Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Quốc tế ngữ” – Amos Oz


Amos Oz.jpg

Amos Oz (1939–) là nhà văn người Israel và giáo sư ngành văn học Hebrew tại Đại học Ben-Gurion. Ông được trao giải Goethe năm 2005, giải Heinrich Heine năm 2008, và giải Franz Kafka năm 2013. Truyện ngắn “Esperanto” được in trong Oz, Between Friends, trans. Sondra Silverston (Boston and New York: Houghton Mifflin Harcourt, 2013).

Quốc tế ngữ

Một buổi tối, Osnat, hàng xóm của Martin Vandenberg, mang khay đựng một chiếc đĩa đậy bằng một chiếc đĩa khác và một chiếc cốc đậy bằng một chiếc đĩa nhỏ sang thăm anh. Martin sống một mình và mắc bệnh hô hấp, kết quả của nhiều năm hút thuốc. Buổi chiều, anh thường ngồi dưới hiên nhà nhỏ và đọc báo, thỉnh thoảng thở qua một chiếc mặt nạ gắn bình ô xy vì phổi anh đã suy. Có lúc anh cũng dùng mặt nạ vào đêm. Nhưng khi nào khỏe thì anh dậy lúc sáu giờ và đi làm ba đến bốn tiếng ở tiệm sửa giày. Anh là tín đồ trung thành của một nguyên tắc là tất cả chúng ta phải cống hiến hết mình cho lao động chân tay. “Lao động,” anh nói, “là một điều cần thiết về cả đạo đức lẫn tinh thần.”

“Em mang cho anh chút đồ ăn nhẹ ở nhà ăn. Đặt báo xuống rồi ăn luôn nhé?”

“Cảm ơn em. Anh không đói.”

“Anh phải ăn. Trứng ốp với salad thôi.”

“Để sau cũng được.”

“Để sau thì trứng nguội với cả salad hết giòn mất.”

“Anh đang lạnh và người cũng hết giòn đây. Cảm ơn em, Osnat. Thật đấy. Em không phải lo cho anh đâu.”

“Thế thì ai lo?”

Mấy tháng nay, kể từ khi Boaz bỏ cô đi và chuyển đến ở cùng Ariella Barash, Osnat sống một mình cạnh đó. Đầu mỗi tối, cô mang bữa tối đặt trên khay cho Martin vì leo dốc lên nhà ăn thì quá sức và làm anh khó thở. Anh đến chỗ chúng tôi, một mình, từ một kibbutz khác, nơi mọi thành viên đều là người Hà Lan. Anh bỏ họ đi vì một bất đồng tư tưởng: họ cho phép các nạn nhân sống sót sau Holocaust được giữ lại một phần tiền bồi thường của người Đức trong tài khoản ngân hàng cá nhân, trong khi Martin, cũng là một nạn nhân sống sót, thì nghĩ tài sản là tội lỗi nguyên thủy, đặc biệt là tiền bồi thường của người Đức, chẳng khác gì tiền máu.

Cứng đầu, ương ngạnh, anh gầy và tóc xám xoăn như bùi nhùi thép, mắt nhỏ đen và sâu, lông mày rậm, má trũng, và vai gù. Tiếng anh thở to và khàn vì phế thũng. Nhưng bất chấp bệnh tình thỉnh thoảng anh vẫn làm nửa điếu, khò khè, và từ chối bỏ thuốc. Hồi trẻ anh dạy Quốc tế ngữ ở Rotterdam, nhưng từ khi đến Israel năm 1949, anh không còn cơ hội sử dụng thứ tiếng ấn tượng đó. Khóa Quốc tế ngữ nhỏ mà anh muốn dạy ở Kibbutz Yekhat này chưa bao giờ mở. Niềm tin của anh là nên bãi bỏ các nhà nước và thay bằng một tình anh em hòa bình quốc tế ngự trị khi biên giới giữa các dân tộc được xóa bỏ. Khi đến chỗ chúng tôi, anh muốn học làm thợ đóng giày, và anh không chỉ sửa giày rất giỏi mà còn làm được giày trẻ em và dép cho mình. Tiến sĩ Đóng giày, chúng tôi gọi anh.

Ở kibbutz, anh được xem là một hình mẫu đạo đức. Trong các buổi họp tập thể, anh thường nhắc nhở chúng tôi tại sao phong trào kibbutz được thành lập và những lý tưởng ban đầu của phong trào là gì. Nhưng có người nghĩ anh kỳ quặc vì trong từng ấy năm ở với chúng tôi anh chưa từng nghỉ một ngày công nào. Nếu bị ốm và phải nằm giường một hai ngày, anh sẽ mở tiệm sửa giày vào thứ Bảy để trả lại cộng đồng thời gian anh đã bỏ lỡ. Anh tin một ngày sớm thôi toàn thế giới sẽ tỉnh giấc và bãi bỏ hoàn toàn tiền tệ, bởi tiền là nguồn gốc của mọi tội lỗi, một nguyên nhân liên tục gây ra chiến tranh, xung đột, và bóc lột. Trên tất cả, anh là người ăn chay. Roni Shindlin, diễn viên hài, gọi anh là Gandhi của Kibbutz Yekhat. Hai năm trước, Roni giả làm Martin Vandenberg đến tiệc hóa trang Purim của chúng tôi. Gã choàng một tấm vải trắng và kéo theo một con dê đeo quanh cổ một tấm biển mang dòng chữ viết bằng Quốc tế ngữ: tôi cũng là con người.

Osnat nói, “Nếu anh ăn, em sẽ ở đây với anh một lúc. Rồi em sẽ bật anh nghe hai ba bài đến khi anh ngủ.”

“Anh không đói.”

“Nếu anh ăn nửa quả trứng thôi, em sẽ bật cho anh một bài, còn nếu anh ăn nửa quả trứng với ít sữa chua, em sẽ bật hai bài, còn nếu anh ăn salad và cả bánh mỳ nữa thì anh có thể dạy cho em một bài học ngắn.”

“Em đi được rồi đấy. Đi đi. Ngoài kia có nhạc, đầy trai trẻ, có cả khiêu vũ nữa. Đi đi.”

Nhưng một lúc sau, anh mủi lòng. “Được rồi. Được rồi. Em thắng. Anh sẽ ăn một ít. Đây, xem nhé. Anh đang ăn đây.”

Osnat mang theo một chiếc máy ghi âm đơn giản, loại chúng tôi cho trẻ con, và trong lúc anh ăn, cô mở bài “Trên bờ hồ Kinneret” và “Người ta nói có một vùng đất.” Martin ăn vài miếng trứng ốp và một chút sữa chua, nhăn mặt, không động đến salad hay bánh mỳ, nhưng để Osnat giúp mình nhấp một chút trà âm ấm đựng trong chiếc cốc mà cô mang về từ nhà ăn. Về nguyên tắc, anh không giữ ấm hoặc cốc cá nhân trong phòng: tích lũy của cải là lời nguyền của xã hội loài người; bản chất của của cải là dần dần chiếm hữu và nô dịch linh hồn. Martin cũng không tin vào gia đình, bởi lẽ đơn vị gia đình, bằng chính bản chất của nó, tạo ra một rào cản không cần thiết giữa chính nó và xã hội. Anh tin thay vì cha mẹ đẻ, cộng đồng nên nuôi dạy trẻ con: mọi thứ ở đây thuộc về tất cả chúng ta, tất cả chúng ta thuộc về nhau, và trẻ con cũng nên thuộc về tất cả chúng ta.

Phòng của Martin Vandenberg được trang bị đơn giản kiểu Sparta: một chiếc giường, một chiếc bàn, một tủ gỗ lớn phủ màn để treo quần áo vào trong, và một tủ mình dài khác đặt trên giá sắt làm tủ sách. Nó chứa đầy sách viết bằng sáu thứ tiếng về triết học và nghiên cứu học thuật, bốn hoặc năm cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Đức, tiếng Hà Lan, và Quốc tế ngữ, một vài tập thơ, nhiều cuốn từ điển, và một cuốn Kinh Thánh với minh họa của Gustave Doré. Treo trên tường là một bức hình Ludwig Lazarus Zamenhof, người sáng tạo Quốc tế ngữ, thứ tiếng mà rồi một ngày nào đó mọi người trên khắp năm châu sẽ sử dụng để những rào cản giữa các cá nhân và các dân tộc có thể được dỡ bỏ và thế giới có thể trở lại nguyên trạng như trước lời nguyền tháp Babel.

Osnat đỡ Martin lên giường và vuốt nhẹ trán anh. Cô để một ngọn đèn nhỏ cháy ở cạnh giường và tắt đèn trần. Martin không ngủ nằm mà ngồi, đầu và vai dựa vào những chiếc gối lớn để giúp anh dễ thở. Mỗi đêm, anh ngồi như thế trên giường chờ giấc ngủ, nếu đến cũng ngắn và chập chờn. Osnat chụp mặt nạ lên mũi và miệng anh, đám râu xám trên đôi má trũng của Martin chờm ra bên dưới. Cô trải chăn cho anh và hỏi anh cần gì nữa không. Từ sau chiếc mặt nạ Martin nói, “Không. Cảm ơn em. Em là thiên thần.”

Rồi anh bỏ mặt nạ ra và nói, “Con người bản chất là tốt và hào phóng. Chỉ có những bất công của xã hội mới đẩy anh ta vào vòng tay của ích kỷ và độc ác.” Rồi nói thêm, “Tất cả chúng ta phải ngây thơ trở lại như trẻ con.”

Từ chỗ cô đứng ở cửa, Osnat trả lời, “Trẻ con cũng là những sinh vật hư hỏng, độc ác, ích kỷ. Giống chúng ta thôi.”

Nhưng vì cả hai đều không có con, và bởi họ không muốn kết thúc buổi tối của mình bằng tranh cãi, nên không ai thêm gì vào bất đồng giữa họ mà chỉ chúc nhau ngủ ngon. Sau khi cô về, ngọn đèn bên giường Martin vẫn cháy. Anh rút gói thuốc dưới gối ra và, tận dụng lúc Osnat đã về, hút nửa điếu, dụi phần còn lại vào gạt tàn, khò khè một chút, rồi chụp lại mặt nạ lên mặt, hơi thở anh nhanh và nông. Dựa vào gối, anh đọc một cuốn của một nhà vô chính phủ nổi tiếng người Ý cho rằng thẩm quyền và sự tuân phục thẩm quyền đó đi ngược lại bản chất của con người. Rồi anh lơ mơ ngủ trong tư thế nửa thẳng đứng của mình, mặt nạ trong suốt che nửa dưới khuôn mặt anh, đèn vẫn sáng. Nó vẫn cháy cạnh giường anh cho đến sáng, dù Martin tin rằng lãng phí là bóc lột và tiết kiệm là một mệnh lệnh đạo đức. Nhưng bóng tối làm anh sợ.

Osnat cầm theo khay khi cô về, dù phần lớn thức ăn vẫn còn nguyên trên đó. Cô đặt nó xuống bậc thềm để sớm hôm sau mang trả cho bếp kibbutz trên đường đi làm ở tiệm giặt. Rồi cô dạo bộ một quãng ngắn dọc đường cây bách, được chiếu sáng bằng những ngọn đèn vườn. Kể từ khi Boaz bỏ cô đi đến sống với Ariella Barash, Osnat bắt đầu đặc biệt chú ý đến mọi thứ xung quanh, đến lời lẽ của những người qua lại và tiếng chim và chó. Trong lúc bước đi, cô nghĩ mình nghe thấy tiếng Martin ngạt thở và gọi cô về, nhưng nhận ra đó chỉ là cô tưởng tượng, bởi nếu anh có gọi cô thì cô cũng chẳng thể nào nghe thấy anh từ khoảng cách đó.

Ngồi một mình trên ghế băng giữa đường cây bách là bà Slava, mặc váy cotton xòe và đi đôi dép hở những ngón chân đỏ, thô nhám, cong queo. Góa chồng và mất con, bà ở kibbutz này ai cũng sợ—họ gọi bà là phù thủy và quái vật bởi bà luôn nhiếc móc người ta và nghe nói còn nhổ vào mặt bất cứ ai làm bà giận. Osnat chúc bà buổi tối tốt lành và bà Slava hỏi cô bằng giọng giễu cợt, cay đắng, “Tối trời oi bức thế này thì có gì mà tốt?”

Về đến căn hộ, Osnat rót cho mình một cốc nước lạnh pha si rô chanh và cởi dép. Cô đứng chân trần sau ô cửa sổ mở và tự nói với mình rằng dường như hầu hết mọi người đều cần nhiều ấm áp và tình cảm hơn những gì mà người khác có thể trao đi, và ủy ban nào của kibbutz cũng sẽ không bao giờ có thể bù đắp khoản thâm hụt giữa thứ cung và cầu đó. Kibbutz, cô nghĩ, tạo ra những thay đổi nhỏ trong trật tự xã hội nhưng bản chất khó vừa của con người thì không thay đổi. Một cuộc bỏ phiếu của ủy ban sẽ không bao giờ có thể diệt trừ tính ghen tị, nhỏ nhen, hay tham lam.

Cô rửa cốc rồi úp lên giá, cởi quần áo, và lên giường. Chỉ một bức tường mỏng ngăn cách giường cô với giường của Martin, và cô biết nếu đêm anh ho hay thở khò khè thì lập tức cô sẽ tỉnh, choàng áo lên người, và vội vã sang nhà bên giúp anh. Cô ngủ rất tỉnh; tai cô phát hiện được từng tiếng sủa của một con chó trong bóng tối, từng tiếng kêu của một con chim đêm, từng tiếng gió lùa qua những bụi cây rậm rạp. Nhưng đêm trôi qua lặng lẽ, chỉ có tiếng gió thổi qua đám cây si. Gần đến bình minh, sương nặng rơi trên bãi cỏ và ánh trăng tràn ngập mọi thứ, ánh lên những giọt sương trắng bạc, lấp lánh.

Lũ bồ câu đánh thức Osnat trước lúc sáu giờ, như thường lệ, và cô tắm, mặc quần áo, gõ cửa nhà Martin để hỏi thăm anh, nhặt khay của ngày hôm qua, và đến làm ở tiệm giặt. Martin ra khỏi giường và chầm chậm mặc quần áo, hổn hển vì cố gắng khi cúi xuống xỏ giày. Sau khi uống chút nước, anh bắt đầu đến tiệm sửa giày, đẩy chiếc bình ô xy nhỏ bằng chiếc xe đẩy cũ mà Ủy ban Y tế cấp cho anh. Anh bước chậm chạp, lê chân, vì thấy khó thở, nhất là lên dốc. Gần xưởng thợ điện anh gặp Nahum Asherov, thợ điện, và hai người đàn ông nói chuyện một lúc về chính trị và chính phủ của Ben Gurion. Nahum nói chính phủ đã kích động cả thế giới bằng các cuộc tấn công trả đũa của mình, và Martin trả lời rằng mọi chính phủ, không có ngoại lệ, đều hoàn toàn không cần thiết và chính phủ của chúng ta thì không cần thiết gấp đôi thế vì người Do Thái đã cho cả thế giới thấy một dân tộc có thể tồn tại và thậm chí phát triển mạnh về mặt tinh thần và xã hội trong hàng ngàn năm mà không có một chính phủ nào như thế nào. Trong lúc nói chuyện, Martin hút nửa điếu, nhưng không rít hơn hai lần vì anh bắt đầu ngạt thở. Anh dập nó và bỏ phần còn lại vào túi. Nahum Asherov nói, “Đừng hút thuốc, Martin. Anh không nên hút.”

“Chúng ta không nên bảo người khác nên hay không nên làm gì,” Martin đáp. “Chúng ta sinh ra tự do, nhưng chúng ta xiềng xích nhau bằng chính bàn tay mình.”

“Chúng ta phải chăm sóc nhau,” Nahum nói, cùng một tiếng thở dài.

Một nụ cười bắt qua đôi môi hóp của Martin. “Vậy đi, Nahum. Anh nhất định phải bảo tôi đừng hút thuốc và tôi nhất định phải hút. Mỗi người chúng ta làm điều chúng ta phải làm. Vậy đi.”

Trong kho sửa giày, ngồi trên chiếc ghế mây và giữa mùi hăng nồng của da, xi, và keo, Martin đặt bình ô xy lên thùng gỗ bên cạnh và chụp mặt nạ lên mặt. Sau đó, giữ con dao sắc của một thợ đóng giày trong tay, anh cắt một tấm đế trái chính xác dọc theo đường chì vẽ trước đó trên một miếng da. Một chai nước ấm dựng trên sàn trước mặt anh, thỉnh thoảng anh hạ mặt nạ xuống và làm hai hoặc ba ngụm. Công việc, anh nói với chính mình, đưa chúng ta trở lại sự đơn giản và thuần khiết của thời đầu thơ ấu. Một giai điệu Tây Ban Nha cũ, quốc ca của những người lính Cộng hòa từ những ngày của cuộc nội chiến Tây Ban Nha, hiện lên trong tâm trí Martin và anh khẽ ngâm nga nó.

Hơn tám giờ sáng một lúc, Yoav Carni, bí thư kibbutz, đến và nói, “Tôi đến phiền bác ít phút. Chúng ta cần nói chuyện.”

Martin nói, “Ngồi đi, thanh niên.” Rồi anh bỏ bình ô xy khỏi thùng gỗ xuống sàn dưới chân mình và nói thêm, “Ở đây không có nhiều chỗ ngồi lắm. Ngồi thùng này nhé.”

Yoav ngồi xuống và Martin xin lỗi vì không có cà phê để mời. Yoav cảm ơn và nói không cần cà phê. Martin nghĩ Yoav là một thanh niên trẻ trung thực, tận tụy, và khiêm tốn, nhưng cũng giống như những người khác thuộc thế hệ cậu, cậu không có một thế giới quan được xác định rõ ràng. Họ đều là những người tốt, Martin nghĩ, đều tử tế và sẵn sàng đảm nhiệm mọi công việc khó khăn bất cứ kiểu nào, nhưng không ai có đam mê, không ai sôi sục phẫn nộ trước bất công xã hội. Giờ đây nền lãnh đạo đã chuyển giao từ những người sáng lập tiên phong sang Yoav và bạn bè cậu, kibbutz chắc chắn sẽ trượt dần vào giai cấp tiểu tư sản. Và phụ nữ, dĩ nhiên, sẽ là chất xúc tác cho quá trình đó. Trong hai ba mươi năm, các kibbutz sẽ không gì hơn những cộng đồng vườn tược được gìn giữ cẩn thận và sống trong đó là các chủ nhà được thúc đẩy bằng thú vui vật chất.

Yoav nói, “Chuyện là thế này. Gần đây, một số thành viên đã đến nói chuyện với tôi về bác. Ủy ban Y tế cũng gửi Leah Shindlin đến nói chuyện với tôi. Bác sĩ bảo bà ấy là bác tuyệt đối không được làm việc trong tiệm nữa, và chúng tôi đều đồng ý với bác sĩ. Nhà kho này thiếu khí, ngột ngạt và mùi da mùi keo chắc chắn không tốt cho sức khỏe của bác. Cả kibbutz đều nghĩ bác làm việc đã đủ rồi, bác Martin. Đã đến lúc bác cần nghỉ ngơi.”

Martin bỏ mặt nạ ô xy, lấy nửa điếu thuốc nhàu nát ra khỏi túi, châm lửa bằng bàn tay run rẩy, rít vào, và sặc.

“Thế ai sẽ làm trong tiệm? Cậu chăng?”

“Chúng tôi đã tìm được một người tạm thời thay thế cho bác. Có một thợ đóng giày đến từ Romania sống ở trại nhập cư mới gần đây. Bác ấy đang thất nghiệp. Nói về mặt đạo đức, bác Martin, thực sự chúng ta nên cho bác ấy một công việc ở đây và cho bác ấy phương tiện để hỗ trợ gia đình.”

“Một công nhân được trả lương nữa? Một cái đinh nữa vào quan tài của nguyên tắc tự chủ?”

“Chỉ đến khi nào chúng tôi tìm được một thành viên có thể thay thế bác thôi.”

Martin cẩn thận dụi điếu thuốc lên đầu ghế băng của thợ đóng giày, lắc tàn đen, và bỏ phần còn lại vào túi áo, ho và khò khè, nhưng không chụp lại mặt nạ. Gương mặt lởm chởm râu xám của anh nhận một cái nhìn mỉa mai.

“Còn tôi thì sao?” anh nói với nửa nụ cười. “Tôi đã xong? Tàn đời? Sẵn sàng vào đống rác?”

“Bác,” Yoav nói, đặt tay lên vai Martin, “bác có thể đến văn phòng làm việc với tôi một hai tiếng mỗi sáng. Sắp xếp giấy tờ. Chúng tôi đã quyết định từ giờ trở đi mọi tài liệu đến văn phòng bí thư sẽ được giữ lại. Không hẳn là một kho lưu trữ, nhưng đại loại giống như thế. Cứ gọi nó là hạt giống của kho lưu trữ tương lai. Bác sẽ sắp xếp tài liệu trong văn phòng. Tránh xa không khí ngột ngạt của nhà kho này.”

Martin Vandenberg nhặt một chiếc giày đế rách bụi bặm lên, cẩn thận úp nó lên khuôn, trét một lớp keo dày, mùi hắc lên mặt trong đế, lấy mấy cái đinh nhỏ từ chiếc hộp đặt trên ghế, và đóng đế vào giày bằng một chiếc búa nhỏ với năm sáu nhát gõ chính xác.

“Làm sao cậu bỗng dưng ném một người khỏi công việc mà trái ý muốn của anh ta chỉ vì sức khỏe anh ta đang suy yếu?” Martin nói bằng giọng trầm như thể đang nói với chính mình chứ không phải với Yoav. “Không thể hình dung nổi một tội ác kiểu Darwin như thế ở nơi này.”

“Chúng tôi chỉ lo cho bác thôi, bác Martin. Tất cả chúng tôi đều muốn những gì tốt nhất cho bác. Vả lại, quyết định thực sự là của bác sĩ, không phải của chúng tôi.”

Martin Vandenberg không trả lời. Có một cái máy may đạp chân nhỏ bên trái anh, và anh dùng nó để may một chiếc dép rách. Anh chạy mũi kim hai lần qua quai dép, rồi gia cố chỗ may bằng một má kẹp kim loại nhỏ và đặt đôi dép đã sửa lên giá đằng sau. Yoav Carni đứng dậy, nhẹ nhàng đặt lại bình ô xy lên thùng gỗ cậu vừa ngồi, và ngập ngừng nói, “Không có gì vội. Cứ suy nghĩ chuyện đó, bác Martin. Chúng tôi mong bác xem xét đề nghị của chúng tôi. Hay đúng hơn là yêu cầu của chúng tôi. Mong bác nhớ rằng tất cả chúng tôi ở đây chỉ muốn những gì tốt nhất cho bác. Tổ chức lưu trữ trong văn phòng một hai tiếng mỗi sáng cũng là công việc. Suy cho cùng, đừng quên các thể chế của kibbutz có đặc quyền thuyên chuyển công việc của một thành viên khi họ thấy phù hợp.”

Ra về, Yoav ngập ngừng nhắc lại, “Đừng vội trả lời chúng tôi. Cứ suy nghĩ một hai ngày. Suy nghĩ một cách hợp lý.”

Martin Vandenberg đã không suy nghĩ về đề nghị của Yoav; anh cũng không trả lời trong một hai ngày hay cả một tháng sau. Anh thở khó nhọc hơn, nhưng không từ bỏ nửa điếu thuốc của mình. Với Osnat, người mang cho anh một chiếc đĩa đậy và một chiếc cốc đậy từ nhà ăn mỗi tối, anh nói, “Con người về cơ bản là tốt và hào phóng và tử tế. Môi trường là thứ làm chúng ta suy đồi.”

Osnat nói, “Nhưng môi trường là gì nếu không phải là những người khác?”

Martin nói, “Trong chiến tranh, anh trốn bọn Đức Quốc xã, Osnat, nhưng mấy lần anh nhìn thấy họ ở gần. Những con người đơn giản, không phải tất cả đều là quái vật, một chút trẻ con, ồn ào, thích đùa, chơi piano, cho mèo con ăn, nhưng họ đã bị tẩy não. Tẩy não là lý do duy nhất khiến họ làm những điều tồi tệ dù bản thân họ không tồi tệ. Họ đã bị hủy hoại. Những ý tưởng suy đồi đã hủy hoại họ.”

Osnat không nói gì. Cô nghĩ tàn ác có nhiều trên thế giới này hơn từ bi và thậm chí đôi khi từ bi còn là một hình thức của tàn ác. Rồi cô mở ba bốn bản nhạc trong máy ghi âm, chúc anh ngủ ngon, rồi mang chiếc khay với bữa tối mà Martin gần như chưa động đến đi. Cô nghĩ tàn ác ăn sâu trong tất cả chúng ta, và thậm chí Martin cũng có phần nào tàn ác trong anh, ít nhất là hướng về bản thân anh. Nhưng cô không thấy sao phải bất đồng với anh bởi lẽ anh hạnh phúc với những niềm tin của mình và có lẽ anh chưa bao giờ cố tình làm hại bất cứ ai. Osnat biết Martin ốm và đang yếu đi. Cô đã nói chuyện với bác sĩ, và bác sĩ bảo cô rằng bệnh tình của anh sẽ không thể nào cải thiện và khi nào anh không thể thở được nữa thì họ sẽ phải đưa anh vào viện. Leah Shindlin, thay mặt Ủy ban Y tế, đề xuất rằng họ sẽ cắt bốn giờ mỗi tuần từ lịch làm việc của Osnat để cô chăm sóc Martin, nhưng Osnat nói dù sao cô vẫn chăm sóc anh vì tình bạn, và không cần bù lại. Những giờ buổi tối cô ở bên người đàn ông bệnh tật, những cuộc trò chuyện ngắn ngủi của họ, lòng biết ơn của anh, thế giới của những lý tưởng và tư tưởng mà anh mở ra cho cô—cô trân trọng tất cả và run rẩy khi nghĩ mối quan hệ của hai người có thể sẽ sớm kết thúc.

***

Osnat treo một thông báo viết bằng nét chữ nhọn của Martin trên bảng tin ở lối vào nhà ăn:

Gửi những ai quan tâm: Sáu đến bảy giờ tối thứ Tư hằng tuần, một khóa Quốc tế ngữ nhập môn, do Martin V. giảng dạy, sẽ được tổ chức tại câu lạc bộ xã hội.

Quốc tế ngữ là một ngôn ngữ mới, dễ, nhằm thống nhất toàn thể nhân loại và trở thành ngôn ngữ thứ hai của tất cả mọi người. Ngữ pháp đơn giản và logic, không có ngoại lệ, và các bạn có thể bắt đầu nói và viết chỉ sau một vài bài học. Những ai quan tâm có thể ghi danh ở dưới cùng của trang này.

Ba người đăng ký: đầu tiên là Osnat, theo sau là Zvi Provizor và cuối cùng là cậu học sinh lớp mười một, Moshe Yashar. Thứ Tư, Martin đẩy bình ô xy trong khi lê bước đến câu lạc bộ xã hội để dạy buổi Quốc tế ngữ đầu tiên của mình. Osnat đi cùng anh và cố gắng đỡ cánh tay anh một cách nhẹ nhàng, nhưng anh tránh ra và kiên quyết tự đi. Anh lê chân, thỉnh thoảng dừng lại, thở dốc trên sườn dốc lên, nhưng quyết tâm, và đến câu lạc bộ sớm chừng mười phút. Anh ngồi xuống đợi học sinh và hút nửa điếu, thở qua mặt nạ ô xy, lướt qua đống báo tối, và chỉ thấy sự man rợ và xấu xí trong đó, cùng một liều thuốc tẩy não chất đống. Osnat rót từ ấm cho anh một tách trà và đứng trong góc, và Martin đặt những ngón tay dày, xương xẩu của anh lên mu bàn tay trái của cô một lúc. Tay cô thanh mảnh với những ngón tay dài, và vòng da nhạt màu bên dưới nhẫn cưới trước khi cô tháo nó đi, khi Boaz rời bỏ cô, vẫn còn thấy được. Cô rút tay mình đặt lên tay anh. Họ ngồi như thế im lặng một lúc, ngón tay cô che ngón tay anh, với những móng tay xanh thiếu ô xy, cho đến khi cửa mở và Zvi Provizor bước vào. Gã lầm bầm chào và ngồi xuống một góc cạnh chiếc radio, lưng gã tròn, gương mặt cau cháy nắng của gã cúi xuống đầu gối, và chờ đợi trong im lặng. Martin khen gã về khu vườn của kibbutz và Osnat nói thêm, “Tôi đặc biệt thích những vườn nho và đài phun nước mà anh lắp đặt ở quảng trường nhà ăn. Anh đã biến Kibbutz Yekhat thành một nơi đáng yêu để dạo qua.”

Zvi cảm ơn cả hai và nói vấn đề là một số đứa trẻ ở đây đi tắt qua các bãi cỏ ngay sau khi chúng được tưới và phá hoại chúng. Trong lúc gã nói, Moshe Yashar bước vào và lễ phép hỏi buổi học chỉ dành cho thành viên kibbutz hay học sinh trung học cũng có thể tham dự. Martin Vandenberg nói, “Chúng tôi không có biên giới hay giới hạn. Chúng tôi chống lại biên giới về nguyên tắc.”

Martin ho và bắt đầu bài học bằng một lời giải thích ngắn gọn: “Khi toàn thể nhân loại nói cùng một ngôn ngữ, chiến tranh sẽ không còn vì ngôn ngữ chung của họ sẽ ngăn chặn sự hiểu lầm giữa các cá nhân và các dân tộc.” Zvi Provizor nhận xét rằng người Do Thái ở Đức nói cùng một ngôn ngữ với người Đức, nhưng điều đó đã không ngăn người Đức khỏi truy lùng và sát hại họ. Moshe Yashar rụt rè giơ tay và khi Martin gọi, cậu nói Cain và Abel có thể cũng đã nói cùng một ngôn ngữ. Martin hỏi cậu nếu đó là sự thật thì tại sao cậu đến đây học Quốc tế ngữ. Cậu bé không trả lời ngay. Cuối cùng, cậu lầm bầm một cách phục tùng rằng học Quốc tế ngữ có thể giúp cậu tìm hiểu các ngôn ngữ khác sau này.

Martin hút nửa điếu, khò khè, lại ho dữ dội, và giải thích rằng Quốc tế ngữ không có nhiều hơn khoảng tám ngàn từ gốc, và mọi từ vựng cần thiết đều bắt nguồn từ đó. Bản thân các gốc này lấy từ tiếng Hy Lạp và từ tiếng Latin. Có đúng mười sáu quy tắc ngữ pháp, không có trường hợp bất quy tắc hay ngoại lệ. Cuối buổi học đầu tiên, kéo dài hai mươi lăm phút, Martin dạy học sinh của mình cách nói câu mở đầu Sáng thế ký bằng Quốc tế ngữ: En la komenco Dio Kreis la ĉielon kaj la teron. Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời và đất.

Zvi Provizor, trong thời gian rảnh vẫn dịch các tác phẩm của nhà văn Ba Lan Iwaszkiewicz sang tiếng Hebrew, nghĩ một lúc, rồi nói Quốc tế ngữ thực sự có vẻ dễ và logic và nghe hơi giống tiếng Tây Ban Nha với gã. Moshe Yashar viết mọi thứ vào cuốn sổ của cậu. Martin nói rằng những lời lẽ không chính xác đã đầu độc mối quan hệ giữa con người ở mọi nơi, và đó là lý do tại sao những lời lẽ rõ ràng, chính xác có thể hàn gắn những mối quan hệ đó, nhưng chỉ khi chúng là những lời lẽ đúng trong một ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều có thể hiểu được. Moshe Yashar không nói gì, nhưng cậu nghĩ nỗi buồn trên thế giới đã ra đời từ lâu trước khi có từ ngữ. Và khi Martin sử dụng cụm từ “không thỏa hiệp,” Moshe chợt nghĩ rằng ngay cả quyết định hút thi thoảng nửa điếu mà không phải cả điếu của Martin thật ra cũng là một thỏa hiệp.

Sau buổi học, Osnat đưa Martin cùng chiếc xe đẩy chở bình ô xy của anh về nhà. Anh rất mệt, cơ thể đau nhức, và thở nặng nhọc đến mức anh quyết định từ bỏ nửa điếu thuốc mà anh đã định lúc sau sẽ hút trong tối hôm đó. Osnat chỉ thuyết phục anh ăn được chút sữa chua; rồi cô giúp anh cởi giày và ngồi lên giường, lưng dựa nhiều chiếc gối, chờ đợi giấc ngủ có thể đến cũng có thể không. Sau khi mở anh nghe hai bài hát trên chiếc máy ghi âm, cô chúc anh ngủ ngon, mang khay bữa tối đi và đặt nó xuống bậc thềm, rồi ra ngoài đi dạo dọc con đường cây bách. Đêm đến, cô nghe tiếng anh ho qua bức tường mỏng ngăn cách giường của hai người, nhưng khi cô đang khoác áo để sang kiểm tra anh thì tiếng ho im bặt và không xuất hiện trở lại cho đến sáng.

***

Buổi học Quốc tế ngữ thứ hai bị hoãn một ngày trước lịch diễn ra, bệnh tình của Martin Vandenberg xấu đi và anh được đưa vào viện bằng xe cứu thương và được đặt trong lều ô xy trong đơn vị chăm sóc đặc biệt. Trong giờ thăm sáng, Leah Shindlin, với tư cách đại diện của Ủy ban Y tế, ngồi cạnh giường anh, và vào buổi chiều, Osnat thay bà. Mắt Martin hầu như lúc nào cũng nhắm. Thỉnh thoảng anh lầm bầm gì đó hoặc mỉm cười. Trông mắt anh trũng và mái tóc bùi nhùi thép của anh nhếch nhác. Khi ai nói chuyện với anh, anh chỉ gật đầu. Mấy lần, anh nói được một vài lời cảm ơn với những người phụ nữ trông nom anh. Chiều muộn, anh phàn nàn rằng mình không có sức tập trung ý nghĩ. Và một lần, khi hai y tá lanh lợi đến thay đồ ngủ cho anh, đột nhiên anh cười nhăn nhở và bảo họ rằng bản thân cái chết là một kẻ vô chính phủ. “Cái chết không kinh sợ trước địa vị, của cải, quyền lực, hay danh tước; tất cả chúng ta đều bình đẳng trong đôi mắt của nó.” Những lời đó rời rạc và không rõ ràng, nhưng Osnat, ngồi bên Martin, hiểu anh và cảm nhận được anh quý giá như thế nào với cô; cô phải tìm cách nói với anh điều đó bây giờ. Nhưng không nói được lời nào, cô chỉ nắm lấy những ngón tay ấm của anh giữa những ngón tay nhỏ và lạnh của mình.

Năm ngày sau, phổi anh ngừng hấp thu dòng ô xy chảy vào nó, và anh ngạt đến chết. Osnat, ngồi cạnh anh, nhẹ nhàng vuốt trán anh và vuốt mắt anh trước khi cô ra chỗ điện thoại trong hành lang để báo tin cho Yoav Carni. Yoav gửi một chiếc xe cùng tài xế đến đưa Osnat về và vận chuyển thi thể anh đến nhà văn hóa của kibbutz, nơi, phủ vải đen, thi thể anh nằm đó cả đêm cho đến tang lễ vào sáng hôm sau. Trên bảng tin ở nhà ăn, Yoav treo một thông báo nhỏ mà cậu mổ cò bằng một ngón trên máy đánh chữ văn phòng:

Bạn chúng ta Martin Vandenberg đã qua đời tối nay.

Tang lễ sẽ được tổ chức lúc mười giờ sáng mai.

Nếu ai biết Martin có bất kỳ người thân nào, xin báo cho Yoav ngay khi có thể.

Người ta không tìm thấy người thân nào và chỉ có các thành viên của Kibbutz Yekhat dự lễ tang. Một buổi sáng xanh mềm mại và những người đưa tang không bị cơn nóng làm phiền nhờ một cơn gió dễ chịu từ phía Tây làm mát làn da họ. Những ngọn bách bao quanh nghĩa trang rung nhẹ trong gió. Một đàn bướm đập cánh trong không trung, mang theo mùi những cánh đồng, những vườn cây trái, và một ngọn lửa xa xôi. Năm sáu mươi thành viên kibbutz ở đó, tất cả đều mặc quần áo lao động, khi tang lễ diễn ra vào một ngày làm việc. Họ đứng quanh ngôi mộ mở và chờ đợi. Không có nghi lễ tôn giáo vì Martin đã để lại Ủy ban Xã hội một lá thư đề nghị được chôn cất mà không xướng ca hay cầu nguyện.

David Dagan, giáo viên, thay mặt mọi thành viên nói một vài lời. Ông mô tả Martin Vandenberg là một người vô chính phủ đã sống cả đời theo những niềm tin của mình. “Gần như cho đến ngày cuối cùng,” David Dagan nói, “Martin làm việc trong tiệm sửa giày như thể anh gánh trên mình trách nhiệm biểu tượng cho mỗi bước chúng ta đi.”

Sau đó Yoav Carni, đại diện ban bí thư, đọc một điếu văn ngắn. Cậu nói Martin đã cô đơn trong cả đời mình, một nạn nhân sống sót giấu mình ở Hà Lan trong Holocaust. “Anh đã thấy bằng chính mắt mình con người có thể chìm sâu đến đâu, nhưng anh vẫn đến với chúng ta mang đậm niềm tin vào con người và vào một tương lai cháy với ngọn lửa sáng rực của công lý. Chúng ta thường ngạc nhiên,” Yoav nói, “trước sự trung thực và tận tâm với những lý tưởng của anh. Anh là một trí thức và cũng là một người tin tưởng vào tầm quan trọng của lao động chân tay, một con người của nguyên tắc và của lao động chăm chỉ không thỏa hiệp.” Rồi Yoav ngợi ca Osnat, người tận tình chăm sóc Martin khi anh ốm, và kết thúc phát biểu của mình với niềm hy vọng rằng Martin Vandenberg và tất cả những gì mà anh tin tưởng sẽ tiếp tục là một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta.

Sau những lời ca tụng, theo đề nghị của Yoav, Osnat bật một trong những bài hát yêu thích của Martin trong máy ghi âm của cô. Một số người đưa tang khẽ ngâm nga cùng cô còn những người khác thì chỉ mấp máy môi.

Zvi Provizor, Nahum Asherov, và Roni Shindlin, cùng với một số thành viên khác dùng xẻng xúc đất phủ lên quan tài. Đất tung bụi khi đập vào quan tài với âm thanh khô, rỗng. Roni Shindlin vấp phải gò đất và đáng lẽ đã ngã nếu David Dagan không túm được cánh tay và giữ gã lại. Osnat nghĩ về cụm từ không thỏa hiệp mà Yoav dùng để mô tả người đã khuất và quyết định rằng cô không thích nó. Nhưng cô cảm thấy ấm lòng với tất cả những ai có mặt tại lễ tang, và dù không biết cảm giác ấm áp đó bắt nguồn từ đâu, cô biết mình sẽ còn cảm thấy nó trong một thời gian dài sắp tới.

Quan tài giờ đã lấp xong và một đám mây bụi nhỏ quét qua ngôi mộ mới. Roni Shindlin nói, “Vậy là xong.” Rồi nói thêm, “Thật tiếc anh ấy đã ra đi. Không còn nhiều người như anh ấy.”

Gã nhặt năm chiếc xẻng mà họ dùng để lấp mộ, bỏ lên chiếc cút kít nhỏ, rồi quay đi. Những người đưa tang khác đi theo gã, rời nghĩa trang theo từng nhóm nhỏ rồi giải tán khi từng người đến nơi làm việc của mình. David Dagan nhắc Moshe rằng lớp học tiếp theo sẽ bắt đầu trong mười lăm phút. Rồi ông đi. Moshe đợi hai ba phút rồi cậu cũng đi. Osnat nán lại một lúc bên gò đất nhỏ và nghe tiếng chim và tiếng ồn của một chiếc máy kéo đằng xa, và cô cảm nhận được một cảm giác bình an, như thể đây không phải một đám tang, mà là một cuộc trò chuyện thoả mãn và dễ chịu. Ước muốn nói một hai từ thầm lặng bằng Quốc tế ngữ đột nhiên dấy lên trong cô, nhưng cô đã không có thời gian để học bất cứ điều gì, và cô không biết phải nói gì. ♦

Copyright © 2016 by Amos Oz | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

2 comments on “Truyện ngắn: “Quốc tế ngữ” – Amos Oz

  1. Bà Tám
    October 2, 2016

    Đúng là một nhân vật lý tưởng. Quốc tế ngữ có ngăn chận được chiến tranh giữa các quốc gia không? Tôi thấy những cuộc xung khắc bất hòa đều xảy ra với những người nói cùng ngôn ngữ. Người ta yêu thương mèo chó chỉ vì chúng có thể bày tỏ sự thân thiết một cách mơ hồ và không biết nói những lời làm phật ý chủ.

    Liked by 1 person

  2. Uông Triều
    October 4, 2016

    Mình là Uông Triều đây, không biết bạn đã về nước chưa, và các kênh liên lạc với bạn đều không vào được. Mình đã in 2 tiểu luận bạn dịch, đã cầm báo và nhuận bút. Nếu bạn đọc thông tin này thì phản hồi lại nhé. Thanks!

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on September 25, 2016 by in Truyện ngắn and tagged , .

Archives

Categories

%d bloggers like this: