Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Haruki Murakami và văn hóa dịch


In translation

Nguồn: Goossen, Ted. “Haruki Murakami and the Culture of Translation.” In Esther Allen and Susan Bernofsky (eds.) In Translation: Translators on Their Work and What It Means. New York: Columbia University Press, 2013. Pp. 183–86.

Ted Goossen là giáo sư nhân văn học tại York University, Canada, và dịch giả tiếng Nhật của nhiều tác giả, trong đó có Naoya Shiga, Masuji Ibuse, và Haruki Murakami. Esther Allen là dịch giả tiếng Pháp và Tây Ban Nha, và phó giáo sư khoa Ngôn ngữ Hiện đại tại Baruch College, CUNY. Susan Bernofsky là dịch giả tiếng Đức, và phó giáo sư và giám đốc chương trình dịch văn học (LTAC) tại Columbia University.

Haruki Murakami và văn hóa dịch

Văn hóa Nhật Bản thường được mô tả như một nền văn hóa dịch. Thật ra, tiếng Nhật ngày nay là kết quả của nỗ lực đấu tranh hàng thế kỷ của các dịch giả nhằm ghép Hán tự với từ tiếng Nhật, gán thêm cách phát âm bản địa trong một số trường hợp, áp dụng cách phát âm tương đối của tiếng Trung trong các trường hợp khác, và phát triển hai hệ văn tự khác nhau: thứ nhất—katakana—ban đầu được sử dụng bởi nam giới; và thứ hai—hiragana—bởi nữ giới (Truyện kể Genji ra đời từ thế kỷ 11 được viết theo hệ thứ hai). Tuy nhiên, dịch thuật chưa bao giờ quan trọng với người Nhật hơn trong nửa sau của thế kỷ 19, khi áp lực thực dân của phương Tây đè nặng nhất. Ban đầu các samurai trẻ, do các lãnh chúa phong kiến tuyển chọn, là người làm việc với các tài liệu nước ngoài (thường là tiếng Đức) để cố gắng tìm ra điều cần thiết để bảo vệ và phát triển các thái ấp của họ. Sau này, khi thời kỳ Minh Trị (1868–1912) đã bắt đầu và hệ thống giáo dục quốc gia được thành lập, học tập “hiện đại” nhất thiết tập trung vào việc làm chủ các văn bản phương Tây và truyền đạt chúng cho công chúng rộng lớn hơn. Ban đầu, mục tiêu hoàn toàn là thực dụng—nâng cao đất nước về mặt quân sự, công nghệ, và thể chế—nhưng đến những năm 1880 trọng tâm đã được mở rộng sang cả văn học, triết học, và nghệ thuật châu Âu, khi ấy được xem là chìa khóa để xây dựng một xã hội tiên tiến ngang tầm phương Tây.

Không phải là ngẫu nhiên khi những người sáng lập ra nền văn học hiện đại của Nhật Bản có xu hướng hoặc là học giả văn học phương Tây hoặc là dịch giả. Ví dụ, ở ngoài Nhật Bản Mori Ōgai được biết đến với truyện ngắn và tiểu thuyết, nhưng ở trong nước ông cũng được tôn kính với những bản dịch Goethe và Hans Christian Andersen; tiểu thuyết gia vĩ đại đầu tiên của Nhật Bản, Natsume Sōseki, đã viết tiểu luận về Shakespeare và lý thuyết văn học hiện đại trước khi từ bỏ công việc danh giá là giáo sư khoa văn tại Đông Kinh Đế quốc Đại học [Đại học Tokyo] để tập trung viết tiểu thuyết. Mặc dù các cuốn tiểu thuyết của Sōseki, trong đó nổi tiếng nhất là Kokoro (một từ có cả nghĩa “tâm” và “trí”), chịu ảnh hưởng sâu sắc của nghiên cứu của ông về văn học tiếng Anh, chúng hầu như không mang tính phái sinh. Trên thực tế, Kokoro, cuốn sách lãng mạn bi thương có nửa sau là bức thư tuyệt mệnh của nhân vật chính gửi cho người dẫn truyện trẻ tuổi, đã tiên dụng một chiến lược của tác giả (độc giả không biết phản ứng của người dẫn truyện) vốn chưa từng được sử dụng ở phương Tây.

Dĩ nhiên, tiểu thuyết gia/dịch giả không phải là hiện tượng độc nhất của Nhật Bản—các nhân vật tương tự cũng phổ biến trên toàn thế giới, dẫu hiếm hơn nhiều trong các nền văn hóa văn học tiếng Pháp và tiếng Anh. Ngay cả vậy, số lượng tiểu thuyết gia hiện đại của Nhật Bản chuyển sang dịch (hoặc ngược lại, do có nhiều dịch giả cuối cùng đã chuyển sang viết) cũng rất nổi bật, và không trường hợp nào ấn tượng hơn Haruki Murakami. Murakami là một tiểu thuyết gia thành công trên tầm quốc tế, với quân đoàn độc giả ở nhiều nơi xa xôi tận Trung Quốc, Nga, châu Âu, và Hàn Quốc. Nhưng ở Nhật Bản ông cũng nổi tiếng không kém với vai trò là dịch giả của các nhà văn Mỹ như Carver, Chandler, Fitzgerald, Capote, và Salinger. Bản dịch của ông cũng ăn khách, do độc giả Nhật Bản có xu hướng chọn sách dựa theo dịch giả, một điều khó tưởng tượng được trong một nền văn hóa như của chúng ta, nơi tên dịch giả hiếm khi lọt vào tâm trí người đọc. Ví dụ, mấy năm trước, khi phiên bản tổng tập Carver của Murakami được phát hành, tôi đã thấy các tấm băng rôn đỏ treo trước hiệu sách Kinokuniya ở Shinjuku để quảng cáo; có lẽ, tên của Murakami đã được đặt trên tên của Carver và được in với cỡ lớn hơn.

Danh tiếng ở Nhật Bản của các tác giả Mỹ mà Murakami dịch do đó tăng vọt khi bản dịch của ông xuất hiện—ngay cả bản gốc tiếng Anh cũng bán rất chạy, tuy rất ít người có thể đọc chúng một cách dễ dàng. Có thể nhận ra việc Murakami nhận thức được rằng điều này ảnh hưởng đến danh tiếng và túi tiền của các dịch giả đi trước của cùng dịch phẩm từ lời bạt của ông, trong đó một mặt ông cố gắng khen ngợi những nỗ lực của họ trong khi mặt khác ông than thở về việc họ không có khả năng nắm bắt “Gatsby của ông.” Quả thật, dưới sự khiêm tốn đã được tiết chế (một điều bắt buộc trong thể loại lời bạt của Nhật Bản), tuyên bố của Murakami rằng toàn bộ nền văn học Mỹ là đối tượng phê phán đã đặt ra một thách thức văn học. Trong quá trình này, ông cũng làm khó các dịch giả đồng nghiệp bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có khả năng tái diễn chính quá trình sáng tạo—tức là, “liệu chúng ta đã viết như thế nào, nếu chúng ta là tác giả.” Xử lý Gatsby vĩ đại, và có thể là bất cứ cuốn tiểu thuyết hay nào khác, có nghĩa là đôi khi phải bước lùi lại khỏi ý nghĩa bề mặt của từ ngữ để cố gắng nắm bắt bức tranh lớn hơn trong một phong cách hát. Vấn đề mà các dịch giả đồng nghiệp của Murakami phải đối mặt là không ai hát tương đối giống ông, người có nhịp điệu riêng biệt—rút ra từ tình yêu cả đời ông dành cho nhạc jazz—đặc trưng cho mọi thứ ông viết, bao gồm cả các bản dịch. Như Jay Rubin đã viết trong Haruki Murakami and the Music of Words, “Điều kỳ diệu là ông đã không trở thành nhạc sĩ—dù, nói một cách nào đó, ông đã trở thành nhạc sĩ. Nhịp điệu có lẽ là yếu tố quan trọng nhất trong văn của ông.” Fitzgerald và Murakami do đó hợp nhau một cách đẹp đẽ: cũng như Fitzgerald thiết lập một phong cách cho thời đại của ông bằng cách thêm vào văn một điệu jazz, Murakami rút từ Stan Getz, Billie Holiday, và các nghệ sĩ nhạc jazz vĩ đại khác ở thời kỳ sau—cũng như từ các cuốn tiểu thuyết Mỹ như Gatsby vĩ đại—để trang điểm cho giọng văn của mình.

Ảnh hưởng của jazz và văn học Mỹ lên Murakami đã khiến một số nhà phê bình Nhật Bản gọi văn của ông là “không tự nhiên” (đọc “không [có nét] Nhật”), đặc biệt là trong những năm 1980 khi ông mới trở nên nổi tiếng. Nhưng ngày nay, những lời phê bình như vậy có vẻ khá lỗi thời—được đọc bởi quá nhiều người trong một thời gian quá lâu—“phong cách Murakami” giờ đây có cảm giác khá thông thường, đặc biệt là với những ai lớn lên cùng nó (tôi tự cho mình thuộc nhóm này). Tuy nhiên, một số người vẫn tiếp tục phê phán ảnh hưởng của nó lên độc giả ngày nay, những người có quan điểm văn học bị thu hẹp lại, và tranh cãi vẫn tiếp diễn giữa những người thích và không thích những người như Murakami và cộng tác viên thường xuyên của ông, Motoyuki Shibata, một dịch giả ngôi sao khác của văn học Mỹ. Với sự chiếm đóng quân sự thời hậu chiến của Mỹ và những thập niên của ảnh hưởng Mỹ sau đó, tác động của văn hóa Mỹ lên Nhật Bản (và phần còn lại của thế giới) chắc chắn sẽ tiếp tục là một vấn đề nóng, và văn của Murakami được đặt ở chính giữa vấn đề đó.

***

Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ sâu sắc và lâu dài với Mỹ này, độc giả Nhật Bản đến với một tác phẩm như Gatsby vĩ đại với kiến thức nền đáng kể. Mặc dù rất ít người có thể nói tiếng Anh tốt, nhiều người thoải mái đọc ở một mức độ nào đó, và gần như ai cũng có một vốn từ cơ bản. Họ nhiều khả năng cũng hình dung được một hình ảnh mơ hồ—được hình thành chủ yếu qua phim ảnh—về Roaring Twenties. Murakami có thể tin vào kinh nghiệm này, có nghĩa là khi gặp một cụm từ quan trọng nhưng bất khả dịch như “old sport,” ông có lựa chọn—và ông đã chọn—để nguyên dạng tiếng Anh, và thảo luận về nó trong lời bạt. Tốt hơn cả, ông nhấn mạnh, là trung thành với nguyên dạng thay vì thay thế nó bằng một cụm từ tiếng Nhật có khả năng gây liên tưởng khác biệt rõ ràng.

Dịch giả của Murakami sang ngôn ngữ phương Tây phải đối mặt với những vấn đề tương tự, nhưng không thể nhờ cậy vào một giải pháp tương tự. Ví dụ, từ kokoro, nhan đề của kiệt tác của Sōseki, cũng có vai trò trung tâm trong cuốn tiểu thuyết của Murakami mà tôi ưa thích, Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới. Ở đó, nhân vật chính đánh mất kokoro khi cái bóng của anh ta bị tách khỏi cơ thể và cố đoàn tụ với nó trong phần còn lại của câu chuyện. Nhưng trong tiếng Anh, nhân vật chính lại cố gắng cứu giữ mind, một từ có thể làm thay đổi một cách tinh vi các khía cạnh cảm xúc và tinh thần của thế lưỡng nan của anh ta. Nếu dịch giả Alfred Birnbaum có quyền lựa chọn, ta có thể đánh cược ông đã để nguyên kokoro và giải thích lựa chọn của mình trong lời nói đầu của dịch giả. Tuy nhiên, khó mà tưởng tượng được một nhà xuất bản phương Tây sẽ chấp nhận một thỏa thuận như vậy, do giới dịch giả ở đây được giữ an toàn bên ngoài tầm mắt để kéo dài ảo tưởng về “sự toàn vẹn.” Đối với độc giả Anh ngữ, dường như sách cần được lồng tiếng, chứ không phải được phụ đề. ♦

Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 11, 2016 by in Dịch thuật and tagged , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,632 other followers

%d bloggers like this: