Nguyễn Huy Hoàng

Lương tâm của từ ngữ – Susan Sontag


susan sontag.jpg

Susan Sontag at her New York apartment in 1992 | Photo by Wyatt Counts/AP

Susan Sontag (1933–2004) là nhà văn, nhà làm phim, và nhà hoạt động chính trị người Mỹ. Bà được trao giải NBCC cho tác phẩm phi hư cấu năm 1978 cho cuốn On Photography, giải Sách Quốc gia Mỹ cho tác phẩm hư cấu năm 2000 cho cuốn In America, giải Jerusalem năm 2001, và giải Friedenspreis và giải Hoàng tử xứ Asturias năm 2003. “The Conscience of Words” là diễn từ nhận giải Jerusalem của bà vào tháng 5 năm 2001, và được in trong Susan Sontag, At the Same Time: Essays and Speeches, eds. Paolo Dionardo and Anne Jump (Farrar, Straus and Giroux, 2007).

Lương tâm của từ ngữ

Chúng ta băn khoăn về từ ngữ, nhà văn chúng ta. Từ ngữ có nghĩa. Từ ngữ có hướng. Chúng là mũi tên. Những mũi tên mắc trong lớp da thô của thực tại. Và từ ngữ càng phơi bày, càng khái quát, chúng càng giống những căn phòng hay đường hầm. Chúng có thể mở rộng, hoặc thu hẹp. Chúng có thể bị một mùi hôi thối lấp đầy. Chúng thường nhắc chúng ta về những căn phòng khác, nơi chúng ta muốn cư ngụ hoặc nơi mà chúng ta nghĩ mình đang sống. Có thể có những không gian mà chúng ta đánh mất nghệ thuật hay trí tuệ của việc cư ngụ. Và cuối cùng những thể tích ý định tinh thần ấy chúng ta không còn biết cách cư ngụ, sẽ bị bỏ rơi, bị bịt lại, bị đóng cửa.

Chúng ta muốn nói gì, ví dụ, khi nói “hòa bình”? Có phải chúng ta muốn nói đến một sự vắng mặt của xung đột? Có phải chúng ta muốn nói đến một sự lãng quên? Có phải chúng ta muốn nói đến một sự tha thứ? Hay chúng ta muốn nói đến một sự mỏi mệt vô cùng, một sự kiệt sức, một sự trút bỏ hận thù?

Với tôi có vẻ cái mà đa số mọi người muốn nói đến khi nói “hòa bình” là chiến thắng. Chiến thắng của phía họ. Đấy là ý nghĩa của “hòa bình” đối với họ, trong khi đối với những người khác hòa bình nghĩa là thất bại.

Nếu bén rễ cái ý tưởng rằng hòa bình, trong khi về nguyên tắc là đáng mong muốn, kéo theo một sự từ bỏ không thể chấp nhận được những tuyên bố chính đáng, thì tiến trình hợp lý nhất sẽ là thực hành chiến tranh không bằng mọi biện pháp. Những lời kêu gọi hòa bình sẽ có cảm giác nếu không gian dối thì chắc chắn là quá sớm. Hòa bình trở thành một không gian mà người ta không còn biết cách cư ngụ. Hòa bình phải được tái định cư. Tái thuộc địa hóa…

***

Và chúng ta muốn nói gì khi nói “danh dự”?

Danh dự như một tiêu chuẩn chính xác của hành vi cá nhân dường như thuộc về một thời đã xa. Nhưng thói trao danh dự—để tâng bốc mình và người khác—vẫn không suy giảm.

Trao danh dự là khẳng định một tiêu chuẩn mà người ta tin là thuộc sở hữu chung. Nhận một danh dự là tin, trong một khoảnh khắc, rằng ta xứng đáng với nó. (Người xứng đáng nhất nên nói, bằng tất cả chừng mực, rằng họ không phải là không xứng với nó.) Từ chối một danh dự được trao thì có vẻ thô lỗ, không thân thiện, tự phụ.

Một giải thưởng tích lũy danh dự—và khả năng trao danh dự—bằng lựa chọn vinh danh ai mà nó đã đưa ra trong những năm trước.

Theo tiêu chuẩn này, hãy xem xét giải thưởng được đặt cái tên dễ gây luận chiến là Jerusalem, giải thưởng mà trong lịch sử tương đối ngắn ngủi của nó, nó đã được trao cho một số trong số những nhà văn xuất sắc nhất trong nửa sau thế kỷ 20. Dù bằng bất kỳ tiêu chí rõ ràng nào nó là một giải thưởng văn chương, nó lại không được gọi là Giải Jerusalem về Văn chương mà được gọi là Giải Jerusalem về Tự do của Cá nhân trong Xã hội.

Có phải mọi nhà văn giành được giải thưởng này đều thực sự ủng hộ Tự do của Cá nhân trong Xã hội? Có phải đó là điểm chung của họ—mà giờ tôi phải nói là “chúng tôi”?

Tôi nghĩ là không.

Họ không chỉ đại diện cho một phổ ý kiến chính trị rộng. Một số gần như còn chưa động đến những Từ ngữ Lớn: tự do, cá nhân, xã hội…

Nhưng quan trọng không phải là nhà văn nói gì, mà quan trọng là nhà văn gì.

Nhà văn—tôi muốn nói đến thành viên của cộng đồng văn chương—là hiện thân của sự bền bỉ (và sự cần thiết) của tầm nhìn cá nhân.

Tôi muốn dùng “cá nhân” như một tính từ hơn là một danh từ.

Sự tuyên truyền không ngừng trong thời đại chúng ta về “cá nhân” với tôi có vẻ hết sức đáng ngờ, do bản thân “tính cá nhân” ngày càng trở thành một từ đồng nghĩa với tính ích kỷ. Một xã hội tư bản trở nên có tư lợi trong việc ca ngợi “tính cá nhân” và “sự tự do”—thứ có thể có ý nghĩa không hơn gì quyền được không ngừng phóng đại bản ngã, và tự do mua, tự do sắm, tự do tận dụng, tự do tiêu thụ, tự do làm cho lỗi thời.

Tôi không tin có giá trị cố hữu nào trong việc tu dưỡng bản ngã. Và tôi nghĩ không có nền văn hóa nào (dùng theo nghĩa chuẩn mực) lại không có một tiêu chuẩn về lòng vị tha, về sự đối nhân. Tôi tin có một giá trị cố hữu trong việc mở rộng ý thức của chúng ta về việc đời sống con người có thể là gì. Nếu văn chương đã lấy tôi làm một dự án, đầu tiên là một độc giả và sau là một nhà văn, thì nó như là một phần mở rộng của những đồng cảm của tôi với những bản ngã khác, những miền khác, những giấc mơ khác, những từ ngữ khác, những lãnh thổ quan tâm khác.

***

Là một nhà văn, một người làm văn, tôi vừa là một người kể chuyện vừa là một người suy nghĩ. Các ý tưởng thay đổi tôi. Nhưng tiểu thuyết không được làm từ ý tưởng mà được làm từ hình thức. Các hình thức ngôn ngữ. Các hình thức biểu cảm. Tôi không có câu chuyện trong đầu cho đến khi tôi có hình thức. (Như Vladimir Nabokov nói: “Mô hình sự vật đến trước sự vật.”) Và—ẩn hay ngầm—tiểu thuyết được tạo ra từ ý thức của nhà văn về việc văn chương là gì hoặc có thể là gì.

Mỗi tác phẩm của nhà văn, mỗi màn biểu diễn văn chương là, hoặc tương đương, một mô tả về chính văn chương. Bảo vệ văn chương đã trở thành một trong những chủ đề chính của nhà văn. Nhưng như Oscar Wilde nhận xét, “Một sự thật trong nghệ thuật là một sự thật mà sự mâu thuẫn của nó cũng đúng.” Diễn giải Wilde, tôi sẽ nói: Một sự thật về văn chương là một sự thật mà sự đối lập của nó cũng đúng.

Do đó văn chương—và tôi nói một cách chuẩn định (prescriptively), chứ không chỉ mô tả (descriptively)—là sự tự ý thức, nghi ngờ, do dự, câu nệ. Nó còn là—một lần nữa, chuẩn định cũng như mô tả—bài ca, sự ngẫu hứng, sự chúc tụng, hạnh phúc.

Những ý tưởng về văn chương—không như những ý tưởng về tình yêu chẳng hạn—gần như không bao giờ xuất hiện trừ trong phản hồi với những ý tưởng của người khác. Chúng là những ý tưởng phản động.

Tôi nói thế này là vì tôi có ấn tượng là các bạn—hay hầu hết mọi người—đang nói thế khác.

Do đó tôi muốn dọn chỗ cho một niềm đam mê lớn hơn hay một thực hành khác. Các ý tưởng đem lại sự cho phép—và tôi muốn cho phép cho một cảm giác hay một thực hành khác.

Tôi nói thế này khi các bạn đang nói thế khác, không chỉ vì các nhà văn, đôi khi, là các đối thủ chuyên nghiệp. Không chỉ để khắc phụ sự mất cân bằng hay sự một chiều của bất kỳ thực hành nào có đặc điểm của một thể chế—và văn chương là một thể chế— mà bởi vì văn chương là một thực hành bắt nguồn từ những khát vọng vốn đã mâu thuẫn.

Quan điểm của tôi là bất cứ mô tả nào về văn chương cũng không đúng—tức là, mang tính giản lược; thuần túy luận chiến. Trong khi muốn nói trung thực về văn chương thì nhất thiết phải nói trong những nghịch lý.

Do đó, mỗi tác phẩm văn chương quan trọng, xứng danh văn chương, đều là hóa thân của một lý tưởng về sự riêng biệt, về một tiếng nói đơn nhất. Nhưng văn chương, vốn là một sự tích lũy, lại là hóa thân của một lý tưởng về sự đa, sự bội, về sự pha trộn.

Mỗi quan niệm về văn chương mà chúng ta có thể nghĩ đến—văn chương như là sự tham gia xã hội, văn chương như là sự theo đuổi các cường độ tâm linh riêng tư, văn chương dân tộc, văn chương thế giới—đều là, hoặc có thể trở thành, một hình thức của sự tự mãn tinh thần, hay sự tự đại, hay sự tự khen mừng.

Văn chương là một hệ thống—một hệ thống số nhiều—các tiêu chuẩn, tham vọng, lòng trung thành. Một phần của chức năng luân lý của văn chương là bài học về giá trị của sự đa dạng.

Dĩ nhiên, văn chương phải hoạt động trong các biên giới. (Giống như mọi hoạt động của con người. Hoạt động vô biên duy nhất là chết.) Vấn đề là những biên giới mà hầu hết mọi người muốn vẽ ra sẽ bóp nghẹt sự tự do được là cái mà nó có thể là của văn chương, sự tự do được kích động trong mọi sự sáng tạo và năng lực của nó.

Chúng ta sống trong một nền văn hóa theo đuổi việc hợp nhất mọi lòng tham, và một trong những sự đa dạng ngôn ngữ rộng lớn và vẻ vang của thế giới, ngôn ngữ mà tôi nói và viết, giờ là ngôn ngữ chủ đạo. Tiếng Anh đã đóng một vai trò tương tự như vai trò của tiếng Latin ở châu Âu thời trung cổ, trên quy mô thế giới và đối với các nhóm dân số chủ yếu là lớn hơn trong các nước trên thế giới.

Nhưng khi sống trong một nền văn hóa ngày càng mang tính toàn cầu, xuyên quốc gia, chúng ta cũng ngập trong những tuyên bố ngày càng mang tính phân hóa của các bộ lạc thật sự hoặc mới tự thành lập.

Những ý tưởng nhân văn cũ—về nền cộng hòa văn chương, về văn chương thế giới—đang bị tấn công ở mọi nơi. Chúng có vẻ, với một số người, ngây thơ, cũng như bị vấy bẩn vì nguồn gốc của chúng trong lý tưởng đại Âu—có người sẽ nói là lý tưởng trung tâm châu Âu chủ nghĩa—về các giá trị phổ quát.

Những quan niệm về “tự do” và về “quyền” đã trải qua một sự xuống cấp đáng kể trong những năm gần đây. Ở nhiều nước, quyền của nhóm được trao sức nặng lớn hơn quyền của cá nhân.

Trong khía cạnh này, những gì mà những người làm văn làm có thể ngầm củng cố độ tin cậy của tự do biểu đạt, và của các quyền cá nhân. Ngay cả khi những người làm văn đã hiến dâng công trình của mình để phụng sự cho bộ lạc hay cộng đồng mà họ thuộc về, những thành tựu của họ với tư cách nhà văn vẫn phụ thuộc vào việc vượt lên trên mục tiêu này.

***

Những phẩm chất khiến một nhà văn nhất định có giá trị hay được ngưỡng mộ đều có thể tìm thấy trong sự riêng biệt của giọng nói nhà văn.

Nhưng sự riêng biệt này, vốn được nuôi dưỡng trong riêng tư và là kết quả của một quá trình học nghề lâu dài trong suy ngẫm và cô đơn, lại liên tục bị thử thách bởi vai trò xã hội mà các nhà văn thấy mình được kêu gọi đảm nhận.

Tôi không nghi ngờ quyền được tham gia tranh luận các vấn đề công, được liên hiệp và thực hành tình đoàn kết với những người khác có chung tư tưởng của các nhà văn.

Quan điểm của tôi cũng không phải là những hoạt động như thế đưa nhà văn ra xa cái địa điểm bên trong, ẩn dật, lập dị nơi văn chương được tạo ra. Gần như mọi hoạt động khác tạo nên việc có một cuộc đời cũng vậy.

Nhưng tình nguyện, bị khuấy động trước những mệnh lệnh của lương tâm hay của mối quan tâm, tham gia vào tranh luận công và hành động công là một chuyện. Nhưng đưa ra ý kiến theo yêu cầu—những phát biểu mang tính đạo đức—lại là chuyện khác.

Không phải: Đã ở đây, làm chuyện đó. Mà: Ủng hộ chuyện này, chống lại chuyện đó.

Nhưng nhà văn không nên là một cỗ máy ý kiến. Như một nhà thơ da màu ở đất nước tôi nói, khi bị một số người Mỹ gốc Phi trách cứ vì không làm những bài thơ về sự hèn hạ của phân biệt chủng tộc, “Nhà văn không phải cái máy hát.”

Công việc đầu tiên của nhà văn không phải là có ý kiến mà là nói lên sự thật… và từ chối đồng lõa với những lời dối trá và thông tin sai lệch. Văn chương là ngôi nhà của sắc thái và sự trái ngược với những giọng nói đơn giản hóa. Công việc của nhà văn là khiến những kẻ hủy hoại tinh thần trở nên khó tin tưởng hơn. Công việc của nhà văn là khiến chúng ta thấy thế giới như nó vốn thế, đầy đủ nhiều tuyên bố và bộ phận và kinh nghiệm khác nhau.

Mô tả thực tế là công việc của nhà văn: những thực tế hôi hám, những thực tế tươi sáng. Bản chất của trí tuệ mà văn chương đem lại (số nhiều của thành tựu văn chương) là giúp chúng ta hiểu rằng, bất cứ chuyện gì đang diễn ra, chuyện khác vẫn đang luôn luôn tiếp diễn.

Tôi ám ảnh với cái “chuyện khác” ấy.

Tôi ám ảnh với xung đột của các quyền và các giá trị mà tôi trân trọng. Ví dụ như việc—đôi khi—nói lên sự thật không thúc đẩy công lý. Việc—đôi khi—thúc đẩy công lý có thể sẽ đòi hỏi đàn áp một phần nhiều sự thật.

Nhiều người trong số những nhà văn nổi tiếng nhất của thế kỷ 20, trong hoạt động của họ với tư cách là tiếng nói công, đã đồng lõa với việc đàn áp sự thật để thúc đẩy những gì mà họ hiểu là (đã là, trong nhiều trường hợp) những lý tưởng chính nghĩa.

Quan điểm của riêng tôi là, nếu phải chọn giữa sự thật và công lý—dĩ nhiên, tôi không muốn chọn—tôi chọn sự thật.

***

Dĩ nhiên, tôi tin vào hành động công chính. Nhưng người hành động có phải là nhà văn?

Có ba việc khác nhau: nói, việc tôi đang làm lúc này; viết, cái mang lại cho tôi bất cứ thứ quyền gì mà tôi có đối với giải thưởng không thể so sánh được này; và tồn tại, là một người tin vào tình đoàn kết chủ động với những người khác.

Như Roland Barthes nhận xét, “Người nói không phải người viết, và người viết không phải người tồn tại.”

Và dĩ nhiên tôi có ý kiến, những ý kiến chính trị, một số hình thành trên cơ sở đọc và bàn luận, và suy ngẫm, nhưng không phải từ kinh nghiệm trực tiếp. Xin phép chia sẻ với các bạn hai ý kiến của tôi—những ý kiến khá dễ đoán, với lập trường công khai của tôi về những vấn đề mà tôi có một số kiến thức trực tiếp.

Tôi tin rằng thuyết trách nhiệm tập thể, như một cơ sở cho sự trừng phạt tập thể, chưa bao giờ được chứng minh, về mặt quân sự hay về mặt luân lý. Tôi muốn nói việc sử dụng hỏa lực không cân xứng đối với dân thường, phá dỡ nhà cửa và hủy diệt vườn tược của họ, tước kế sinh nhai và quyền có việc làm, được đi học, được hưởng dịch vụ y tế, quyền tiếp cận mà không bị ngăn cản các thị trấn và cộng đồng láng giềng… tất cả như một hình phạt đối với hoạt động quân sự thù địch có thể hoặc thậm chí có thể không ở vùng lân cận những dân thường này.

Tôi cũng tin rằng sẽ không thể có hòa bình ở đây cho đến khi việc cấy các cộng đồng Israel vào các vùng lãnh thổ [Palestine] dừng lại và theo sau—sớm tốt hơn muộn—là giải thể các khu định cư và rút các đơn vị quân sự đóng ở đó để bảo vệ họ.

Tôi đánh cược rằng hai ý kiến này của tôi được nhiều người trong hội trường này chia sẻ. Tôi ngờ rằng—dùng một thành ngữ Mỹ cũ—mình đang giảng đạo cho ca đoàn.

Nhưng tôi có giữ những ý kiến này với tư cách là một nhà văn không? Hoặc tôi có giữ những ý kiến đó với tư cách một con người có lương tâm rồi dùng vị thế nhà văn của mình để thêm tiếng nói của mình vào những người khác nói điều tương tự? Sức ảnh hưởng mà một nhà văn có thể triển khai là hoàn toàn ngẫu nhiên. Giờ nó là một khía cạnh của văn hóa người nổi tiếng.

Có gì đó thô bỉ trong việc phổ biến công khai ý kiến về những vấn đề mà ta không có kiến thức trực tiếp sâu rộng. Nếu tôi nói về cái mà tôi không biết, hoặc biết chớp nhoáng, thì đây chỉ đơn thuần là gây ý kiến.

Tôi nói điều này, quay lại phần đầu, như một vấn đề danh dự. Danh dự của văn chương. Dự án có một tiếng nói cá nhân. Các nhà văn nghiêm túc, những người sáng tạo văn chương, không nên chỉ thể hiện bản thân khác với diễn ngôn bá quyền của truyền thông đại chúng. Họ phải nằm ở phía đối lập với giọng điệu chung của chương trình tin tức và chương trình đối thoại.

Vấn đề của ý kiến là người ta mắc kẹt với chúng. Và bất cứ khi nào nhà văn hoạt động như là nhà văn, họ đều thấy… nhiều hơn.

Bất kể có gì ở đó cũng luôn luôn có nhiều hơn. Bất kể chuyện gì đang diễn ra cũng có chuyện khác tiếp diễn.

Nếu bản thân văn chương, công việc vĩ đại đã được tiến hành (trong nhãn quan của chúng ta) gần ba thiên niên kỷ này, là hiện thân của một trí tuệ—và tôi nghĩ là có và nằm ở trung tâm của tầm quan trọng mà chúng ta trao cho văn chương—thì đó là bằng cách thể hiện bản chất đa bội của sự riêng tư của chúng ta và những định mệnh chung của chúng ta. Nó sẽ nhắc nhở chúng ta rằng có những mâu thuẫn, đôi khi là những xung đột không thể giản lược, giữa những giá trị mà chúng ta trân trọng nhất. (Đây là ý nghĩa của “bi kịch.”) Nó sẽ nhắc nhở chúng ta về cái “cũng” và “cái khác nữa.”

Trí tuệ của văn chương khá trái ngược với việc có ý kiến. “Không có gì là lời cuối của tôi về bất cứ chuyện gì,” Henry James nói. Ra ý kiến, ngay cả những ý kiến đúng đắn—bất cứ khi nào được hỏi—làm hạ thấp những gì mà các tiểu thuyết gia và nhà thơ làm tốt nhất, đó là đỡ đầu cho sự suy tư, là theo đuổi sự phức tạp.

Thông tin sẽ không bao giờ thay thế sự tường minh. Nhưng có một thứ nghe giống như thông tin, trừ việc nó tốt hơn—tôi muốn nói đến trạng thái có thông tin; tôi muốn nói đến kiến thức cụ thể, xác định, chi tiết, đặc lịch sử, trực tiếp—là điều kiện tiên quyết không thể thiếu đối với nhà văn nếu muốn bày tỏ ý kiến trước công chúng.

Hãy để những người khác, những người nổi tiếng và các chính trị gia, nói với chúng ta với thái độ bề trên; dối trá. Nếu việc vừa là nhà văn vừa là một giọng nói công có thể phục vụ cho bất cứ điều gì tốt hơn thì đó sẽ là các nhà văn sẽ xem việc xây dựng ý kiến và đánh giá là một trách nhiệm khó khăn.

Một vấn đề khác của ý kiến. Chúng là những đại diện của sự tự bất động. Những gì nhà văn làm phải giải phóng chúng ta, phải xáo động chúng ta. Mở ra những con đường của lòng trắc ẩn và những mối quan tâm mới. Nhắc nhở chúng ta rằng có thể, chỉ là có thể, chúng ta muốn trở nên khác đi, và tốt hơn, so với chúng ta hiện nay. Nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có thể thay đổi.

Như Đức hồng y Newman nói, “Ở một thế giới cao hơn thì khác, nhưng ở dưới đây sống là thay đổi, và hoàn hảo là thay đổi thường xuyên.”

Và tôi muốn nói gì khi nói từ “hoàn hảo”? Là tôi sẽ không cố gắng giải thích mà chỉ nói, Sự hoàn hảo làm tôi cười. Không phải hoài nghi, tôi phải nói thêm. Mà cười vui vẻ.

***

Tôi biết ơn vì đã được trao giải thưởng Jerusalem. Tôi nhận nó như một vinh dự cho tất cả những ai tận tâm với nghiệp văn chương. Tôi nhận nó trong sự kính trọng dành cho tất cả những nhà văn và những độc giả ở Israel và ở Palestine đang đấu tranh để tạo ra văn chương từ những giọng nói riêng biệt và sự đa dạng của sự thật. Tôi nhận giải thưởng đại diện cho sự hòa bình và hòa giải của những cộng đồng tổn thương và sợ hãi. Sự hòa bình cần thiết. Những nhượng bộ cần thiết và những dàn xếp mới. Sự đào thải khuôn mẫu cần thiết. Sự duy trì đối thoại cần thiết. Tôi nhận giải—giải thưởng quốc tế này, được tài trợ bởi một hội chợ sách quốc tế—như một sự kiện tôn vinh, trên tất cả, nền cộng hòa quốc tế văn chương.

Copyright © 2007 by The Estate of Susan Sontag | Bản dịch © 2017 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

2 comments on “Lương tâm của từ ngữ – Susan Sontag

  1. Bà Tám
    February 27, 2017

    Sao bà còn trẻ mà tóc bà bạc lạ thế?

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on February 19, 2017 by in Văn chương & Phê bình, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,416 other followers

%d bloggers like this: