Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Søren Kierkegaard: Diapsalmata


Kierkegaard.jpg

Kierkegaard statue | Photograph by Arne List

Nguồn: Søren Kierkegaard, “Diapsalmata,” in Either/Or, ed. Victor Eremita, 1843, trans. David F. Swenson and Lillian Marvin Swenson (Princeton University Press, 1959).

Diapsalmata

Nhà thơ là gì? Một gã bất hạnh giấu trong tim nỗi đau sâu thẳm, nhưng có đôi môi khéo đến mức những tiếng thở dài và rên rỉ đi qua sẽ nghe như tiếng nhạc đẹp đẽ. Số phận của gã giống như của những kẻ bất hạnh từ từ bị một ngọn lửa dịu dàng thiêu chín trong con bò của bạo chúa Phalaris—tiếng thét của họ không thể chạm đến tai hắn để làm hắn sợ, với hắn nó nghe như tiếng nhạc ngọt ngào. Và người ta dồn về nhà thơ và bảo: hát nữa đi; nghĩa là, cầu cho những đau khổ mới tra tấn hồn ngươi, và: cầu cho đôi môi ngươi vẫn khéo như trước, vì tiếng hét của ngươi chỉ làm chúng ta sợ, nhưng nhạc của ngươi dễ chịu. Và các phê bình tham gia, nói: làm tốt lắm, đúng như những quy luật thẩm mỹ. Chắc chắn, nhà phê bình giống nhà thơ như đúc, khác biệt duy nhất là hắn không có nỗi đau trong tim và không có âm nhạc trên môi. Nên tôi thà làm người chăn lợn trên đảo Amager mà được lợn hiểu, hơn làm nhà thơ mà bị người hiểu sai.

Ngoài nhiều người quen khác tôi còn một người bạn thân nữa—nỗi sầu của tôi. Giữa niềm vui, giữa công việc, hắn vẫy tôi, gọi tôi sang, dù tôi vẫn hiện diện về mặt thể xác. Nỗi sầu của tôi là người tình chân thành nhất mà tôi có—chẳng lạ gì khi tôi đáp lại tình yêu ấy!

Trong tất cả những điều ngớ ngẩn ngớ ngẩn nhất mà tôi thấy là việc bận rộn—là một con người tối mắt tối mũi với đồ ăn và công việc của mình. Bởi vậy, bất cứ khi nào thấy một con ruồi đang đậu, trong thời khắc quyết định, trên mũi một con người của công việc như thế; hoặc nếu hắn bị bùn bắn tung vào người từ một chiếc xe ngựa đang vội vã hơn đi qua; hoặc cây cầu kéo cất lên trước mặt hắn; hoặc một viên gạch rơi xuống và giết hắn, tôi đều cười khoái chá. Mà nói thật, ai mà nhịn được cười? Tôi tự hỏi, những kẻ bận rộn ấy làm được gì? Chẳng phải họ được xếp cùng nhóm với người đàn bà trong cơn hoảng loạn về ngôi nhà cháy lại mang ra ngoài cái que cời hay sao? Bạn nghĩ thứ gì quan trọng hơn mà họ sẽ cứu khỏi cơn đại hỏa hoạn của cuộc đời?

Cứ để những người khác than rằng thời đại này xấu xa. Tôi than rằng nó nhỏ mọn; vì nó không có dục vọng. Ý nghĩ của con người mỏng manh như đăng ten, và bản thân họ cũng mềm yếu như những cô gái may đăng ten. Ý nghĩ của trái tim họ quá nhỏ để mang tội lỗi. Với một con giun có thể cho việc chứa đựng những ý nghĩ như của họ là tội lỗi, nhưng với một con người được tạo ra theo hình ảnh Chúa thì không. Ham muốn của họ trầm và chậm, dục vọng của họ uể oải; họ làm nhiệm vụ của họ, nhưng cho phép mình, giống người Do Thái, xén đồng xu chỉ một chút, nghĩ dù Chúa của chúng ta có để mắt cẩn thận đến mấy người ta vẫn có thể an toàn mà mạo hiểm lừa ngài chút đỉnh. Tội nghiệp họ! Bởi vậy mà linh hồn tôi luôn trở về với Cựu ước và Shakespeare. Ở đó ít nhất người ta cảm thấy mình nói chuyện với con người; ở đó người ta ghét và yêu, ở đó người ta giết kẻ thù và nguyền rủa con cháu mình qua mọi thế hệ—ở đó người ta tội lỗi.

Giống như, theo truyền thuyết Parmeniscus ở hang của Trophonius đã đánh mất khả năng cười, nhưng tìm lại được nó trên đảo Delos trước một khối vô hình dạng được bày ra như hình ảnh của nữ thần Leto: chuyện với tôi cũng thế. Khi còn trẻ ở hang của Trophonius tôi đã quên mất cách cười; nhưng khi lớn lên và mở mắt nhìn ngắm thế giới thực, tôi phải cười, và đã không ngừng cười kể từ đó. Tôi thấy ý nghĩa của cuộc đời là kiếm sống; mục đích của nó là trở thành Chánh án; thấy niềm vui của tình yêu cốt ở việc kết hôn với một người phụ nữ dư dả; thấy phước lành của tình bạn là giúp đỡ nhau trong khó khăn tiền bạc; thấy trí tuệ là cái mà hầu hết mọi người cho là trí tuệ; thấy việc đưa ra một phát biểu, can đảm, mạo hiểm bị phạt mười đồng cho thấy sự nhiệt tình; thấy việc nói “Chúc ngon miệng” sau bữa ăn là chân tình; thấy việc tham gia nhóm đạo một năm một lần cho thấy lòng mộ đạo. Thấy thế và cười.

Một điều kỳ lạ đã xảy ra với tôi trong giấc mơ. Tôi được đưa đến Thiên đường thứ bảy. Ở đó các vị thần ngồi tụ họp. Tôi được ban cho một điều ước, như một món quà đặc biệt. “Ngươi muốn tuổi trẻ,” thần Mercury hỏi, “hay sắc đẹp, hay quyền lực, hay trường thọ; hay ngươi muốn người đàn bà đẹp nhất, hay bất cứ điều gì trong những điều đẹp đẽ khác mà chúng ta có trong kho báu của mình? Chọn đi, nhưng chỉ một!” Trong một khoảnh khắc tôi đã không nói nên lời. Rồi tôi nói với các vị thần lời khôn ngoan này: “Hỡi những người cùng thời đáng kính nhất, tôi chọn một điều—đó là tôi luôn luôn có những tiếng cười đứng về phía mình.” Không một vị thần nào trả lời, nhưng tất cả đều bắt đầu cười. Từ đây tôi kết luận rằng mình đã được ban cho điều ước ấy và nghĩ các vị thần biết cách thể hiện mình một cách tế nhị: vì chắc chắn trả lời một cách nghiêm túc thì không phù hợp: điều ước của ngươi đã được ban.

This work is in public domain. | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on March 8, 2017 by in Tiểu luận and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: