Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

“Speechless” – Jonathan Safran Foer


Jonathan Safran Foer

Jonathan Safran Foer là nhà văn người Mỹ, tác giả cuốn Everything Is Illuminated (Houghton Mifflin, 2002) và Extremely Loud and Incredibly Close (Houghton Mifflin, 2005) – cuốn thứ hai đã được dịch với nhan đề Tìm bố ở New York (Phụ Nữ, 2014). Anh dạy sáng tác ở NYU. Tiểu luận “Speechless” được đăng trên tạp chí The New Yorker số 12 tháng 9, 2011. Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Speechless

Có một khoảng thời gian, độ một năm trước, khi mỗi đêm trong mấy hôm vợ chồng tôi đều bị đánh thức bởi tiếng những bước chân nhỏ trong bóng tối. Sau đó là tiếng thở dốc của con trai chúng tôi trong phòng, và cuối cùng là giọng run rẩy của thằng bé từ phía cuối giường: “Con gặp ác mộng.”

“Ác mộng gì thế?”

Câu trả lời luôn giống nhau: “Con không mô tả được.”

Lúc đó, tôi đã nghĩ là thằng bé không muốn mô tả: chuyển một cơn ác mộng thành lời—nói nó ra và chia sẻ nó—sẽ chỉ làm tăng nỗi sợ.

Nhưng tôi bắt đầu tự hỏi có phải thằng bé chỉ đơn giản là không có từ vựng hay không. Và có phải sự thất bại của ngôn ngữ chí ít là một phần của vấn đề hay không. Từ ngữ có khả năng khiến trải nghiệm sống động hơn, và cũng có khả năng sắp xếp nó. Chúng có thể hù dọa chúng ta, và chúng có thể an ủi chúng ta. Điều khiến viết lách thật thú vị cũng là điều khiến tuổi thơ thật khó khăn.

Thành phố New York có đầy những đứa trẻ không có lý do gì để phân biệt ngày 11 với những ngày khác của tháng 9. Một lúc nào đó chúng sẽ biết được, nhưng bây giờ, với chúng, điều thực sự đã diễn ra có thể đã chưa bao giờ diễn ra.

Tôi thường nghĩ các con trai tôi sẽ biết về ngày 11 tháng 9 như thế nào. Nghe được ở đâu đó? Một bức ảnh trên báo? Ở trường? Tôi thì mong chúng sẽ biết sự kiện đó từ vợ chồng tôi, theo một cách có chủ ý và an toàn. Nhưng khó mà hình dung được cảm giác sẵn sàng đề cập đến chủ đề này mà không có động lực nào đó. Trong tâm trí tôi, cuộc trò chuyện trong tương lai đó bắt đầu bằng việc một đứa hỏi một câu hỏi.

Sẽ thật dễ viện ra câu trả lời cho những câu hỏi thực tế—Bởi vì người ta đã cố sát hại những người ở trong tòa tháp, và đe dọa những người khác; Bởi vì họ giận dữ về một số điều nhất định mà nước Mỹ đã làm; Bởi vì đám cháy làm yếu đi những cột thép chống đỡ tòa nhà—nhưng còn bản hợp đồng bị phá vỡ thì sao? Làm thế nào thế giới này có thể không như thế giới mà tôi tin là tôi đang sống?

Tôi không thể mô tả nó.

Có phải tôi không muốn mô tả nó, hay chỉ đơn giản là tôi không có từ vựng?

Khi tôi nghĩ lại về những thương tổn mà các con tôi phải chịu đựng—những cơn ác mộng của tôi—tâm trí tôi có xu hướng tập trung về thời khắc ngay trước khi diễn ra vụ tai nạn: chúng tôi đang chơi trước hiên nhà, những suy nghĩ của tôi nằm rải rác, chúng tôi đang cười. Ký ức này gần như luôn biến thành một cơn giận dữ với chính mình: làm sao tôi có thể vô ý đến thế, vô tư đến thế—làm sao tôi có thể không thấy được điều mà tôi đã không thể thấy được nó đang đến? Tại sao tôi không vòng tay ôm anh ta lại và bảo vệ anh ta?

Chúng ta không thể sửa những gì đã diễn ra, nhưng có những phiên bản khác nhau của cùng một câu chuyện mà chúng ta có được.

Một trong những điều mà những người sống sót sau thảm họa thường xuyên nói nhất là “Hãy nói với lũ trẻ rằng bạn yêu chúng mỗi sáng.” Như Galway Kinnell viết, “Tiền lương của cái chết là tình yêu.” Nhưng tình yêu cũng có thể có cảm giác không thể nào mô tả.

Có ai chưa từng có cơn ác mộng bị mắc kẹt trong một trong hai tòa tháp? Có ai chưa từng tự hỏi mình liệu có sự điềm tĩnh siêu phàm để gọi về nhà và an ủi một người thân yêu? Hàng chục cuộc gọi về nhà đã được nối từ hai tòa tháp giữa thời khắc chiếc máy bay đầu tiên đâm vào và thời điểm tòa tháp phía Bắc sụp đổ. Khi những từ ngữ đáng lẽ không thể nào tìm được, lại có những lời của ân sủng, và phẩm giá, và an ủi. Những từ ngữ của nỗi sợ, và những từ ngữ của tình yêu. Không có gì để học từ điều này, ngoại trừ mọi thứ.

Elizabeth Rivas, mẹ của sáu đứa trẻ, đang ở tiệm giặt là khi chồng bà, Moises, đầu bếp trên Windows on the World, gọi về tìm bà. Khi bà thấy tin tức về vụ tấn công trên truyền hình, bà chạy về nhà, lao qua cửa, và hỏi con gái bố có gọi về không.

“Bố nói, mẹ à, bố yêu mẹ dù có chuyện gì diễn ra chăng nữa. Bố yêu mẹ,” Rivas nói với CNN. Đó là lần cuối cùng họ nghe từ ông.

Rivas sau đó nói, “Anh ấy đã cố gọi tôi. Anh ấy đã gọi tôi.” ♦

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 6, 2016 by in Tiểu luận and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,495 other followers

%d bloggers like this: