Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Sleep” – Colm Tóibín


Sleep.jpg

Colm Tóibín (1955–) là nhà văn người Ireland và giáo sư nhân văn học tại Đại học Columbia. Cuốn sách mới nhất của ông là On Elizabeth Bishop (Princeton University Press, 2015). Truyện ngắn “Sleep” được đăng trên tạp chí The New Yorker (March 23, 2015 Issue).

Giấc ngủ

Tôi biết em sẽ làm gì khi buổi sáng bắt đầu. Tôi thức giấc trước em và nằm yên. Đôi lúc tôi mơ màng, nhưng thường thì tôi tỉnh, với đôi mắt mở. Tôi không cử động. Tôi không muốn làm phiền em. Tôi có thể nghe tiếng em thở mềm mại, êm đềm và tôi thích thế. Rồi đến một lúc nào đó em sẽ quay về phía tôi mà vẫn nhắm mắt; tay em quờ sang, rồi em chạm lên vai tôi hoặc lưng tôi. Rồi cả cơ thể em lại gần bên tôi. Như thể em vẫn đang ngủ—không âm thanh nào từ em, chỉ một nhu cầu, gần như bức thiết nhưng vô thức, được gần gũi ai đó. Đây là cách một ngày bắt đầu khi em ở bên tôi.

Lạ làm sao bao nhiêu nỗ lực vô tình đã mất đi để đưa chúng ta đến đây. Các kỹ sư và nhà thiết kế phần mềm không bao giờ có thể đoán được, khi đặt ra chiến lược của mình và tìm cách đầu tư, rằng thứ họ đang tạo ra—mạng Internet—sẽ khiến hai người xa lạ gặp nhau và rồi, sau một thời gian, nằm dưới ánh sáng mới lên của buổi sáng, ôm nhau. Nếu không có họ, chúng ta sẽ không bao giờ được ở cùng nhau ở nơi này.

Một hôm em hỏi tôi có ghét người Anh không, và tôi trả lời là không. Tất cả những thứ ấy giờ đã qua rồi. Là người Ireland thật dễ dàng trong những ngày này. Có lẽ dễ dàng hơn cả việc là người Do Thái và biết, như em biết, rằng anh chị em của ông bà em đã chết dưới tay Hitler. Và biết rằng ông bà em, những người mà em yêu thương và thỉnh thoảng đến thăm ở Long Island, đã mất anh chị em mình; họ sống với thảm họa ấy ngày qua, ngày lại.

Thật đáng tiếc khi có thứ âm nhạc Đức vĩ đại như thế, em nói, và tôi bảo em nước Đức đến dưới nhiều dáng vẻ, rồi em nhún vai và nói, “Không phải cho chúng ta.”

Chúng ta ở New York, khu Upper West Side, và khi tôi kéo rèm phòng ngủ chúng ta có thể thấy dòng sông và cây cầu George Washington. Em không biết, bởi vì tôi sẽ không bao giờ nói cho em biết, việc cây cầu ở quá gần và nằm gọn trong tầm mắt làm tôi sợ hãi đến nhường nào. Em biết nhiều về âm nhạc hơn tôi, nhưng tôi đã đọc những cuốn mà em chưa đọc. Tôi hy vọng em đừng bao giờ vấp phải Một đất nước khác của James Baldwin; tôi hy vọng mình đừng bao giờ vào phòng mà thấy em đọc nó, theo Rufus qua New York đến hành trình cuối cùng của anh ta, lên tàu, đến cây cầu, cú nhảy, dòng nước.

Có một năm không được nhắc đến trong những câu chuyện đời em, và điều này khiến những ai yêu em phải dõi theo em với sự cẩn thận. Tôi đã hỏi em về nó một vài lần và chứng kiến đôi vai gồ lên và cái nhìn mơ hồ, trống trải của em, cái nhìn lơ đãng của em mỗi khi em không ổn. Tôi biết bố mẹ em không thích việc tôi lớn tuổi hơn em, nhưng biết tôi không uống rượu hay chơi thuốc cũng gần như bù đắp được điều đó, hoặc tôi muốn nghĩ nó bù đắp được. Em cũng không uống rượu hay chơi thuốc, nhưng em có ra ngoài hút thuốc, và có lẽ tôi cũng nên tập hút thuốc, để tôi có thể trông chừng em một cách tình cờ khi em ở ngoài đó mà không phải đợi và thở phào khi tôi nghe tiếng cửa thang máy mở và tiếng chìa của em trong ổ.

Không có năm nào trong cuộc đời tôi mà tôi không thể giải thích, nhưng có những năm mà giờ đây tôi không nghĩ đến, những năm chầm chậm trôi qua, trong một dạng cơn đau xoắn lại. Tôi chưa bao giờ làm em lo nghĩ. Em nghĩ tôi mạnh mẽ bởi vì tôi lớn tuổi hơn, và có lẽ đấy là cách mọi thứ nên như thế.

Tôi đủ lớn tuổi để nhớ về hồi mọi chuyện còn khác. Nhưng giờ thì không ai quan tâm nữa, trong căn hộ này hay trong thế giới bên ngoài, việc chúng ta là đàn ông và chúng ta thường thức dậy trên cùng một giường. Giờ thì không ai quan tâm đến việc khi chạm vào mặt nhau chúng ta thấy cả hai đều cần cạo râu. Hoặc khi chạm vào cơ thể em tôi thấy một cơ thể giống cơ thể của tôi, dù mang dáng vẻ chắc chắn hơn và trẻ hơn hơn hai mươi năm. Em đã cắt bao quy đầu còn tôi thì chưa. Đó là một sự khác biệt. Chúng ta đã cắt và chưa cắt, như người ta nói trong đất nước này nơi bây giờ hai ta cùng sống, nơi em sinh ra.

Đức, Ireland, Internet, quyền đồng tính, Do Thái giáo, Công giáo: tất cả đã đưa chúng ta đến đây. Đến căn phòng này, đến chiếc giường này ở Mỹ. Thật dễ dàng làm sao cho điều này không bao giờ diễn ra. Trong quá khứ nó mới có vẻ thật khó trở thành sự thật làm sao.

Tôi cảm thấy hạnh phúc, thư thái, sẵn sàng cho ngày mới khi trở lại từ phòng tắm và thấy em đang nằm ngửa và đeo kính, hai tay gối sau đầu.

“Anh có biết mình ngủ mơ không? Gần như khóc. Nói mê các thứ.” Giọng em đang buộc tội; có một tiếng run rẩy trong đó.

“Anh không nhớ gì cả. Lạ nhỉ. Tiếng có to không?”

“Có to. Không phải lúc nào cũng thế, chỉ lúc gần cuối mới to, tay anh còn quờ quạng. Em quay sang anh thì thầm, anh mới ngủ trở lại. Rồi anh không sao nữa.”

“Em thì thầm gì với anh?”

“Em bảo không sao cả, không có gì đâu. Đại loại thế.”

“Hy vọng anh không làm em mất ngủ.”

“Không sao. Em ngủ tiếp. Em không biết anh mơ gì, nhưng nó không được tốt.”

***

Nỗi sợ đến vào những ngày thứ Bảy, và nó cũng đến, nếu như tôi đang ở đâu đó, trong một căn phòng khách sạn chẳng hạn, mà có tiếng la hét dưới phố vào đêm. Tiếng la hét dưới cửa sổ. Tôi giữ nó cho mình, nỗi sợ, và bằng cách làm như thế đôi khi tôi giữ nó cách xa mình, bằng chiều dài của cánh tay, ở đâu đó. Nhưng cũng có những lúc khác nó ập qua, thứ gì đó gần như nỗi khiếp sợ, như thể thứ đã diễn ra vẫn chưa diễn ra nhưng sẽ diễn ra, hoặc sắp diễn ra, và không gì tôi có thể làm để ngăn nó lại. Nỗi sợ có thể đến từ hư không. Có thể tôi đang đọc, như tôi thường làm vào những ngày thứ Bảy trong khi em tập thể dục hoặc đi nghe hòa nhạc với bạn. Tôi đang đọc rồi đột nhiên tôi nhìn lên, bất an.

Nỗi sợ len vào tâm can và đốt sống cổ tôi như cơn đau, và có vẻ như không gì có thể nhấc được nó lên. Cuối cùng, như nó đến, nó sẽ đi, dù không dễ dàng. Đôi lúc một tiếng thở dài, một quãng đi bộ đến tủ lạnh, hoặc làm cho mình bận rộn bằng cách gấp quần áo và sắp xếp giấy tờ, sẽ giúp tôi thoát khỏi nó, nhưng lúc nào cũng khó mà biết điều gì sẽ có tác dụng. Nỗi sợ có thể ở lại một lúc, hoặc trở lại như thể nó đã để quên thứ gì. Nó không nằm dưới sự kiểm soát của tôi.

***

Tôi biết mình ở đâu và đang làm gì khi em trai tôi qua đời. Tôi ở Brighton, ở Anh, và tôi ở giường và không ngủ được, bởi vì có những đám đông say xỉn đang hò hét dưới cửa sổ khách sạn. Khoảng giữa hai đến ba giờ sáng nó qua đời, trong chính nhà mình ở Dublin. Nó ở đó một mình đêm hôm ấy. Nếu tôi đang ngủ lúc chuyện diễn ra, tôi có thể sẽ thức, hoặc ít nhất bồn chồn cả đêm. Nhưng có lẽ không. Có lẽ tôi sẽ chỉ tiếp tục ngủ.

Nó đã chết. Đó là điều quan trọng nhất cần nói. Em trai tôi ở căn nhà của nó ở Dublin. Nó ở một mình. Hôm ấy là đêm thứ Bảy, sáng Chủ nhật. Nó gọi một chiếc cứu thương lúc hai giờ kém. Khi xe đến, nó đã chết, và các nhân viên y tế đã không thể đưa nó trở lại cuộc sống.

Tôi chưa bao giờ nói với bất cứ ai rằng mình đã thức trong căn phòng đó ở Brighton trong những giờ ấy. Nó gần như không quan trọng. Nó quan trọng chỉ với tôi và chỉ tùy lúc.

***

Một trong những tối mùa đông khi em ở lại đây, chúng ta lên giường sớm. Như một người Mỹ điển hình, em mặc áo phông và quần đùi trên giường. Tôi mặc đồ ngủ, như một người Ireland điển hình. Chet Baker đang mở khe khẽ. Chúng ta đều đang đọc, nhưng tôi biết em đang bồn chồn. Bởi vì em còn trẻ, tôi luôn ngờ rằng em hứng thú khi tôi không, và đó là một trò đùa giữa chúng ta. Nhưng có lẽ nó đúng; nó sẽ có lý. Dù sao đi nữa, em vẫn ngả về phía tôi. Tôi đã học cách luôn chú ý khi điều này diễn ra, không bao giờ có vẻ lơ đãng hay mệt mỏi hay buồn chán. Khi chúng ta nằm cùng nhau, em thì thầm.

“Em đã kể với nhà phân tích của em về anh.”

“Cái gì về anh?”

“Về anh khóc vào đêm và thứ Bảy em đến thấy anh trông rất sợ hãi hoặc buồn bã gì đó mà anh không thể nói chuyện.”

“Em chưa nói gì về chuyện ấy vào thứ Bảy cả. Thứ Bảy tuần này à?”

“Vâng, thứ Bảy. Em không muốn nhắc đến chuyện ấy.”

“Ông ấy nói gì?”

“Ông ấy bảo anh phải làm gì đó. Em bảo ông ấy là anh bảo người Ireland không đến gặp nhà phân tích.”

“Ông ấy nói gì?”

“Ông ấy bảo vì thế mà có nhiều tiểu thuyết và vở kịch Ireland tồi.”

“Có một số vở kịch hay đấy chứ.”

“Ông ấy không nghĩ thế.”

Chúng ta nằm đó nghe Chet Baker hát bài “Almost Blue,” và tôi nhướn người sang để hôn em. Em chống mình trên khuỷu tay và nhìn tôi.

“Ông ấy bảo anh cần được giúp đỡ nhưng phải là sự giúp đỡ từ người Ireland, chỉ một nhà phân tích người Ireland mới hiểu được anh. Em bảo ông ấy anh không ghét người Anh, và có thể anh có thể có một ông bác sĩ Anh chẳng hạn, rồi ông ấy bảo có vẻ anh cần được giúp đỡ sớm hơn ông ấy nghĩ.”

“Em trả tiền cho ông ấy cho đống vớ vẩn này à?”

“Bố em trả.”

“Ông ấy nghe như một gã hề, ông bác sĩ của em ấy.”

“Ông ấy bảo em đừng có nghe anh. Cứ khiến anh làm thế thôi. Em bảo phần lớn anh vẫn ổn. Nhưng em bảo ông ấy thế trước rồi. Này, ông ấy thích nghe về anh đấy.”

“Kệ ông ấy!”

“Ông ấy tốt, ông ấy tử tế, ông ấy thông minh nữa. Ông ấy thẳng, nên anh không phải lo gì về ông ấy đâu.”

“Đúng đấy. Anh không phải lo gì về ông ấy đâu.”

***

Mùa xuân đến, và thứ gì đó mà tôi đã quên bắt đầu. Đằng sau tòa nhà căn hộ này là một con hẻm, hoặc một khu mở giữa hai tòa nhà, và nếu đêm mà trời ấm thì một số sinh viên sẽ tụ tập ở đó, có lẽ là những người hút thuốc. Đôi lúc tôi nghe tiếng họ và âm thanh ấy trở thành một phần của đêm, như tiếng của bộ tản nhiệt, cho đến khi nó lịm dần. Nó chưa bao giờ làm phiền tôi trong suốt thời gian tôi sống ở đây, và tôi không có ký ức gì về việc em từng nhắc đến nó. Ở đây yên tĩnh, yên tĩnh so với khu trung tâm hoặc căn hộ em thuê chung ở Williamsburg vào những đêm em không ở lại cùng tôi.

Tuy nhiên, đáng lẽ tôi phải biết một đêm nào đó tiếng ồn ấy sẽ tìm tôi trong giấc ngủ. Có thể nếu tôi có một bác sĩ người Ireland, như bác sĩ của em gợi ý, ông ấy sẽ cảnh báo tôi về điều này, hoặc tôi sẽ nhận thức được sau nhiều cuộc gặp với ông ấy.

Tôi không nhớ nó bắt đầu ra sao, nhưng em thì có. Tôi đang rên rỉ trong giấc ngủ, hoặc em nói như thế, rồi yên lặng một lúc. Và khi không còn tiếng la hét trong căn hẻm sau tòa nhà, tôi bắt đầu run rẩy. Em nói đúng hơn nó giống như ai đó rùng mình, co giật trong cơn sợ hãi, nhưng tôi vẫn không nhớ gì. Khi cố đánh thức tôi mà không được, em trở nên sợ hãi. Tôi biết mọi thứ em làm, cách em quản lý ngày của mình, được thúc đẩy bằng điều cần thiết là không bao giờ được trở nên sợ hãi.

Khi tôi cuối cùng tỉnh dậy, em đang gọi điện và trông sợ hãi. Em kể tôi chuyện đã diễn ra rồi với lấy áo sơ mi của mình.

“Em về đây.”

“Sao thế?”

“Sáng em nói chuyện với anh sau. Em có taxi chờ.”

“Taxi?”

“Vâng, em có tiền rồi.”

Tôi nhìn em mặc áo. Em im lặng và thận trọng. Đột nhiên, nhìn em già hơn nhiều. Dưới ánh sáng từ ngọn đèn trên giường phía em nằm, tôi có thể thấy em sẽ trông thế nào trong tương lai. Em quay lại trong khi ra cửa.

“Em sẽ nhắn.”

Trong một phút em đã đi. Lúc đó là ba giờ bốn mươi lăm phút khi tôi nhìn đồng hồ. Khi tôi nhắn tin xin lỗi em vì đã làm em tỉnh, em không trả lời.

Tối hôm sau em ghé qua. Tôi biết em có điều cần nói. Em không trả lời khi tôi hỏi em đã ăn chưa.

“Này, em đến lấy quần áo và đồ đạc.”

“Anh xin lỗi chuyện đêm qua.”

“Anh làm em sợ. Anh có vấn đề gì đó. Em không biết nó là gì, nhưng nó quá nặng nề với em.”

“Em không muốn ở lại đây nữa?”

“Này, em không nói thế. Em không nói như thế.”

Em thở dài và ngồi xuống. Tôi bắt đầu nói.

“Có lẽ chúng ta nên—”

“Không, không ‘có lẽ,’ không ‘chúng ta nên’ gì cả. Anh phải đến gặp ai đó. Anh không thể tự mình làm điều đó, em cũng không thể giúp anh, và em sẽ không ở lại đây lần nào nữa cho đến khi anh đã làm điều đó. Không phải là em không muốn, nhưng nó thật kỳ lạ. Không chỉ một lần, không chỉ một cơn ác mộng. Nó rất dữ dội. Anh nên nghe thử. Em nghĩ mình nên ghi âm lại trên điện thoại cho anh biết.”

Tôi tưởng tượng cảnh em cầm điện thoại trong bóng tối với nút RECORD trong khi tôi đang gặp cơn ác mộng mà không thể tỉnh dậy.

“Trong tuần rồi mình nói chuyện được không.”

“Được.”

Em vào phòng ngủ và sau một vài phút trở lại với một cái túi.

“Em chắc mình muốn lấy đồ chứ?”

“Vâng.”

Em đã gỡ sẵn chìa khóa của căn hộ ra khỏi chùm chìa của em và để lên bàn. Chúng ta ôm nhau rồi em cúi đầu ra về. Tôi đứng dựa lưng vào cửa và nhắm mắt khi nghe tiếng thang máy đến và tiếng cửa mở cho em. Và tất cả những gì tôi có thể nghĩ là mình sẽ không bao giờ làm điều đó với em, bước ra ngoài như thế. Và tất cả những gì tôi có thể nghĩ khi đó là có thể đó là vấn đề của tôi. Em đã học được thứ gì đó mà tôi không muốn biết.

***

Luôn có một cảm giác được phóng thích khi máy bay cất cánh từ J.F.K. đến Dublin. Người Ireland nào trên chiếc máy bay đó cũng đều biết cảm giác ấy; một số, như tôi, cũng biết nó không kéo dài lâu. Tôi đọc một lúc rồi ngủ rồi thức giấc và nhìn quanh rồi bước vào nhà vệ sinh và thấy hầu hết hành khách đều đang ngủ. Nhưng tôi không nghĩ mình sẽ ngủ tiếp. Tôi không muốn đọc. Vẫn còn gần bốn tiếng nữa.

Tôi mơ màng rồi tỉnh rồi rơi vào giấc ngủ sâu nhất trong một giờ trước khi hạ cánh, nên tôi được đánh thức và nhắc kéo ghế về vị trí ngồi.

Có một khách sạn ở St. Stephen’s Green, bên phía đối diện Shelbourne, và tôi đã đặt phòng ở đó trong bốn đêm. Tôi không bảo ai mình sắp đến đây, ngoại trừ bác sĩ, một bác sĩ tâm thần, mà tôi gặp nhiều năm trước, khi ông giúp một người bạn tôi bị trầm cảm và không ngủ được và không làm được bất cứ chuyện gì. Ông bác sĩ biết gia đình bạn tôi. Tôi còn nhớ quãng thời gian ông dành cho bạn tôi và ông liên tục trở lại như thế nào. Lòng tốt của ông, lòng kiên nhẫn của ông, sự thận trọng của ông. Tôi còn nhớ mình đã pha trà cho ông trong một vài đêm trong những đêm ấy, và chúng tôi nói về những tứ tấu cuối của Beethoven và ông bảo tôi những bản ghi nào ông thích, trong khi bạn tôi nằm nhà bên trong một căn phòng tối. Tôi còn nhớ ông thích nhạc jazz và thấy lạ lùng làm sao khi tôi không thích.

Đó là cho đến khi tôi gặp em. Tôi thích nghe jazz cùng em.

Khi tôi gọi cho ông từ New York, ông vẫn nhớ khoảng thời gian ấy và bảo ông đã đọc một vài cuốn của tôi. Ông bảo ông sẽ gặp tôi, nhưng tốt nhất là không nên làm điều đó khi tôi vẫn còn jet-lag. Ông bảo tôi dành ra vài ngày giữa hôm hạ cánh xuống Dublin và cuộc hẹn. Giờ ông sống một mình, ông bảo, nên ông có thể tiếp tôi ở nhà. Ông ấy cho tôi địa chỉ, rồi chúng tôi sắp xếp thời gian. Khi tôi hỏi giá, ông bảo tôi có thể gửi cho ông mấy đĩa CD nhạc jazz từ New York hoặc cuốn sách tiếp theo của tôi.

Ở Dublin, tôi lang thang trên những con phố nhỏ vào ngày đầu tiên. Tôi đến rạp chiếu phim vào buổi chiều rồi lên khu Rathmines tìm một vài chỗ để nán lại, nơi tôi nghĩ mình sẽ không gặp người quen. Thành phố có vẻ tĩnh lặng, gần như yên bình.

Có một rạp mới ở Smithfield và tôi đến đó vào ngày thứ hai và xem liên tiếp hai bộ phim. Tôi tìm một nơi gần đó để ăn. Tôi để ý nó trở nên đông đúc như thế nào, những tiếng nói lớn ra sao, và có bao nhiêu tiếng cười đùa la hét. Tôi nghĩ về thành phố mà tôi từng biết, vốn là một nơi chuyên về những điều được nói lấp lửng, nhún vai, một nơi mà người ta nhìn nhau qua khóe mắt. Tất cả điều đó giờ đã qua, hoặc ít nhất đã qua ở Smithfield.

Tôi cố không ngủ vào ban ngày trong cả hai hôm, dù muốn. Tôi đến Hodges Figgis và Books Upstairs và mua một vài cuốn sách. Buổi tối, tôi xem tin tức Ireland và một số chương trình thời sự trên ti vi trong phòng khách sạn.

Rồi đến ngày thứ ba, lúc chiều muộn, tôi đến Ranelagh để gặp bác sĩ tâm lý. Tôi không chắc những gì chúng tôi sẽ nói hay làm. Tôi đã lên lịch trở về New York vào ngày hôm sau. Có thể có một đầu thuốc cho vấn đề của tôi, nhưng tôi không chắc. Tôi cần ông ấy lắng nghe tôi, hoặc có lẽ tôi chỉ cần có thể bảo em khi tôi về rằng tôi đã làm điều đó. Có lẽ, tôi nghĩ, ông ấy sẽ giới thiệu tôi với ai đó ở New York mà tôi có thể gặp theo cách thông thường mà em vẫn gặp nhà phân tích của em, như cách em gọi.

Có một căn phòng dài từng là hai căn phòng, được bài trí đẹp mắt. Chúng tôi cởi giày ra và ngồi đối diện nhau trên hai chiếc ghế bành đặt hướng về cuối căn phòng. Tôi nhận ra ông ấy không cần tôi phải nói; ông lắng nghe cẩn thận những gì tôi nói qua điện thoại. Ông hỏi tôi đã bao giờ bị thôi miên chưa, và tôi bảo chưa. Có một gã, tôi nhớ, từng làm điều đó trên ti vi hoặc trong rạp hát. Tôi không nhớ được tên anh ta—Paul gì đó—nhưng đã thấy anh ta trên ti vi một hai lần. Tôi nghĩ thôi miên là một trò chơi theo nhóm, hoặc thứ gì đó diễn ra trong những bộ phim đen trắng. Tôi không mong đợi một bác sĩ tâm thần sẽ gợi ý nó như thứ gì đó ông ấy sẽ làm với tôi.

Ông sắp, ông ấy nói, sử dụng phép thôi miên. Chúng tôi sẽ cần im lặng. Tốt nhất là tôi nên nhắm mắt, ông nói. Trong một giây tôi nghĩ mình sẽ hỏi tại sao ông ấy đang làm điều này, hoặc có phải lúc nào ông ấy cũng làm như thế, hoặc nó có thể đạt được gì, nhưng có gì đó trong cách thức bình thản mà ông tiếp cận công việc, có gì đó thận trọng, khiến tôi cảm thấy tốt hơn là không nên hỏi gì cả. Tôi vẫn cảnh giác và chắc chắn ông ấy nhận thấy điều này, nhưng nó không ngăn cản ông. Tôi nhắm mắt lại.

Ông im lặng. Tôi không biết ông im lặng trong bao lâu. Rồi trong một giọng nói mới, một giọng nói nhiều hơn một tiếng thì thầm nhưng vẫn có một dòng chảy thầm thì, ông bảo tôi ông sẽ đếm đến mười, và đến “mười” thì tôi sẽ ngủ. Tôi gật đầu và ông bắt đầu.

Giọng của ông có sự mềm mại nhưng cũng có một quyền lực. Tôi tự hỏi ông đã được đào tạo về thôi miên hay xây dựng phương pháp của mình dựa trên những bệnh nhân khác. Khi ông đếm đến “mười,” không có sự thay đổi nào lớn. Nhưng tôi không cử động hay bảo ông tôi vẫn tỉnh. Tôi nhắm mắt, cố đoán xem bao lâu ông mới nhận ra câu thần chú đã không hiệu quả, nhận ra tôi chưa ngủ, tôi vẫn biết mình ở đâu.

“Tôi muốn anh suy nghĩ về em trai mình.”

“Tôi không nghĩ được gì cả.”

“Tôi muốn anh cứ từ từ.”

Tôi để đầu óc mình trống rỗng và mắt nhắm. Không có gì diễn ra, nhưng những cảm giác mà tôi đang có đang cô đặc lại, dù chúng chỉ là những cảm giác thông thường. Tôi cảm thấy thư giãn một cách kỳ lạ nhưng cũng không thoải mái. Nó như một khoảnh khắc từ thời thơ ấu, hoặc thậm chí từ tuổi trưởng thành, mà tôi có thể ngừng lo lắng về một vấn đề cấp bách trong một lúc trong nhận thức đầy đủ rằng cơn lo lắng sẽ trở lại. Trong quãng ngắn ngủi này tôi không cử động hay nói chuyện.

“Tôi muốn anh suy nghĩ về em trai mình,” ông nói một lần nữa.

Tôi bật ra một tiếng rên nhỏ, gần như tiếng khóc, nhưng không có cảm xúc nào đằng sau nó. Như thể tôi chỉ đang làm cái mà ông mong đợi tôi làm.

“Không gì cả, không gì cả,” tôi thì thầm.

“Đi theo nó.”

“Không có gì cả.”

Ông im lặng, để không gian cho tôi rên rỉ và nói cho ông nơi tôi đang đi, nhưng tôi không chắc đó là nơi nào. Nó có vẻ như không nơi nào cụ thể. Tôi đang di chuyển. Tôi cũng đang tỉnh. Ông nói một vài lần nữa, giọng ông nhẹ nhàng hơn và dai dẳng hơn. Rồi tôi ngăn ông lại. Giờ tôi cần yên tĩnh và ông im lặng một lần nữa. Tôi thở dài. Tôi bối rối. Tôi không thể nói mình đang đi đâu. Tôi biết mình đang ngồi trên một chiếc ghế bành trong một ngôi nhà ở Ranelagh và tôi có thể mở mắt bất cứ lúc nào. Tôi biết mai mình sẽ trở lại New York.

Và rồi nó đến, cái hành lang, chính là hành lang trong một ngôi nhà mà tôi biết nhưng chưa từng sống trong đó. Sàn trải lino và có một chiếc bàn và một cánh cửa dẫn đến phòng khách, cánh cửa hơi hé mở. Có cầu thang ở cuối hành lang.

Rồi không còn “tôi” nào nữa. Tôi là một “ông ta.” Tôi không phải là mình.

“Anh có thấy buồn về chuyện em trai mình không?” bác sĩ tâm thần hỏi.

“Không. Không.”

Tôi đang nằm trên sàn của cái hành lang ấy. Tôi đang chết. Tôi đã gọi xe cứu thương và đóng cửa trước nhưng không khóa.

Cái chết đến như cảm giác nhẹ nhàng, một sự nhẹ nhàng lớn dần, như thể thứ gì đó đang rời bỏ tôi, và tôi đang để nó rời đi, rồi tôi hoảng hốt, hoặc gần như hoảng hốt, rồi cảm thấy rã rời.

“Đi theo cảm giác của anh.”

Tôi ra dấu cho ông đừng nói gì nữa. Cái ý tưởng rằng giờ có ít tôi hơn, và cái sự ít hơn ấy sẽ còn tiếp tục và sớm thôi sẽ còn ít tôi hơn nữa, rằng sự biến mất này sẽ tiếp diễn, đang nằm ở giữa lồng ngực tôi. Có gì đó đang đi xuống dưới, đang đi ra ngoài, một cách dễ dàng kỳ lạ và dai dẳng. Không còn nỗi đau, nhiều hơn một áp lực nhẹ bên trong bản ngã, hoặc trong cái bản ngã mà giờ tôi đang là nó, trong hành lang này, căn phòng này. Nó diễn ra bên trong cơ thể tôi hệt như trong cái bản ngã có thể suy nghĩ hoặc ghi nhớ ấy. Thứ gì đó đang vươn tới cái chết, nhưng nó không phải cái chết; “cái chết” là một từ quá giản đơn. Nó gần hơn với một sự giải tỏa căng thẳng, cho đến khi chỉ còn lại không gì cả—không sự yên bình hay bất cứ điều gì như thế, chỉ là không gì cả. Điều đó đang đến chậm rãi và chắc chắn. Tôi, chúng tôi, đang mỉm cười, hoặc có vẻ mãn nguyện và không còn mối lo nào. Nó gần như khoái cảm, nhưng không chính xác là khoái cảm, và cũng không chính xác là sự vắng mặt của nỗi đau. Nó là không gì cả, và cái không gì cả không đến cùng áp lực nào, chỉ một mong muốn hoặc nhu cầu, vốn có vẻ tự nhiên, là cho phép mọi thứ tiếp diễn, là không cản đường chúng.

Lúc ấy tôi nghĩ trải nghiệm đang kết thúc, và trước khi nó kết thúc tôi muốn biết mẹ chúng tôi có ở gần đây không, nhưng điều đó chỉ đến như một câu hỏi. Tôi nhìn thấy khuôn mặt bà, nhưng không cảm thấy sự hiện diện của bà. Tôi giữ suy nghĩ ấy và thấy mình khao khát một sự hoàn thiện nào đó về nó, một hình ảnh nào đó thỏa mãn hơn, nhưng không có gì xảy đến. Thay vào đó, chỉ có sự tĩnh lặng, rồi đến âm thanh của cánh cửa được đẩy mở ra và những giọng nói. Tôi có thể nghe thấy sự gấp gáp của những giọng nói ấy, nhưng nó giống như sự gấp gáp trong một bộ phim mà tôi không thể xem được đầy đủ; nó không thật. Nó ở dưới nền trong khi tôi được nâng lên, khi ngực tôi được ấn và đấm liên hồi, khi nhiều giọng nói hơn được cất lên, khi tôi được di chuyển.

Rồi không còn gì cả, thực sự không gì cả—cái không gì cả mà tôi là và cái không gì cả ở trong căn phòng lúc này. Bất cứ điều gì diễn ra, nó cũng đã kết thúc. Không còn nơi nào để đi.

Tôi bắt đầu rên rỉ lần nữa, rồi tôi im lặng và giữ im lặng cho đến khi bác sĩ tâm thần nói nhẹ nhàng rằng ông sẽ lại đếm đến mười, và đến “mười” thì tôi sẽ trở lại từ nơi tôi đã ở và tôi sẽ lại ở trong căn phòng này cùng với ông.

“Tôi không biết anh đã ở đâu, nhưng tôi đã để anh ở đó.”

Tôi không trả lời.

“Có lẽ anh đã biết được thứ gì đó mà anh có thể cải thiện.”

“Tôi đã trở thành em mình.”

“Anh có thấy buồn không?”

“Tôi là nó. Tôi không phải tôi.”

Ông ấy nhìn tôi một cách bình thản.

“Có lẽ cảm xúc sẽ đến bây giờ.”

“Tôi đã trở thành nó.”

Chúng tôi không nói gì trong một lúc. Khi nhìn đồng hồ tôi đã tưởng mình nhìn nhầm. Đồng hồ nói hai giờ đã trôi qua. Ngoài trời gần như đã tối. Ông ấy pha trà và mở nhạc. Khi tìm đôi giày, tôi nhận ra mình khó xỏ được vào, như thể đôi bàn chân tôi đã to lên trong khoảng thời gian tôi ở nơi nào đó. Cuối cùng, tôi đứng dậy và sửa soạn ra về. Ông cho tôi số điện thoại mà tôi có thể gọi trong vài tuần khi tôi tiếp thu được những gì đã diễn ra.

“Chuyện gì đã diễn ra?” tôi hỏi.

“Tôi không biết. Anh mới là người phải làm công việc ấy.”

Ông tiễn tôi trên đôi chân xỏ mỗi tất đến cửa trước. Chúng tôi bắt tay, rồi tôi ra về. Tôi bước bộ qua Dublin, từ Ranelagh đến St. Stephen’s Green, ngang qua những người trên đường đi làm về.

***

Trời đang là mùa đông ở New York và tôi vẫn chưa trả lời những tin nhắn của em. Chúng đến ngày càng rời rạc và nói ngày một ít đi. Giờ chỉ còn “Hey!” hoặc “Hi” và sớm thôi, tôi nghĩ, chúng sẽ dừng lại. Khi đến Lincoln Center để xem phim hoặc nghe nhạc, tôi nhìn danh sách những buổi hòa nhạc sắp diễn ra và xem tên em có trên đó không. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu một trong những đêm ấy tôi thấy em đứng gần tôi, dõi theo tôi.

Giờ thì tôi thức giấc một mình. Tôi thức giấc sớm và nằm nghĩ ngợi hoặc mơ màng. Buổi sáng, tôi mang trên mình cả gánh nặng của giấc ngủ buổi đêm. Như thể tôi đã đốt kiệt sức mình trong bóng đêm, thay vì nghỉ ngơi. Không có ai nói cho tôi biết tôi có phát ra tiếng trong lúc ngủ hay không. Tôi không biết mình có ngáy, có rên rỉ, có khóc lóc hay không. Tôi muốn nghĩ rằng mình yên lặng, nhưng làm sao tôi biết được?

Copyright © 2015 by Colm Tóibín | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 4, 2016 by in Truyện ngắn and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: