Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Người Việt tị nạn ở Trung Quốc: mái nhà chưa trọn vẹn


Nguồn: “Refugees: Almost home,” The Economist, 10/10/2015.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

Wu Guangsui

Trong một nhà hàng ở trấn Kiều Cảng thuộc tỉnh Quảng Tây miền Nam Trung Quốc, có một tấm bích chương lớn hình Mao Trạch Đông – “Thái Dương Hồng” – treo bên dưới bức hình của một hòn đảo Việt Nam, nơi Wu Guangsui (có thể họ Ngô hoặc Vũ, Ngô Quang Tuy?), chủ nhà hàng, sinh ra. Ông đã cùng gia đình trốn sang Trung Quốc bằng thuyền năm 1978 khi quan hệ giữa hai nước láng giềng từng một lần thân thiện trở nên xấu đi – dẫn đến cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu một năm sau đó. Ông Ngô (ảnh), cũng như khoảng 300.000 người Việt Nam đã tìm nơi trú ẩn ở Trung Quốc vào thời điểm đó, lo sợ một cuộc bức hại ở quê nhà do là thành viên của một dân tộc đa số của Trung Quốc.

Những người tị nạn này là một trong số rất ít người nước ngoài được định cư hợp pháp ở Trung Quốc. Từng một thời nghèo khó, Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới và đang khát khao trở thành một cường quốc toàn cầu. Dân số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc đang co hẹp, nhưng nó vẫn cứng đầu không sẵn lòng chấp nhận những người nhập cư mới; hàng ngàn người chạy trốn bức hại hoặc xung đột ở Bắc Triều Tiên hoặc Myanmar trong những năm gần đây đã phải đối mặt với lệnh trục xuất của chính quyền Trung Quốc. Những ai bị gửi trả về Bắc Triều Tiên thường bị cầm tù và đôi khi bị hành quyết trên đường trở về.

GuangxiVới người Việt Nam lại khác. Ở đỉnh cao của cuộc di cư, 100.000 người đã vào Trung Quốc qua thị trấn Đông Hưng ở biên giới tỉnh Quảng Tây – gấp 10 lần dân số địa phương (xem bản đồ). Trụ sở chính quyền, nhà cửa và trường học đã được trưng dụng cho họ tạm trú. Sau đó họ được định cư ở sáu tỉnh. Năm 2006, António Guterres, Cao ủy viên Liên Hợp Quốc về người tị nạn, mô tả đây là “một trong những chương trình hội nhập thành công nhất trên thế giới.”

Chính phủ cho những người mới đến nơi ở và việc làm, phần nhiều là trong các nông trại và nhà máy quốc doanh được dành riêng cho người Việt Nam. Ông Ngô được gửi đến đánh cá ở Kiều Cảng, nghĩa là “cảng nước ngoài”. Nó được dựng lên như một ngôi làng mới cho người nhập cư. Trong vòng một thập niên nhiều người Việt Nam đã được cấp chứng minh thư và các giấy tờ đăng ký hộ khẩu, cho phép họ được hưởng giáo dục và phúc lợi do nhà nước tài trợ. Một số đã được cấp hộ chiếu Trung Quốc. Hiện nay hầu hết đều có đầy đủ các quyền như công dân Trung Quốc. Tuy nhiên, chính phủ vẫn còn phân loại họ như những người nhập cư. Có thể họ nghĩ điều này sẽ làm nản lòng những người khác đang nghĩ tới việc chạy trốn sang Trung Quốc thôi tin rằng họ sẽ được hưởng những lợi ích tương tự như những người đến từ Việt Nam.

Ngay cả người Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn. Nhiều người nghèo khó hơn dân Trung Quốc địa phương, những người nói tiếng Quan Thoại sõi hơn và việc có quan hệ tốt hơn với các thị trấn nhà máy đang nở rộ ở miền Nam Trung Quốc đã giúp họ gặt hái nhiều thành công hơn. Kiều Cảng nhếch nhác và mục nát hơn so với thành phố Bắc Hải lân cận, nơi có cả một rừng tòa nhà mới sáng loáng. Khoảng 50 cây số trong đất liền, ở Lý Quảng, một trong nhiều “kiều điền” nơi người Việt được gửi tới làm việc, những người tị nạn trước đây hiện đang chiếm gần một phần ba dân số, nhưng hầu như tất cả doanh nghiệp địa phương đều là của Trung Quốc; hầu hết người Việt vẫn còn ở thôn quê.

Việc ông Ngô và hầu hết đồng bào của ông nói tiếng Quảng Đông, thứ ngôn ngữ được sử dụng phổ biến ở Quảng Tây, đã giúp họ hội nhập. Họ thuộc cùng một nhóm dân tộc Hán tạo nên hơn 90% dân số Trung Quốc. Nhưng họ vẫn thường bị đối xử như người ngoài, cho dù họ đã sống ở Trung Quốc lâu hơn ở Việt Nam, và tự coi mình là người Trung Quốc. Người dân Quảng Tây gọi họ – và con cái sinh ra ở Trung Quốc của họ – là hoa kiều, hay người Trung Quốc ở nước ngoài. Theo ông Su Chungui (Tô Xuân Quý?), một nông dân người Việt ở Lý Quảng, khi có mâu thuẫn, người địa phương gọi họ là “bóng ma Việt Nam”. Năm 2013, ông Tô cùng một số đồng bào trồng sắn trên mảnh đất hoang để thêm thắt cho khoản thu nhập còi cõm của họ. Nhưng dân làng người Trung Quốc đã phá dỡ toàn bộ trước khi đến mùa thu hoạch, ông Tô nói: “Chúng tôi là người ngoài, thế nên khi cãi nhau, chúng tôi thỏa hiệp.” Người nhập cư không trả đũa.

Sự xuất hiện của người Việt là một bước ngoặt đối với một đất nước từ lâu đã đóng cửa với phần lớn thế giới bên ngoài, một đất nước chỉ bắt đầu có những dòng chảy hướng ra ngoài kể từ khi những người cộng sản lên nắm quyền: hàng ngàn người Trung Quốc dân tộc Triều Tiên thậm chí còn phải chạy sang Bắc Triều Tiên để thoát khỏi nạn đói trong những năm 1960. Năm 1979, cơ quan tị nạn của Liên Hợp Quốc, UNHCR, đã thiết lập một văn phòng tại Bắc Kinh. Ba năm sau, Trung Quốc ký công ước của Liên Hợp Quốc về việc giải quyết người tị nạn.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn chưa thông qua pháp luật quốc gia phản ánh những yêu cầu của công ước này. Chưa có định nghĩa pháp lý về người tị nạn. Ngoài Việt Nam, Trung Quốc chỉ có 583 người tị nạn trong hồ sơ – hầu hết đến từ Somalia và Nigeria. Khoảng 60.000 người Myanmar đã đổ qua biên giới vào Trung Quốc để thoát khỏi cuộc giao tranh giữa quân nổi dậy và các lực lượng chính phủ trong năm nay. Chính phủ Trung Quốc đã không cho UNHCR tiếp cận các trại tị nạn nơi họ được tạm trú trong thời gian ngắn. Người tị nạn từ Bắc Triều Tiên thậm chí còn chưa bao giờ có nơi trú ẩn. Trung Quốc gọi họ là “tội phạm” hoặc “di dân kinh tế bất hợp pháp” – một phần do Trung Quốc vẫn là đồng minh của Bắc Triều Tiên, nhưng cũng là do Trung Quốc sợ sẽ thu hút thêm nhiều người tị nạn.

Điều này không hẳn là về tính thực tiễn trước mắt: cuộc di tản khoảng 5 triệu người trong cuộc động đất ở tỉnh Tứ Xuyên năm 2008 đã chứng tỏ chính phủ có thể cung cấp nơi trú ẩn và chăm sóc y tế khẩn cấp với số lượng lớn. Trung Quốc lo ngại nhiều hơn về tác động tới sự ổn định xã hội của một số lượng lớn người nhập cư thất nghiệp thuộc các nhóm dân tộc không phải người Hán đa số. Nó chẳng mấy mong muốn phải chăm sóc dài hạn (và các chính quyền địa phương thiếu tiền còn ít hơn). Nhưng có thể sẽ cần. Nếu Bắc Triều Tiên chìm vào hỗn loạn, cuộc di dân từ Việt Nam sẽ chẳng thấm tháp gì (mặc dù nếu chế độ sụp đổ, nhiều người tị nạn sẽ hướng xuống Hàn Quốc). Sự chuẩn bị hữu hình duy nhất của Trung Quốc cho tới nay chỉ là thắt chặt an ninh dọc theo đường biên giới. ♦

Advertisements

6 comments on “Người Việt tị nạn ở Trung Quốc: mái nhà chưa trọn vẹn

  1. Bà Tám
    October 10, 2015

    Khác chủng tộc, cùng màu da, nhưng vẫn bị xem là người ngoài. Còn nếu khác màu da, thì khỏi nói, ở lâu cỡ nào, thế hệ thứ hai, thứ ba, khác màu da vẫn bị xem như người ngoài.

    Liked by 1 person

    • Hong-Anh Nguyen
      October 10, 2015

      Cùng chủng tộc chứ ạ, họ đều là người (dân tộc) Hán mà, chỉ là khác quốc tịch ban đầu thôi.

      “…lo sợ một cuộc bức hại ở quê nhà do là thành viên của một dân tộc đa số của Trung Quốc.”

      “Việc ông Ngô và hầu hết đồng bào của ông nói tiếng Quảng Đông, thứ ngôn ngữ được sử dụng phổ biến ở Quảng Tây, đã giúp họ hội nhập. Họ thuộc cùng một nhóm dân tộc Hán tạo nên hơn 90% dân số Trung Quốc.”

      Liked by 2 people

      • Bà Tám
        October 10, 2015

        Ông Ngô là người Việt gốc Hoa vượt biên sang Trung quốc mà. Ở VN có lẽ ông vẫn bị xem là người Hoa, và sang Trung quốc ông bị xem là người Việt. Người đọc biết ông gốc Hán, nhưng người Hoa địa phương không biết, không cần biết, hoặc không muốn biết.

        Nhiều khi, tôi nghĩ, sự phân biệt giữa người khác chủng tộc là chuyện phát xuất tự nhiên, có lẽ để tự bảo tồn và để tranh đua. Quan sát người Mỹ, họ vẫn có một sự phân biệt giữa người cùng chủng tộc với nhau. Trong môi trường làm việc, họ có inner circle, gạt ra những người không thân không thích, để bảo vệ ngôi vị, quyền lợi. Tóm lại, khi để bảo vệ cái gì đó quí giá với bản thân hay trong vòng thân thích, người ta loại bỏ tất cả những thứ có thể ảnh hưởng làm suy giảm sự quí giá mà người ta đang sở hữu. Sự loại bỏ này không chỉ dành riêng cho người khác chủng tộc, hay khác màu da.

        Liked by 1 person

        • Hong-Anh Nguyen
          October 10, 2015

          Thậm chí anh chị em ruột cùng cha cùng mẹ cũng còn có khi coi nhau như kẻ thù.

          Liked by 1 person

    • Hong-Anh Nguyen
      October 11, 2015

      Bữa nay thấy Nicholas Kristof của tờ NYT kể chuyện là hồi năm ngoái (2014) sau khi ổng viết một series bài về nạn phân biệt chủng tộc ở Mỹ thì bị bao người mắng cho là vớ vẩn (nonsense).

      Liked by 1 person

      • Bà Tám
        October 12, 2015

        Kỳ thị chủng tộc ở Hoa Kỳ là chuyện muôn đời. Khó phân biệt đâu là kỳ thị chủng tộc, hay đó là kỳ thị giai cấp, thậm chí có thể chỉ là những yêu ghét thường tình giữa người này với người kia. Thường thường, người ta không thấy sự kỳ thị chủng tộc, chỉ có những người bị người ta kỳ thị mới nhìn thấy sự ky thị này. Kristof là một nhà báo đặc biệt rất hiếm hoi. Có lẽ ông nhận thấy sự kỳ thị này tinh tế hơn đồng nghiệp của ông là nhờ vợ của ông là một người ngoại quốc :-)

        Liked by 2 people

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on October 9, 2015 by in Văn hóa & Xã hội.

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,643 other followers

%d bloggers like this: