Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Cần hiểu đúng bản chất của rối loạn lo âu


The Scream

Nguồn: Joseph LeDoux, “Getting Anxiety Right,” Project Syndicate, 14/01/2016.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

Khi các nhà nghiên cứu muốn đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị lo âu mới, cách tiếp cận truyền thống là nghiên cứu hành vi của chuột cống hay chuột nhắt trong các tình huống không thoải mái hoặc căng thẳng. Động vật gặm nhấm tránh ánh sáng chói và những không gian mở, nơi chúng dễ dàng trở thành con mồi trong tự nhiên. Do vậy xu hướng tự nhiên của chúng trong một buồng thử nghiệm là tìm những khu vực được chiếu sáng kém hoặc gần tường. Thời gian con vật được tiêm thuốc ở trong một khu vực không được bảo vệ càng lâu thì loại thuốc đó được đánh giá là càng có hiệu quả trong điều trị lo âu.

Nhưng những loại thuốc là kết quả của cách tiếp cận này thực ra không hẳn tốt trong việc khiến bệnh nhân cảm thấy bớt lo âu. Cả bệnh nhân và nhà trị liệu đều không xem các tùy chọn sẵn có – trong đó có các thuốc nhóm benzodiazepine như Valium và các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc như Prozac hay Zoloft – như những biện pháp điều trị thích hợp đối với lo âu. Sau nhiều thập niên nghiên cứu, một số công ty dược phẩm lớn đang giơ cờ trắng và hạn chế những nỗ lực nhằm phát triển các loại thuốc chống lo âu mới.

Nhưng chúng ta không được phép từ bỏ hy vọng cải tiến những phương pháp điều trị cái gọi là các rối loạn lo âu (anxiety disorders), vốn bao gồm những vấn đề liên quan đến cả cảm giác sợ hãi và lo lắng. Cảm giác sợ hãi xuất hiện khi một nguồn có khả năng gây hại đang ở gần hoặc nhiều khả năng xuất hiện, trong khi cảm giác lo lắng thường bao gồm khả năng gây hại trong tương lai. Trên thế giới, tỷ lệ lưu hành trong đời của các rối loạn lo âu là 15% (tức là 15% dân số thế giới có khả năng mắc các rối loạn lo âu ít nhất một lần trong đời – ND), và cái giá đối với xã hội là rất lớn. Trong cuối những năm 1990, gánh nặng kinh tế của lo âu được ước tính là hơn 40 tỷ USD. Cái giá tổng thể nhiều khả năng sẽ lớn hơn đáng kể con số này, do nhiều người mắc rối loạn lo âu chưa bao giờ được chẩn đoán.

Trái với suy nghĩ của chúng ta, lý do khiến đa số các loại thuốc chống lo âu được kê đơn thường xuyên nhất không giải quyết được vấn đề cơ bản là chúng đang hoạt động chính xác như cách chúng nên hoạt động – theo các tiêu chí được dùng để chế tạo ra chúng. Đa số các biện pháp điều trị dựa trên những nghiên cứu sử dụng chuột có giúp bệnh nhân dễ dàng sống chung với các rối loạn lo âu hơn. Điều mà chúng không làm được là thực sự giúp bệnh nhân bớt sợ hãi hoặc lo lắng.

Lý do rất đơn giản. Những hệ thống não bộ điều khiển phản ứng hành vi trong các tình huống đe dọa của động vật gặm nhấm và con người là tương tự nhau, và liên quan đến những vùng cũ nằm sâu trong bộ não và hoạt động một cách vô thức (ví dụ, hạch hạnh nhân). Mặt khác, những hệ thống sản sinh trải nghiệm hữu thức, trong đó có cảm giác sợ hãi và lo lắng, có liên quan đến những vùng mới trong tiến hóa của tân vỏ não vốn đặc biệt phát triển ở não người và kém phát triển ở động vật gặm nhấm. Các cảm giác hữu thức cũng phụ thuộc vào năng lực ngôn ngữ độc nhất của chúng ta – khả năng khái niệm hóa và đặt tên cho những trải nghiệm bên trong. Người ta nói tiếng Anh có hơn ba chục từ dùng để chỉ các mức độ sợ hãi và lo âu: worry, concern, apprehension, unease, disquietude, inquietude, angst, misgiving, nervousness, tension, vân vân.

Do đó, mặc dù hữu ích trong việc dự đoán một loại thuốc sẽ ảnh hưởng như thế nào đến những triệu chứng được kiểm soát một cách vô thức được kích hoạt bằng kích thích đe dọa, những nghiên cứu trên động vật lại kém hiệu quả hơn đối với những cảm giác hữu thức như sợ hãi hoặc lo âu. Những loại thuốc chúng ta đang có có thể giúp đỡ những bệnh nhân phải dừng đi làm để tránh những tình huống có thể gây sợ hãi hoặc lo lắng, chẳng hạn như tàu điện ngầm đông đúc hoặc bị đồng nghiệp hay cấp trên đánh giá. Cũng như những con chuột được tiêm thuốc ít bị ức chế hành vi hơn (nhiều khả năng chịu đựng ánh sáng và không gian mở hơn), những bệnh nhân lo âu dùng thuốc nhiều khả năng có thể quay trở lại làm việc. Nhưng do các biện pháp điều trị không trực tiếp giải quyết những quá trình hữu thức của não bộ, bản thân cảm giác lo âu không phải lúc nào cũng biến mất.

Nếu muốn các biện pháp điều trị trở nên hiệu quả hơn, cách tiếp cận của chúng ta cần thay đổi. Chúng ta sẽ cần điều trị những hệ thống hoạt động một cách vô thức, khác với những hệ thống đem lại trải nghiệm hữu thức. Điều này không nhất thiết đồng nghĩa với những loại thuốc tốt hơn. Phản ứng vô thức cũng có thể được điều trị bằng liệu pháp tiếp xúc (exposure therapy), tức là tương tác lặp lại với một kích thích đe dọa được dàn dựng nhằm làm giảm những tác động tâm lý của kích thích đó.

Những phát hiện về cách thức hoạt động của các hệ não bộ hữu thức và vô thức có thể cho phép chúng ta tiến hành liệu pháp tiếp xúc một cách hiệu quả hơn. Ý tưởng cơ bản là những triệu chứng liên quan đến các quá trình vô thức nên được đặt mục tiêu riêng biệt với những triệu chứng liên quan đến các quá trình hữu thức.

Tôi đề nghị trình tự sau. Bắt đầu bằng những tiếp xúc vô thức (sử dụng sự kích thích tiềm thức để vượt qua những suy nghĩ và cảm xúc hữu thức có thể được khơi gợi và can thiệp bằng quá trình tiếp xúc) để làm giảm phản ứng của những vùng như hạch hạnh nhân. Khi các hệ thống vô thức đã được kiểm soát thì sử dụng tiếp xúc hữu thức để điều trị triệu chứng hữu thức. Cuối cùng, sử dụng các biện pháp tâm lý trị liệu truyền thống hơn: Tương tác bằng lời nói với nhà trị liệu nhằm giúp bệnh nhân thay đổi niềm tin, đánh giá lại ký ức, khuyến khích chấp nhận hoàn cảnh, có chiến lược đối phó, vân vân.

Thuốc cũng có vị trí trong cách tiếp cận này, nhưng không phải là giải pháp lâu dài. Thay vào đó, thuốc có thể được sử dụng để giúp điều trị tiếp xúc hiệu quả hơn (dược phẩm d-cycloserine đã cho thấy một số triển vọng trong vấn đề này).

Tính hiệu quả của một cách tiếp cận công nhận rằng các hệ thống não bộ khác nhau kiểm soát các triệu chứng khác nhau vẫn chưa được đánh giá đúng mức, nhưng nghiên cứu cho thấy nó có thể có tác dụng. Nó cũng là một cách tiếp cận không can thiệp và chỉ yêu cầu đặt lại mục tiêu cho các thủ tục vẫn được sử dụng thường xuyên. Với tầm quan trọng của vấn đề, nước còn dễ dàng tát được thì không nên không tát.

Joseph LeDoux, giáo sư khoa học, thần kinh học và tâm lý học, và tâm thần học trẻ em và vị thành niên tại Đại học New York, là giám đốc Viện Não bộ Cảm xúc (Emotional Brain Institute) tại Nathan Kline Institute và NYU. Cuốn sách mới nhất của ông có nhan đề Anxious: Using the Brain to Understand and Treat Fear and Anxiety.

Advertisements

One comment on “Cần hiểu đúng bản chất của rối loạn lo âu

  1. Hong-Anh Nguyen
    January 15, 2016

    “Phản ứng vô thức cũng có thể được điều trị bằng liệu pháp tiếp xúc (exposure therapy), tức là tương tác lặp lại với một kích thích đe dọa được dàn dựng nhằm làm giảm những tác động tâm lý của kích thích đó.” –> Giống y chang lớp học phòng chống hắc ám trong Harry Potter :)

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 15, 2016 by in Phát triển & Sức khỏe Toàn cầu and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: