Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Toni Morrison: Hiểm họa


Toni Morrison.jpg

Toni Morrison (1931–) là nhà văn người Mỹ. Bà được trao giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 1988 cho cuốn Beloved và giải Nobel văn chương năm 1993. Tiểu luận “Peril” được in trong Burn This Book, ed. Toni Morrison (HarperCollins, 2009), pp. 1–3.

Hiểm họa

Các chế độ chuyên chế, những nhà độc tài, những tên bạo chúa thường, nhưng không phải luôn, là những kẻ ngu. Nhưng không ai đủ ngu để cho những nhà văn sắc sảo, bất đồng chính kiến phạm vi tự do để xuất bản những đánh giá hoặc theo đuổi những bản năng sáng tạo của mình. Chúng biết làm như vậy là hiểm họa cho chúng. Chúng không đủ ngu để từ bỏ quyền kiểm soát (công khai hoặc ngầm) đối với truyền thông. Những phương pháp của chúng bao gồm giám sát, kiểm duyệt, bắt bớ, thậm chí sát hại những nhà văn gây ảnh hưởng và làm xáo động công chúng. Những nhà văn đáng lo ngại, làm dấy lên nghi ngờ, có một cái nhìn khác, sâu hơn. Các nhà văn—nhà báo, nhà tiểu luận, blogger, nhà thơ, nhà viết kịch—có thể làm xáo động sự đàn áp xã hội vốn có chức năng như một cơn mê đối với công chúng, cơn mê mà những tên bạo chúa gọi là hòa bình; và họ ngăn chặn dòng máu chiến tranh mà những kẻ diều hâu và trục lợi vốn thèm khát.

Đó là hiểm họa của chúng.

Của [nhà văn] chúng ta thuộc một kiểu khác.

Sự tồn tại trở nên ảm đạm, không thể sống được, không thể chịu đựng được làm sao khi chúng ta bị tước đi tác phẩm nghệ thuật. Việc cuộc đời và tác phẩm của những nhà văn đang phải đối mặt với hiểm họa phải được bảo vệ là cấp bách, nhưng cùng với sự cấp bách đó chúng ta nên tự nhắc mình rằng sự vắng mặt của chúng, việc chặn đứng tác phẩm của một nhà văn, việc cắt bỏ nó một cách tàn bạo, là hiểm họa không kém cho chúng ta. Sự giải cứu mà chúng ta dành cho chúng là sự hào phóng cho chính chúng ta.

Chúng ta đều biết những dân tộc có thể được xác định bằng chuyến bay của những nhà văn từ bờ biển của họ. Đó là những chế độ nơi nỗi sợ những văn bản không được giám sát của chúng là hợp lý vì sự thật chính là rắc rối. Nó là rắc rối đối với kẻ hiếu chiến, kẻ tra tấn, doanh nghiệp trộm cắp, chính trị gia tư lợi, và đối với một công chúng hôn mê. Những nhà văn chưa bị bức hại, chưa bị cầm tù, chưa bị quấy rối là rắc rối đối với kẻ côn đồ ngu dốt, kẻ phân biệt chủng tộc gian xảo, và những kẻ săn mồi gặm nhấm những nguồn tài nguyên của thế giới. Sự lo lắng, sự bất an mà những nhà văn dấy lên chứa nhiều thông tin do nó có tính mở và dễ bị tổn thương, do nếu không bị kiểm soát thì nó là mối đe dọa. Do đó sự đàn áp lịch sử đối với các nhà văn là chỉ dấu sớm nhất của việc đều đặn tước đi các quyền và tự do bổ sung theo sau. Lịch sử của những nhà văn bị bức hại cũng dài như lịch sử của bản thân văn học. Và những nỗ lực nhằm kiểm duyệt, bỏ đói, chỉnh đốn, và tiêu diệt chúng ta là những dấu hiệu rõ ràng cho thấy một điều quan trọng đã diễn ra. Các lực lượng văn hóa và chính trị có thể quét sạch tất cả trừ cái “an toàn,” tất cả trừ nghệ thuật được nhà nước chấp thuận.

Tôi được biết con người có hai phản ứng trước nhận thức về sự hỗn loạn: đặt tên và bạo lực. Khi sự hỗn loạn đơn giản là cái chưa biết, việc đặt tên có thể được thực hiện dễ dàng: một giống loài, ngôi sao, công thức, phương trình, tiên lượng mới. Ngoài ra còn có việc lập bản đồ, lập biểu đồ, hoặc sáng tạo ra những danh từ thích hợp cho vùng địa lý, cảnh quan, hoặc nhóm dân chưa được đặt tên hoặc đã bị tước mất tên. Khi sự hỗn loạn phản kháng, hoặc bằng cách tự cải cách hoặc bằng cách nổi dậy chống lại trật tự áp đặt, bạo lực được hiểu là phản ứng thường gặp nhất và duy lý nhất khi đối đầu với cái chưa biết, thảm họa, hoang dã, vô lối, hoặc không thể cải tạo. Những phản ứng duy lý có thể là phê bình, giam giữ trong các trại giam, nhà tù, hay cái chết, đơn độc hoặc trong chiến tranh. Nhưng còn một phản ứng thứ ba trước sự hỗn loạn, mà tôi chưa nghe về nó, đó là sự tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng như vậy có thể là sự thụ động và sự ngây dại; có thể là nỗi sợ đến tê liệt. Nhưng nó cũng có thể là nghệ thuật. Những nhà văn chế tác tạo tác của họ gần hoặc xa ngai báu của quyền lực thô, của sức mạnh quân sự, của tòa nhà chọc trời và những phòng sổ sách, những nhà văn kiến tạo ý nghĩa trong đối mặt với sự hỗn loạn phải được dung dưỡng, được bảo vệ. Và đúng là sự bảo vệ đó phải được khởi xướng bởi các nhà văn khác. Và nhất thiết phải giải cứu không chỉ những nhà văn bị vây hãm mà còn cả chúng ta. Ý nghĩ dẫn tôi đến việc suy ngẫm với nỗi khiếp sợ về sự xóa bỏ những tiếng nói khác, những cuốn tiểu thuyết chưa được viết, những bài thơ thì thầm hoặc nuốt chửng vì sợ không đúng đối tượng nghe phải, những ngôn ngữ ngoài vòng pháp luật ngầm nở rộ, những câu hỏi thách thức uy quyền chưa bao giờ được đặt ra của các nhà tiểu luận, những vở kịch chưa được lên sân khấu, những bộ phim bị hủy bỏ—ý nghĩ đó là một cơn ác mộng. Như thể toàn thể vũ trụ được mô tả bằng mực vô hình.

Một số kiểu chấn thương nhất định đến với các dân tộc quá sâu sắc, quá tàn nhẫn, đến mức không như tiền bạc, không như báo thù, thậm chí không như công lý, hay quyền, hay thiện chí của những dân tộc khác, chỉ những nhà văn mới có thể chuyển dịch những chấn thương như vậy và biến nỗi buồn thành ý nghĩa, mài giũa trí tưởng tượng đạo đức.

Cuộc đời và tác phẩm của nhà văn không phải là món quà cho nhân loại; chúng là điều cần thiết của nhân loại.

Copyright © 2009 Toni Morrison | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on July 8, 2016 by in Tiểu luận, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,568 other followers

%d bloggers like this: