Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Con người tưởng tượng


Cynthia Ozick.jpg

Photo by Sasha Rudensky for The New York Times

Cynthia Ozick (1928–) là nhà văn và nhà phê bình người Mỹ. Bà được trao giải Rea cho truyện ngắn năm 1986, giải phê bình của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia Mỹ năm 2000, và giải PEN/Nabokov cùng giải PEN/Malamud năm 2008. Tiểu luận “Imaginary People” được in trong Quarrel & Quandary: Essays (Knopf, 2000).

Con người tưởng tượng

Độc giả thường hỏi—và các nhà văn tự hỏi—tác phẩm hư cấu “đến từ” nơi nào. Một câu hỏi lôi cuốn: nó ngụ ý rằng các câu chuyện không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ tâm trí của người viết, mà từ một nguồn hoặc một thế lực nào đó bên ngoài, như ngòi độc của một con côn trùng đi qua. Henry James, trên thực tế, đã dựng lên một lý thuyết mầm nhằm lý giải sự công nhận bất ngờ rằng một câu chuyện vốn đã ở đó, ít nhất là trong phôi thai. “Mầm mống,” theo quan điểm của James, là dấu hiệu sinh sôi nhỏ nhất, không lớn hơn một hạt giống, mà từ đó một câu chuyện có thể phát triển. Ông thu thập những mầm mống có ích ở những bữa tiệc tối, lắng nghe những giai thoại và tin đồn—nhưng ông quay đi, về nguyên tắc, khi người kể chuyện nói tiếp đến kết cục đời thực của câu chuyện.

Điều làm James hứng thú không phải là những gì thực tế đã diễn ra, mà là những gì có thể diễn ra, những gì nằm tiềm ẩn trong bất kỳ hoàn cảnh nào nghe được—dấu hiệu, khả năng, bào tử khởi đầu. Các cuốn sổ tay của ông chứa đầy những mầm mống như thế: “Bà F. F. kể cho tôi,” ông viết, “một sự kiện nhỏ ở địa phương mà tôi thấy như một ‘truyện ngắn’ tốt nho nhỏ… Một gã đã đính ước với một cô gái trẻ, nhưng sau đó đổi ý,” v.v. Những cách triển khai của James sẽ sớm ồ ạt tách khỏi “sự kiện nhỏ ở địa phương” ban đầu—nhưng điều này, mầm mống của câu chuyện, là không thể thiếu đối với trí tưởng tượng của ông.

Cảm hứng của nhà văn có xu hướng phân chia bản thân thành ký ức và quan sát—hoặc có thể nói là thành cái tôi và những ý tưởng về thế giới. Đối với những nhà văn bên ký ức, tự truyện là thứ sinh ra câu chuyện—hoặc nếu không phải tự truyện theo nghĩa đen, thì là ma trận nơi tâm lý và nhân cách và môi trường xã hội gặp nhau. Nhà văn bên ký ức bắt đầu bằng nhân vật và tình huống, như James đã làm. Đối với những nhà văn chịu tác động của những ý tưởng—hãy nghĩ đến Hawthorne hay Kafka—ý tưởng là thứ đi trước nhân vật. Nhưng dĩ nhiên không nhà văn nào nằm thuần túy  ở bên này hay bên kia; mỗi tiểu thuyết là một mối quan hệ phức tạp giữa cả ký ức và ý tưởng, trong đó cái này cuối cùng sẽ áp đảo cái kia, như trên một chiếc bập bênh.

Việc đọc cũng có phần trong sự phân chia này. Độc giả ngồi trên bập bênh cùng với nhà văn, nhưng có thể đi ngược lại khuynh hướng của nhà văn. Cuốn tiểu thuyết đời đầu của E. M. Forster, The Longest Journey (cuốn tiểu thuyết mà tôi đọc đi đọc lại một cách ám ảnh trong những năm tuổi hai mươi và ba mươi), chủ yếu—có lẽ duy chỉ—là một tác phẩm ký ức, bắt nguồn từ tự truyện, và dành cho diễn giải nhân vật hơn nhiều so với dành cho ý tưởng trong ý nghĩa “triết học.” Nhưng cái mà tôi lấy được từ nó, qua nhiều thập niên, là ý tưởng về bản chất của đời sống đạo đức. (Độc giả phát hiện ra “những mầm mống” của riêng mình.) Ý tưởng đó—một cái nhìn sâu sắc vào tội lỗi—nằm trong một câu duy nhất ở Chương 8. Agnes và Rickie vừa thông báo họ sẽ kết hôn. Ansell, người bạn thẳng thắn của Rickie, hỏi khi nào hôn lễ sẽ diễn ra. “Không phải sau nhiều năm nữa, theo chúng tôi biết,” Agnes trả lời.

Sau đó Ansell, thấu lòng Rickie, lên án Agnes là kẻ dối trá—bởi vì, như anh ta giải thích, “cô ta nói ‘chúng tôi biết’ thay vì ‘tôi biết.’”

Một khoảnh khắc như thế trong một cuốn tiểu thuyết tương đương một chục chương sách của Kant. Trong một cảnh sắc sảo nhỏ, Forster thâm nhập vào hiểm họa của “tôi” nói cho “chúng tôi”—không thật; kiêu ngạo; mị lòng.

Không như James, Forster không để lại văn bản nào ghi lại cách ông tìm được mầm mống cho cuốn hư cấu thời trẻ này. Và mầm mống của nhà văn, cái khoảnh khắc mặc khải quan trọng ấy, có thể không phải là của độc giả. Đối với tôi, mầm mống của cuốn tiểu thuyết này—thứ liên quan nhất đối với một cuộc đời đọc trong thời trẻ của nó—là nỗi kinh hoàng nhỏ bé (sau này sẽ trở nên tầm cỡ) khi nghe Agnes nói “chúng tôi.”

Giờ ta có thể phản đối rằng Rickie và Agnes không tồn tại—rằng, như người ta nói, họ chỉ là tưởng tượng. Dù thế, con người tưởng tượng có thể, đủ thường xuyên, gợi lên một thực tế lớn hơn, ví dụ, người thân của chúng ta. Tôi có thể thấy Bà Dalloway hơi khó hiểu, nhưng tôi tin tưởng tuyệt đối vào Bà Ramsay. Bellow của Einhorn, Aziz của Forster, Emma của Flaubert, Abulafia của A. B. Yehoshua, Elizabeth của Jane Austen, Dorothea của George Eliot, Hersh Rasseyner của Chaim Grade, Swede của Philip Roth, v.v. và v.v.: những cuộc đời ấy tồn tại lâu hơn cuộc đời của chính chúng ta. Chúng ta, bất kể đang đứng ở đâu trong vòng đời thất tuần, là phù du. Chỉ những con người hư cấu mới có thể tồn tại dài lâu; và một số, như Hamlet, là bất tử—ít nhất cho đến khi mặt trời cháy rụi.

Bản sắc kỳ lạ của những cuốn sách nói chung là việc lịch sử và triết học, dù vô giá, không thể, bởi bản chất của mình, chứa đựng tiểu thuyết; nhưng tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử và triết học. Chúng ta không cần cãi cọ xem thể loại nào đứng trên; tất cả đều thiết yếu đối với sự phấn đấu của con người. Nhưng bằng cách nào đó nó vẫn mê hoặc khi nghĩ rằng chiếc túi thần kỳ của tưởng tượng, nếu muốn, luôn có thể đầy đặn hơn và lớn hơn bất cứ thứ gì mà các sử gia và triết gia có thể mang lại. Hư cấu, với sự vô dụng và tầm thường của nó, với tất cả sự giả tạo của nó, vẫn thường xuyên được ca ngợi vì nói sự thật qua những lời nói dối. Một quan sát như vậy rõ ràng có vẻ không quan trọng. Lịch sử tìm kiếm sự thật; triết học tìm kiếm sự thật. Chúng có thể đạt được nó tốt hơn nhiều so với những cuốn tiểu thuyết. Tiểu thuyết được viết ra cho một mục đích khác. Chúng được viết ra cho chúng ta được sống, trong một thời gian ngắn, một cuộc đời khác; một cuộc đời khác cuộc đời mà chúng ta không thể tránh khỏi khi sinh ra. Sự thật, nếu chúng ta có thể đặt tay lên nó, có thể có, có thể không, đem lại tự do. Hư cấu thì luôn đem lại.

Copyright © 2000 Cynthia Ozick | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

2 comments on “Con người tưởng tượng

  1. Bà Tám
    July 9, 2016

    Bà có truyện ngắn “The Shawl” rất hay.

    Liked by 1 person

  2. HA
    July 9, 2016

    Không phải trong bài này, nhưng bạn rất thích cách trong TA gọi những con người tưởng tượng là “make-believe people”.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on July 9, 2016 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,648 other followers

%d bloggers like this: