Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Về những giới hạn của phê bình văn học


The Limits of Critique

Matthew Mullins là phó giáo sư văn học và quan niệm sử tại Southeastern Baptist Theological Seminary, và tác giả cuốn Postmodernism in Pieces (Oxford University Press 2016). Đây là bài Mullins điểm cuốn The Limits of Critique (University of Chicago Press 2015) của Rita Felski, giáo sư văn học tại Đại học Virginia và chủ biên tập san New Literary History (Johns Hopkins University Press), đăng trên The Los Angeles Review of Books số 27 tháng 12, 2015. Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Chúng ta đang hậu phê phán?

Lần đầu tôi gặp cái mà các nhà phê bình văn học vẫn gọi là “lý thuyết văn học,” “lý thuyết phê bình,” hay chỉ đơn giản là “lý luận” là trong một lớp “Lý thuyết Văn học Đương đại” của người chắc hẳn là giáo sư kiên nhẫn nhất thế giới. Mỗi tuần chúng tôi nghiên cứu một cách tiếp cận khác nhau đối với việc đọc, từ chủ nghĩa hình thức đến chủ nghĩa cấu trúc đến chủ nghĩa Marx đến chủ nghĩa nữ quyền đến giải cấu trúc đến chủ nghĩa hậu thực dân và hơn nữa. Mỗi lý thuyết mới đều thể hiện bản thân như một phương tiện diễn giải đích thực, một lý thuyết sẽ dẫn dắt tôi qua những màn khói và mặt trận giả vốn đã làm lu mờ những ý nghĩa của các tác phẩm văn học, hay cái mà tôi được học gọi là “văn bản.” Chủ nghĩa cấu trúc là câu trả lời cho mọi câu hỏi khả dĩ, có vẻ như vậy, cho đến khi tôi học về chủ nghĩa Marx, thứ bị thay thế bằng chủ nghĩa nữ quyền và cứ thế. “Giờ thì mình đã hiểu,” tôi nghĩ vậy mỗi tuần, để rồi lại tỉnh ngộ khỏi đức tin cũ khi lý thuyết tiếp theo chỉ cho tôi con đường đích thực tới ý nghĩa. Đọc hóa ra không chỉ đơn giản là theo đuổi câu chuyện hay lập luận hay hình ảnh. Mà nó là một quá trình phức tạp, trong đó văn bản và bối cảnh, từ ngữ và thế giới của chúng phải được giải mã như những chữ tượng hình. Cuối cùng tôi nghĩ về “lý thuyết” như một dạng thuật ngữ tóm gọn cho nhiều cách tiếp cận khác nhau để giải mã những chữ tượng hình này, và tôi nhận ra thế giới của nghiên cứu văn học mà tôi đã rất háo hức gia nhập được chia thành nhiều phái. Phái Marxist muốn nói về giai cấp, trong khi phái hậu thực dân muốn nói về đế chế.

Điều Rita Felski giải thích với sự thấu đáo và tường minh trong cuốn sách mới của bà, The Limits of Critique, là những đặc điểm khiến các lý thuyết này trở nên rất khác biệt so với nhau lại chính là những thứ đã đặt chúng trên một đặc tính chung, đặc tính của phê bình. Dù có cách tiếp cận hình thức luận hay một cách tiếp cận lạ thường, công việc của nhà phê bình vẫn là chất vấn văn bản, xác định đồng mưu của nó với các lực lượng xã hội, chống lại đồng mưu này, và ca tụng đức tính của những văn bản làm công việc này cho chúng ta. Thẩm quyền của phê bình dựa một phần vào giọng điệu công minh của nó, khả năng của nó trong việc cho nhà phê bình khoảng cách đủ xa để nhận dạng và chất vấn thứ có vẻ như lẽ thông thường. Nếu không tham gia vào phê bình, thì nhà phê bình sẽ được cho là ngây thơ, thờ ơ với chính trị, hoặc, tệ hơn, là một nhà nhân văn chủ nghĩa!

Felski cho rằng phê bình đã trở thành một dạng lẽ thông thường đến mức nó bắt đầu phô bày. Cuốn sách của bà có ý định chỉ ra phê bình không có cùng ranh giới với nghiên cứu văn học, mà thay vào đó là một trong nhiều phương pháp luận. Mặc dù tôi nghĩ bà hoàn thành mục tiêu này bằng một cách đã làm mở rộng những giới hạn của ngành, tôi cho rằng bản thân mục tiêu sẽ vấp phải sự phản đối. Tại thời điểm sự cô lập nhìn từ ngoài vào của nghiên cứu văn học chỉ là một ví dụ của quá trình trượt dần vào lãng quên của các ngành nhân văn, cái nhìn của Felski về phê bình sẽ được một số người xem như một sự quay lưng với kỹ năng liên ngành, chính trị nhất mà chúng ta có. Suy cho cùng, nếu chúng ta không tham gia vào “tư duy phê phán,” thì làm thế nào chúng ta có thể tiếp tục biện minh cho sự tồn tại của mình? Nhưng lập luận của Felski không chối bỏ tư duy phê phán. Thay vào đó, bằng cách xem xét những gì phê bình có thể và không thể làm được, bà suy nghĩ lại chính trị hoàn toàn và hình dung lại đóng góp mà các nhà phê bình văn học có thể đem lại cho trường đại học và nền văn hóa nói chung.

The Limits of Critique bắt đầu bằng việc mô tả lại phê bình như một phiên bản văn học của cái mà triết gia Paul Ricœur gọi là “phép thông diễn ngờ vực” (“hermeneutics of suspicion”). Đọc một cách ngờ vực là khẳng định rằng ý nghĩa thực sự của văn bản luôn ẩn mình. Bằng cách định nghĩa lại phê phán như một phép thông diễn ngờ vực, Felski chứng minh rằng nó không phải là một khả năng trí tuệ độc quyền. Thay vào đó, sự lãnh đạm và tách biệt của phê bình thể hiện nó như một nỗ lực cảm xúc cương quyết. Việc đảm nhận vai trò của nhà phê bình có những phần thưởng mang tính cảm xúc của riêng nó. Nhà phê bình là người đọc tường tận đứng trên hoặc sau nhiều sự gắn buộc vốn ngăn cản độc giả thông thường thấy được ý nghĩa thực sự của một văn bản. Nhà phê bình không bao giờ ngây thơ. Nhà phê bình là thành viên của một câu lạc bộ độc quyền gồm những người có kiến thức, những người không bị bề ngoài của sự vật đánh lừa. Trên thực tế, các nhà phê bình văn học đã thực hành một phương pháp có những đức tính trí tuệ thường làm lu mờ đi những thú vui cảm xúc của nó.

Nguồn gốc của lập luận này có thể được truy trở lại ít nhất một chục năm trong các tác phẩm của Felski. Trong Literature after Feminism (2003) bà kể việc dạy tác phẩm The Bostonians của Henry James cho một lớp sinh viên đã bỏ lỡ cách xử lý tinh tế của cuốn tiểu thuyết về giới tính do các em kháng cự lại các giá trị gia trưởng của nó. “Các em háo hức áp đặt cái mà các em nhìn nhận là cách đọc chính xác theo chủ nghĩa nữ quyền vào văn bản,” bà nhớ lại, “mà các em đã bỏ quên điều mà văn bản có thể nói lại với các em.” Felski xác định sự gắn bó với kháng cự này vừa như một đặc tính cổ điển của cách diễn giải theo chủ nghĩa nữ quyền vừa như một ví dụ điển hình về “phép thông diễn ngờ vực” của Paul Ricœur. Tham chiếu tới Ricœur trong Literature after Feminism sáng rọi nhưng ngắn ngủi, và Felski nhanh chóng chuyển chủ đề.

Nhưng có vẻ sự cộng hưởng giữa diễn giải nữ quyền và “phép thông diễn ngờ vực” đã vang lớn trong suy nghĩ của bà về cách các cách tiếp cận như chủ nghĩa nữ quyền dạy chúng ta đọc. Năm năm sau Literature after Feminism, Felski xuất bản Uses of Literature (2008), xây dựng trên công trình của Eve Sedgwick và những người khác để lập luận rằng sự nghi ngờ đã trở thành thái độ trên thực tế của các lớp lý thuyết văn học và kêu gọi thay đổi: “Tại thời điểm này, chúng ta đều là những người đọc kháng cự; có lẽ đã đến lúc chống lại tính tự động kháng cự của chúng ta, để mạo hiểm thử các hình thức can dự mỹ học khác.” Lần đầu tôi đọc Uses of Literature nó lập tức đưa tôi trở lại khóa “Lý thuyết Văn học Đương đại” đó và cuộc đấu tranh của tôi để hiểu được phạm vi đa dạng của “các lý thuyết” so với cái mà mọi người quanh tôi vẫn gọi đơn giản là “lý thuyết.” Nó giúp tôi bắt đầu hiểu ra tại sao tôi thấy những sự mặc khải liên tiếp của học kỳ đó thật thú vị và nhiễu loạn. Uses of Literature có một bước tiến xa hơn Literature after Feminism, đưa ra bốn lựa chọn thay thế cho việc đọc một cách ngờ vực: thừa nhận, say mê, kiến thức, và chấn động, mỗi lựa chọn đều vạch ra một phương pháp luận mang tính ít đối kháng hơn.

Thứ bắt đầu như một quan sát về các nhãn hiệu nhất định của diễn giải nữ quyền trong Literature after Feminism và mở rộng thành một bản sửa đổi của lý thuyết văn học rộng hơn trong Uses of Literature đã phát triển thành một lập luận về chính phạm vi của nghiên cứu văn học trong The Limits of Critique. Những giới hạn của phê bình là dễ thấy nhất trong các lớp văn học, nơi các giảng viên vắt kiệt sức mình trong nỗ lực giúp sinh viên thấy được rằng họ đang không cố dạy chúng “câu trả lời,” như thể là có một câu trả lời. Thay vào đó, chúng tôi đang cố giúp các em nhìn theo một cách nhất định, cách nhất định đó, dĩ nhiên, là cách chúng tôi nhìn. Không phải là chúng tôi muốn các em đi đến những kết luận tương tự, mà là muốn các em học cách hỏi những dạng câu hỏi tương tự mà chúng tôi đã học để hỏi. Tôi ít quan tâm (dù không phải là không quan tâm) đến những diễn giải của sinh viên về Jazz của Toni Morrison hơn quan tâm đến khả năng hỏi những dạng câu hỏi đem đến những hiểu biết mới của các em. Các em học để có một thái độ nhất định đối với văn bản và phê bình hiện có về văn bản, một thái độ phần lớn đánh giá cao những điều này vì những gì mà chúng không nói. Sinh viên trở thành các nhà phê bình đang tìm kiếm một khoảng trống để lấp đầy, một sự vắng mặt để làm cho có mặt. Bằng cách này, phê bình là một “vấn đề về phong cách, phương pháp, và định hướng (‘biết cách’ đọc một văn bản hoặc theo đuổi một lý luận), bao gồm sự mô phỏng của cả giọng điệu lẫn kỹ thuật.”

Felski cho rằng phong cách này có hai hình thức cơ bản và các hình thức này đã trở thành bản chất thứ hai đối với các nhà phê bình. Các nhà phê bình “đào sâu” và “đứng lại.” Đào sâu là thực hành của phái Freud và Marxist. Các nhà phê bình thuộc phái này cúi xuống để khai quật, chất vấn, và mổ xẻ văn bản. Họ nghi ngờ bề mặt của nó. Đứng lại là biện pháp của phái hậu cấu trúc và tân lịch sử. Các nhà phê bình thuộc phái này tách mình để định vị, ngữ cảnh hóa, và giải tự nhiên hóa văn bản. Họ ngờ vực cái trông có vẻ tự nhiên. Những phép ẩn dụ về đào sâu và đứng lại này có chức năng như các lực hướng tâm của phê bình. Chúng khuyến khích nhà phê bình có một thái độ ngờ vực đối với văn bản. Diễn giải dựa trên giả định rằng mọi văn bản đều mang nhiều ý nghĩa hơn lời nói. Hành động đọc đơn thuần trở thành hành động “rút ra điều không rõ ràng.”

Cho dù phái đứng lại không tin vào cùng cuộc tìm kiếm chân lý nền tảng đã thúc đẩy phía đào sâu, nó đưa ra một cái nhìn phê bình tương tự vào bất cứ điều gì trông có vẻ tự nhiên. Điều vốn được coi là lẽ đương nhiên đó phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Nhưng, như Felski phản đối, “Chỉ ra một số ý tưởng nào đó là tồi và lại được coi là lẽ đương nhiên là một chuyện. Nhưng kết luận rằng chúng tồi bởi vì chúng được coi là lẽ đương nhiên là chuyện khác…” Phê bình cho rằng những gì được coi là lẽ đương nhiên nhất thiết là tồi và dung dưỡng một giả định như vậy như thái độ mặc định của nhà phê bình. Trong một cách diễn đạt hoàn hảo đặc trưng, Felski châm biếm rằng “phê bình phản đối lẽ thông thường thì không thừa nhận được những khía cạnh lẽ thông thường của phê bình.” Những độc giả ngờ vực có thể không để ý cách tiếp cận thận trọng của họ với một văn bản đã tạo ra một cách đọc thay vì một cách đọc khác như thế nào. Họ có thể luôn giả định rằng văn bản hoặc tác giả phạm tội gì đó đòi hỏi một cách diễn giải ngờ vực.

Felski mô tả nhà phê bình ngờ vực như một thanh tra hoặc thám tử. Nếu nhà phê bình đọc bằng cách đào sâu và đứng lại, thì chúng ta viết bằng cách làm việc từ quả đến nhân như các thám tử tài ba luôn làm. Các nhà phê bình phải kể một câu chuyện thuyết phục về đồng mưu của văn bản với các cấu trúc xã hội lớn hơn. Vấn đề là không chỉ người đọc phê phán có con mắt ngờ vực của thám tử mà chính tinh thần ngờ vực của phê bình đã thúc đẩy họ sử dụng tích cách này ngay từ đầu. Mỗi văn bản đều có một cái gì đó để che giấu, và một khi nhà phê bình tìm ra được lực lượng xã hội nào nằm bên dưới bề mặt hay ẩn trong tầm mắt, thì họ phải đưa ra một câu chuyện thuyết phục về đồng mưu của văn bản. Văn bản nếu không phải thủ phạm thì cũng luôn là kẻ đồng lõa. Cảm giác hồi hộp của việc tìm ra là điều ban đầu thu hút nhiều người đến với nghiên cứu văn học. Chúng ta có được niềm vui trong việc khám phá các lực lượng ẩn quyết định cấu trúc và nội dung của văn bản và trong việc thuộc về câu lạc bộ độc quyền dành riêng cho những ai có thể tư duy theo cách này. Nhưng cũng như nhiều hình thức kiến thức chuyên ngành khác, phê bình phụ thuộc vào sự tự nhận thức, thậm chí sự siêu tự nhận thức, và ngờ vực có thể trở nên quái dị khi tự mình hoạt động.

Trong những năm gần đây, Felski nhận xét, “quan hệ giữa nhà phê bình và thám tử đã trở nên xơ vữa…” Trong khi thám tử bắt đầu đại diện cho con mắt toàn thị của nhà nước, các nhà phê bình lại bắt đầu mất lòng tin vào thám tử và thay vào đó đồng nhất với tội phạm, trong khi vẫn tiếp tục “đọc như một mật thám.” Dần dà, độc giả phê phán bắt đầu thực hành phê bình về phê bình: “Văn bản không còn bị cáo buộc với hoạt động tội phạm nữa mà thay vào đó là diễn giải về văn bản.” Chúng ta đã đạt tới một điểm hiệu suất suy giảm, một vòng luẩn quẩn: chúng ta càng trở nên nghi ngờ về phê bình, chúng ta càng bị phong cách của nó nắm bắt.

Sự phê bình về phê bình vô tận này ám ảnh mỗi chương sách. Felski liên tục bảo vệ đồ án của bà khỏi cáo buộc rằng nó chỉ đơn giản là nhấn mạnh hơn vào phê bình. Sự lặp lại này chắc chắn là cần thiết do đối tượng độc giả dự tính của bà được tạo nên từ những người sống và thở trong phê bình. Theo tôi, bà đã phản bác thành công sự phản đối này. Cuốn sách không có ý định tiết lộ cách phê bình làm lu mờ một con đường đích thực hơn tới ý nghĩa, mà chỉ liệt ra cách nó trở nên “đồng nghĩa với sự chặt chẽ về trí tuệ, tinh tế về lý thuyết, và không tuân thủ với nguyên trạng,” cách nó trở thành “không chỉ một điều tốt mà còn là điều duy nhất có thể nhận thức được.” Mục tiêu của Felski không phải là phê bình phê bình, mà là tái mô tả nó như bầu không khí của nghiên cứu văn học, với tầm nhìn hướng tới việc mở rộng không gian của chúng ta. Bà không tìm cách làm xói mòn, phơi bày, và từ đó bác bỏ phê bình, như các bài đọc phê bình thường làm với các đối tượng của chúng. Có lẽ khác hơn, chúng ta bắt đầu hiểu ra những sức mạnh và thú vui của phê bình một cách sâu sắc hơn bằng cách khám phá những giới hạn của nó.

Tuy nhiên, không phải chúng ta phải cân nhắc những tác động chính trị của việc kiềm chế phê bình hay sao? Phê bình đã trở thành phương thức mặc định của nhà phê bình văn học một phần là do nó chối bỏ việc chấp nhận nguyên trạng. Nếu không còn coi phê bình là nền tảng của nghiên cứu văn học, thì không phải chúng ta đánh liều bỏ qua những điều kiện chính trị trong đó các văn bản được sản sinh và được đọc hay sao? Thật ra, Felski khẳng định rằng không có gì là “tự động tiến bộ về một lập trường ngờ vực.” Sự trớ trêu và tách biệt vốn thúc đẩy các nhà phê bình giờ đã sáo cũ. Nhà phê bình không còn là người ngoài kháng chính thống. Phê bình không còn ngoài lề; mà là chủ lưu. Nhưng những tác động chính trị của lập luận của Felski còn vượt xa việc đánh giá lại quan điểm rằng phê bình mang tính tiến bộ chính trị cố hữu. Bà cũng dựa trên công trình của triết gia và học giả nghiên cứu khoa học Bruno Latour để suy nghĩ lại chính ý tưởng “chính trị.”

Latour có lẽ được biết đến rộng rãi nhất với tuyên bố của ông, như nhan đề một cuốn sách ra đời rất sớm, We Have Never Been Modern (Chúng ta chưa bao giờ hiện đại). Ông cũng nổi tiếng với lý thuyết về các quan hệ xã hội mà ông vạch ra trong cuốn Reassembling the Social. Trong cuốn sách này, Latour tiên phong với thương hiệu của riêng ông về cái mà các nhà xã hội học và triết học gọi là lý thuyết tác nhân-mạng lưới. Ý tưởng cơ bản là các nhóm mà chúng ta thường nghĩ là “xã hội” không tĩnh hay thiết yếu, mà liên tục biến đổi hoặc đang được xây dựng. Tức là, chúng ta không thể tìm đến “những cách giải thích xã hội” cho bản chất của các sự vật như chúng vốn có bởi “xã hội” chính là điều luôn cần được giải thích. Chúng ta không thể dựa vào các lực lượng xã hội để giải thích một văn bản, hoặc dựa vào một văn bản để giải thích những lực lượng xã hội sản sinh ra nó. Đối với Latour, điều quan trọng về cách nhìn này là ý nghĩa của mọi con người và phi con người trong việc hình thành các mạng lưới này. Nói cách khác, mọi con người và sự vật đều là tác nhân. Mọi người và mọi vật đều là một trung gian chủ động thay vì một trung gian đơn thuần, ngay cả và đặc biệt là trong các văn bản văn học.

Lý thuyết tác nhân-mạng lưới của Latour giúp Felski mô tả lại mối quan hệ giữa các văn bản và bối cảnh của chúng do nó từ chối nhìn nhận về chúng như phần nào tách biệt hay riêng rẽ. Do vậy khi chúng ta nghĩ về những tác động chính trị của cách chúng ta đọc, chúng ta không thể nghĩ đơn giản về văn bản như một đối tượng được sản sinh trong một bối cảnh chính trị nhất định, hoặc như một trung gian có thể truyền đạt bối cảnh đó cho chúng ta, hoặc thậm chí như một phê bình đơn thuần về bối cảnh đó. Văn bản phải được hiểu như một trung gian chủ động, một tác nhân có vai trò quan trọng trong chính sự hình thành của bối cảnh. “Chính trị, nói theo nghĩa được phát triển bởi lý thuyết tác nhân-mạng lưới,” Felski giải thích, “không còn là một vấn đề về thái độ hướng tới các lực lượng ẩn giải thích mọi thứ; nó là quá trình truy tìm các mối liên kết, sự gắn buộc, và những xung đột giữa các tác nhân và trung gian khi chúng xuất hiện.” Dưới lá cờ phê bình, hỏi về chính trị nghĩa là hỏi làm thế nào văn bản đồng lõa hoặc nổi loạn trong bối cảnh xã hội của nó. Lý thuyết tác nhân-mạng lưới, ngược lại, nhìn nhận chính trị của việc đọc trong mối quan hệ giữa vô số tác nhân tham gia vào hành động đọc. Xem xét những giới hạn của phê bình không có nghĩa là chúng ta phải từ bỏ chính trị. Nó có nghĩa là chúng ta phải suy nghĩ về chính trị một cách chặt chẽ hơn. Nó chắc chắn không có nghĩa là chúng ta phải không còn phê phán. Câu hỏi, đối với Felski, là: “Liệu chúng ta có thể hậu phê phán – tách biệt với không phê phán?”

“Hậu phê phán” theo nghĩa của Felski là thế nào? Hồi tháng Chín tôi có cơ hội tham dự hội thảo “Recomposing the Humanities with Bruno Latour” do Felski tổ chức tại Đại học Virginia. Không ngạc nhiên, Latour kết thúc sự kiện kéo dài cả ngày này bằng một bài thuyết trình thú vị và hài hước. Nhưng chính bài nói chuyện của Felski, “Doing the Humanities” (Thực hành nhân văn), mới đáng nhớ nhất với tôi. Trong một nỗ lực nhằm tiến một bước xa hơn qua những giới hạn của phê bình, bà đưa ra bốn câu trả lời cho câu hỏi, “Nếu chúng ta không chỉ thực hành phê bình, thì chúng ta còn thực hành gì khác khi chúng ta thực hành nhân văn?” Thứ nhất, bà nói, chúng ta giám tuyển. Chúng ta là những người chăm sóc giữ gìn truyền thống (phải, ngay cả khi chúng ta phê bình truyền thống đó). Chúng ta cũng truyền đạt, cả giao tiếp lẫn chuyên chở các giá trị, cảm nhận, văn bản, và câu chuyện. Chúng ta phê phán. Phê phán trong nghĩa này bao gồm các hình thức bất đồng và phản đối không theo lối thức và phong cách của phê bình. Cuối cùng, chúng ta biên soạn. Chúng ta sáng tạo. Tác phẩm không phải tạo tác tự nhiên mà có, mà là tạo tác thông qua việc thu thập, lắp ráp. Thật đáng khích lệ khi Felski đã bắt đầu bổ sung thêm công trình của cuốn sách mới nhất của bà, và khi biết rằng có những nhà phê bình nhìn nhận nghiên cứu văn học như một ngành phát triển và không phải chỉ phê phán. Giờ đây chúng ta cần một cuốn sách như The Limits of Critique, ở một thời điểm mà, như Latour nổi tiếng nói, phê bình đã “hết hơi.”

Một số cuốn sách sắc bén và kịp thời đến nỗi chúng có vẻ như là không thể tránh khỏi. Đọc chúng là cảm nhận được rằng nếu các tác giả đã không viết ra chúng thì chắc chắn sẽ có người khác viết. The Limits of Critique là một cuốn sách như vậy. Bằng cách khám phá những giới hạn của nó, Felski giải phóng các nhà phê bình khỏi việc dựa vào phê bình như một người gác cổng của nghiên cứu văn học và cung cấp một lời hướng dẫn tiên tri vào cuộc sống trong một thế giới hậu phê phán. ♦

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 8, 2016 by in Điểm sách and tagged , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,567 other followers

%d bloggers like this: