Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Nhà thơ và tiền bạc


charles simic.jpg

Charles Simic (1938–) là nhà thơ người Mỹ gốc Serbia. Ông được trao giải Pulitzer cho thơ năm 1990 cho tập The World Doesn’t End và giải Wallace Stevens năm 2007, và được bổ nhiệm làm Poet Laureate của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2007–2008. Ông từng là biên tập viên thơ của tờ The Paris Review, và là giáo sư hưu trí ngành văn học Anh tại Đại học New Hampshire.

Nhà thơ và tiền bạc

“Nếu con người chỉ đọc thơ, thứ mà các nhà thơ không bao giờ có thể ngừng viết ra ngay cả khi anh chẳng trả gì cho họ, thì luật bản quyền sẽ biến mất trong phút chốc.” —Tim Parks

Tuyệt! Tôi thốt lên sau khi đọc câu này. Thế giới đang đi xuống địa ngục, nhưng nhà thơ chúng ta có gì đó để mà mong chờ. Chúng ta chưa bao giờ giàu có trong quá khứ và sẽ không thấy một xu trong tương lai. Bất chấp luật bản quyền, phần lớn thơ của chúng ta đều có thể tiếp cận miễn phí với hàng triệu độc giả trên Internet và trong thời đại con người có khoảng chú ý ngắn này, thơ cuối cùng có thể sẽ là thứ văn chương duy nhất mà người ta đọc. Khi không còn nhà sách nào và các thư viện đã đóng cửa, những người có nhu cầu được kích thích lãng mạn thêm sẽ phải với lấy iPhone và tìm một bài thơ thích hợp cho dịp và đọc cho nhau. Sức mạnh của thơ đến từ những vận dụng thực tế như vậy. Mọi người đều đã nghe những bài thơ được đọc trong hôn lễ và tang lễ, nhưng tôi ngờ rằng chưa có ai từng thử áp đặt một chương tiểu thuyết hay một truyện ngắn lên những buổi tụ họp kiểu này. Chắc chắn nhà văn và trí thức phần lớn đều coi thường thơ. Nhà thơ làm việc không vì điều gì, Tim Parks nói. Nói cách khác, họ làm thơ giống như một công xưởng mồ hôi ở một đất nước Thế giới thứ Ba làm ra những thứ đồ chơi giá rẻ.

Đáng giận hơn, phần lớn thơ đều ngắn. Chúng đem lại ấn tượng là viết ra chúng chẳng mất thời gian. Mười phút là cùng. Viết một cuốn tiểu thuyết sáu trăm trang thì mất hàng năm trời. Anh đến và làm việc trên bàn mình mỗi ngày giống như một người thợ mỏ xuống mỏ và anh có cảm giác như mình cạn kiệt sau đó. Dĩ nhiên, kiểu làm việc đó cần được tưởng thưởng đúng mực. Nhà thơ đứng bên cửa sổ ngắm mưa rơi, hoặc nhìn lọn tóc của người tình cũ, nguệch ngoạc gì đó lên một mẩu giấy và thế là qua ngày. Điều kỳ quặc nhất về thơ là những bài thơ được làm ra một cách hờ hững như vậy cuối cùng lại được đưa vào những tập thơ tuyển mà con cái bạn học ở trường. Không chỉ thế, có thể chúng còn phải lòng chúng, ghi nhớ chúng, và cố gắng bắt chước chúng. “Thơ đã chết!,” ai đó hét lên sung sướng lúc này hay lúc khác, trước sự nhẹ nhõm của các bậc cha mẹ và những người có học vấn mà chưa bao giờ đọc thơ. Đâu có may như vậy. Chỉ cần xem số lượng thơ mà các tạp chí, bao gồm cả những tờ tạp chí không bao giờ xuất bản thơ, nhận được mỗi ngày là biết. Ngày nay, hơn bao giờ hết, có hàng ngàn hàng ngàn người làm thơ ở đất nước này, trong đó có một số người tham dự một trong số hàng trăm workshop sáng tác ở các viện, các trường đại học và nhiều địa điểm khác, và số khác thì viết những bài thơ của riêng mình, rất có thể là trong bí mật tuyệt đối và với hy vọng khiêm tốn là được xuất bản trên một tạp chí văn chương có chút danh tiếng và có lẽ cuối cùng có một tập thơ được đọc và được ngưỡng mộ bởi các nhà thơ đồng nghiệp và ít người khác quan tâm đến thơ.

Một tiểu thuyết gia thành công có thể, với sự may mắn, kiếm bộn, cũng như một tác giả hồi ký (nếu như họ đủ may mắn để có một người mẹ giết chồng mình trước mắt mình), và một họa sĩ hạng ba có thể làm ăn khá tốt nếu một chuỗi khách sạn hay một ngân hàng bắt đầu thích thú cảnh biển và những bông hướng dương của anh ta, nhưng rất ít nhà thơ kiếm sống được bằng thơ. Trong những thế kỷ trước, họ có thể hy vọng nhận được lời mời ăn tối của một nhà quý tộc nào đó ẩn náu trong lâu đài của mình để giải trí cho những vị khách say xỉn của ông ta, hay thậm chí nhận được một mảnh đất của nhà vua sau khi viết một bản khải hoàn ca cho những cuộc chinh phạt và tàn sát của ông ta. Nhưng trong thời hiện đại, trừ ở Liên Xô dưới thời Stalin, khả năng các nhà thơ có thể được ca ngợi lên trời cao và từ đó sống trong cảnh vương giả đã bị đóng lại. Ngay cả Robert Frost, người vô cùng nổi tiếng và được đọc rộng rãi trong suốt cuộc đời mình, cũng phải nhận một công việc giảng dạy để đỡ đần. Còn những nhà thơ lớn còn lại của chúng ta, từ thời Whitman và Dickinson, thu nhập gộp lại từ thơ của họ, nếu chúng ta biết, sẽ khiến họ vốn đã khó hiểu thậm chí còn khó hiểu hơn trong con mắt người Mỹ.

Ở một đất nước mà nay xem tiền là mục tiêu tối thượng, làm gì đó chỉ vì tình yêu với nó không chỉ kỳ quặc, mà còn không thể nào chấp nhận được. Thử hình dung nỗi kinh hoàng và tức giận của cặp phụ huynh có con phải vào Trường Kinh doanh Harvard và theo sự nghiệp tài chính thì lại phát hiện ra mối quan tâm thơ ca. Thử hình dung những lời mô tả đầy dụ dỗ của họ về tương lai giàu có và quyền lực đang chờ con mình trong lúc cố gắng khiến nó nghĩ lại quyết định. “Ai công nhận anh là nhà thơ? Ai xếp anh vào hàng ngũ các nhà thơ?” thẩm phán hét vào mặt nhà thơ người Nga Josef Brodsky, trước khi kết án ông năm năm lao động khổ sai. “Chẳng ai,” Brodsky trả lời. Ông đã thay lời tất cả những đứa con phải đối mặt với cơn thịnh nộ của bố mẹ.

Còn tôi, tôi vẫn không thể thực sự lý giải được cho mình tôi đã trở thành nhà thơ như thế nào, và tôi đã từ bỏ. Điều tôi biết từ ngày đầu tiên là tiền bạc chẳng có gì liên quan đến nó. Chỉ một lần tôi quên mất điều đó và tự biến mình thành thằng hề. Đó là đầu những năm 1970 khi tôi có một công việc giảng dạy nho nhỏ ở California và phải vật lộn để chu cấp cho vợ và con gái. Một hôm chúng tôi đang chuẩn bị đến thăm vài người bạn ở San Francisco thì tôi nhận được thư từ một gã nào đó đang khởi xướng một tờ tạp chí ra vẻ nghệ thuật và sau khi bảo tôi gã thích thơ tôi thế nào gã nói gã muốn đăng một vài bài thơ và trả 600 đô, nhưng gã cần rất gấp. Đây là một khoản tiền lớn hồi năm 1972, nhất là với một người mà mức lương phó giáo sư ở một trường đại học tiểu bang khá nhỏ nhặn và thường nhẵn túi, và chỉ có nguồn thu nhập khác đến từ những tạp chí văn chương nhỏ trả năm đến hai mươi lăm đô một bài và phần lớn thường là không trả chút nào.

Vấn đề là lúc đó tôi chẳng có gì có thể gửi cho gã. Tôi chạy vào nhà, tóm lấy tấm lót màu vàng và một cây bút, bảo vợ tôi lái, rồi ngồi ghế sau cuống cuồng cố gắng viết vài bài thơ trong chuyến đi. Hôm sau tôi về nhà, và suốt một tuần sau đó, tôi tiếp tục làm việc mỗi ngày trong tinh thần hứng khởi và hoàn toàn tập trung, trong khi dành các buổi tối bàn bạc với vợ xem chúng tôi sẽ tiêu số tiền đó thế nào. Nhưng một buổi sáng nắng rạng tôi thức dậy trước mọi người, ngồi trước bàn và đọc những gì mà tôi đang viết, rồi nhận ra mọi thứ về chúng đều là hoàn toàn giả dối. Tôi xé chúng trong cơn vội vàng và xấu hổ rồi ra ngoài đi dạo một quãng dài với chú chó của mình.

Charles Simic, “Poets and Money,” NYR Daily, August 08, 2012.

Copyright © 2012 by Charles Simic | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 19, 2017 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: