay một lần nữa, 10%) người đã nhận tội mà họ không thực hiện.

***

Không khó nhận ra tại sao lại như vậy. Xét cho cùng, một người bị cáo buộc tội trạng điển hình kết hợp quá khứ đau buồn với  nguồn lực hạn chế: anh ta nhận ra rằng ngay cả khi mình vô tội, cơ hội được bào chữa hiệu quả ở phiên tòa cũng ở mức khiêm tốn nhất. Nếu luật sư của anh ta có thể đạt được một thỏa thuận nhận tội giúp giảm thời gian anh ta có thể phải ở tù, anh ta có thể thấy chấp nhận thỏa thuận đó là “hợp lý.”

Mọi luật sư bào chữa (tôi cũng từng là công tố liên bang và luật sư bào chữa hình sự trước khi làm thẩm phán) đều từng trải qua trường hợp một khách hàng đầu tiên nói với luật sư của anh ta rằng mình vô tội, rồi sau đó khi phải đối mặt với một bản xem thử các bằng chứng của chính phủ, lại nhận mình có tội. Thông thường, thực tế là anh ta có tội và nói dối luật sư của mình (bất chấp sự bảo vệ của đặc quyền luật sư-khách hàng mà nhiều bị cáo không đánh giá cao, thậm chí còn nghi ngờ cả luật sư do tòa chỉ định). Như đôi khi tình huống đảo ngược, khách hàng nói dối luật sư bằng cách tuyên bố mình có tội dù thực tế là không, bởi anh ta đã quyết định sẽ “nhận trách nhiệm.”

Trên lý thuyết, trò chơi này nên được phơi bày ngay khi bị cáo chấp nhận thỏa thuận nhận tội, bởi thẩm phán sẽ hỏi bị cáo về những sự kiện ẩn sau lời thú tội của anh ta. Nhưng trên thực tế, đa số các thẩm phán, vui vẻ vì tránh được một phiên tòa tốn thời gian bởi những lý do riêng, hầu như không hỏi gì đến những sự kiện sát sườn lời thú tội của anh ta, thay vào đó lại dựa trên báo cáo của công tố viên (mà không được kiểm tra qua bất cứ quá trình đối chất nào) về những gì thực tế diễn ra. Thật vậy, trong những tình huống mà công tố viên và luật sư bào chữa tự mình nhận ra lời thú tội có gì đó giả tạo, họ sẽ cùng nhau đi đến một văn bản luận tội cho bị cáo đọc mà khéo léo bao quát mọi căn cứ, nhưng không đi sâu vào chi tiết. Về phần mình, Tối cao Pháp viện đã đi quá xa (với vụ Alford plea of 1970) trong việc cho phép một bị cáo nhận tội trong khi thực tế duy trì sự vô tội của người đó.

Hơn nữa, trong khi việc bị cáo quyết định nhận một tội ác mà anh ta không thực hiện có thể đại diện cho một phân tích chi phí-lợi ích “hợp lý,” thực tế có một số bằng chứng cho thấy áp lực tình thế có thể khiến một bị cáo vô tội đưa ra đánh giá ít hợp lý hơn về cơ hội được tha bổng và do đó quyết định nhận tội khi mà không chỉ thực tế là anh ta vô tội, còn có thể chứng minh được điều đó. Nghiên cứu cho thấy các bị cáo trẻ, không khôn ngoan, hoặc sợ rủi ro thường sẽ đưa ra lời thú tội sai chỉ vì họ không thể “chịu được nhiệt” của một cuộc thẩm vấn. Mặc dù những nghiên cứu về nhận tội sai vẫn chưa được xây dựng, có thể giả định rằng những áp lực tương tự, không lập tức nhưng kéo dài hơn, có thể có tác động khi bị cáo được thông báo, thường là bởi luật sư của anh ta, rằng phiên tòa sẽ bất lợi cho anh ta, khả năng được xóa án là rất thấp, và anh ta đang phải đối mặt với mức án bắt buộc tối thiểu là 10 hay 15 năm, khung án hướng dẫn còn có thể cao hơn nữa, nhưng nếu hành động nhanh chóng, anh ta có thể đạt được thỏa thuận nhận tội cho một hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hơn, điều đó sẽ giúp giảm mức án xuống nhiều năm.

Hiện tượng người vô tội nhận tội phổ biến đến mức nào? Một vài nhà tội phạm học đã có một số nghiên cứu về hiện tượng này ước tính tỷ lệ chung đối với toàn bộ số tội phạm bị kết án nằm trong khoảng từ 2 đến 8%. Kích thước của phạm vi đó cho thấy sự thiếu sót của dữ liệu; nhưng cứ giả sử nó thậm chí còn thấp hơn, dưới 1% chẳng hạn. Nhớ lại rằng trong 2,2 triệu người Mỹ đang chấp hành án phạt tù, có hơn 2 triệu trường hợp thỏa thuận nhận tội, thì số lượng người đang phải chịu phạt tù vì những tội phạm họ nhận nhưng không thực hiện lên đến 20.000 người, thậm chí còn hơn thế nữa.

Chúng ta có thể làm gì? Nếu có ý chí chính trị để thực hiện, chúng ta có thể loại bỏ mức án tối thiểu bắt buộc, các hướng dẫn tuyên án, và làm giảm đáng kể mức độ nghiêm khắc của hệ thống tuyên án nói chung. Nhưng ngay cả trong chính quyền Obama nhiệm kỳ thứ hai, các bước giảm án dù rất khiêm tốn của Tổng chưởng lý Eric Holder cũng vấp phải sự phản đối gay gắt, một số đến từ chính cơ quan của ông. Chẳng hạn, sự ủng hộ công khai của Tổng chưởng lý cho một dự luật về giảm mức án tối thiểu bắt buộc đối với một số tội phạm liên quan đến chất ma túy nhất định được cả hai đảng ủng hộ đã khiến Hiệp hội Trợ lý Luật sư Quốc gia Hoa Kỳ phải gửi một bức “thư ngỏ” phản đối, trong khi hai cựu Tổng chưởng lý, ba cựu lãnh đạo của DEA, và 18 cựu luật sư Mỹ cũng ký một bức thư lên án tương tự.

Có lẽ phản ánh nguồn gốc tôn giáo của chúng ta, người Mỹ nổi tiếng là có khuynh hướng đưa ra những phán xét luân lý. Thường thì điều này phục vụ những mục đích có lợi; nhưng một phụ phẩm của xu hướng luân lý này là một sự trừng phạt mà tôi nghĩ khó có thể thay đổi trong tương lai gần. Thật vậy, phản ứng điển hình của người Mỹ khi đọc được rằng có ai đó bị cáo buộc một tội rất nghiêm trọng mà được phép thỏa thuận nhận tội một tội ít nghiêm trọng hơn đáng kể là nghi ngờ hoặc phẫn nộ, đôi khi chẳng cần lý do. Nhưng hiếm khi họ nghĩ đến khả năng bị cáo có thể hoàn toàn vô tội nhưng đang bị ép buộc nhận một tội ít nghiêm trọng hơn bởi những hậu quả của việc đưa ra xét xử và khả năng thất bại là quá lớn.

Cuối cùng, tôi ủng hộ những gì mà một số nền tư pháp, đặc biệt là ở Connecticut và Florida, đang bắt đầu thử nghiệm: thẩm phán được tham gia vào quá trình thỏa thuận nhận tội. Hiện tại, điều này bị cấm trong các tòa án liên bang với lý do chính đáng: việc một thẩm phán có liên quan có nguy cơ làm ảnh hưởng đến tính khách quan của ông ta nếu không đạt được thỏa thuận. Bởi những lý do tương tự, nhiều thẩm phán liên bang (trong đó có tôi) từ chối tham gia các cuộc đàm phán giải quyết trong các vụ kiện dân sự, mặc dù không như các tình huống thỏa thuận nhận tội hình sự, điều đó không gặp phải trở ngại pháp lý nào. Nhưng vấn đề sẽ được giải quyết trong các vụ kiện dân sự bằng cách giao những cuộc đàm phán thương thuyết cho các thẩm phán hoặc trọng tài, những người sẽ không báo cáo kết quả lên thẩm phán xử lý các thủ tục tố tụng tiếp theo. Nếu luật liên bang được thay đổi, điều tương tự có thể được tiến hành trong các tình huống thỏa thuận nhận tội hình sự.

Như tôi hình dung, không lâu sau khi một bản cáo trạng được trả lại (hoặc có lẽ còn sớm hơn nữa nếu vụ bắt giữ đã diễn ra và bị cáo đang bị giam giữ), một thẩm phán sẽ tới gặp riêng công tố viên và luật sư bào chữa, quá trình đó sẽ được ghi lại và niêm phong, tất cả những người có mặt sẽ được cung cấp các nội dung có liên quan tới bằng chứng và các vấn đề trong vụ án. Trong một số trường hợp, thẩm phán có thể thẩm vấn nhân chứng hoặc kiểm tra các bằng chứng khác, cũng dưới niêm phong để không làm tổn hại đến chiến lược của bất kỳ bên nào. Thẩm phán thậm chí còn có thể phỏng vấn bị cáo, theo thỏa thuận ở một nơi đảm bảo quyền không phải tự buộc tội của bị cáo theo Tu chính án V.

Đồng thời, công tố viên không được đưa ra (hoặc đe dọa) bất kỳ thỏa thuận nhận tội nào trong lúc thẩm phán xem xét vụ án. Một khi thẩm phán đã sẵn sàng, ông ta sẽ gặp riêng rẽ cả hai bên và đưa ra đề xuất nếu phù hợp, chẳng hạn như bãi bỏ vụ án (nếu ông ta nghĩ các bằng chứng là quá yếu), tiến hành xét xử (nếu ông ta nghĩ sẽ không có thỏa thuận nhận tội hợp lý nào được đưa ra), hoặc tiến hành thỏa thuận nhận tội như ông ta có thể gợi ý. Không bên nào buộc phải nghe theo gợi ý của thẩm phán. Tác động của họ, nếu có, sẽ đến từ việc họ được một bên thứ ba trung lập đề xuất, hơn nữa lại là một nhân viên tư pháp mà công tố viên và luật sư bào chữa từng gặp trong rất nhiều các vụ khác.

Liệu một kế hoạch cơ cấu theo những gì trình bày ở trên có thể loại bỏ hoàn toàn việc nhận tội sai hay không? Có lẽ là không, nhưng chắc chắn sẽ giúp giảm thiểu số lượng. Liệu nó có đem đến những vấn đề không thể lường trước của riêng nó hay không? Chắc chắn, đó là lý do tôi đề nghị thử nghiệm nó như một chương trình thí điểm. Ngay cả với những quy định cấm thẩm phán liên quan đến quá trình thỏa thuận nhận tội hiện nay của liên bang, tôi nghĩ rằng một thứ gì đó tương tự là có thể thực hiện được, bởi hầu hết những quy định như vậy có thể được bãi bỏ và các bên liên quan ở đây có thể đồng ý từ bỏ chúng cho những mục đích có giới hạn của chương trình thí điểm.

Tôi không hề ảo tưởng rằng đề xuất thẩm phán tham gia trong quá trình thỏa thuận nhận tội là một loại thuốc chữa bách bệnh. Nhưng liệu có chương trình nào giúp giảm bớt nỗi xấu hổ của việc bắt giam người vô tội mà không đáng thử? ♦

Bản dịch © 2014 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on November 20, 2014 by in Chính trị, Pháp lý and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,643 other followers

%d bloggers like this: