Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Khi luật pháp không phải là công lý


Out of the Darkness, the Lord Gave Us Light.jpg

Out of the Darkness, the Lord Gave Us Light, 2003 | Thornton Dial, Collection of The Metropolitan Museum of Art

When Law Is Not Justice,” The New York Times, July 13, 2016.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

Đây là bài thứ sáu trong chuỗi đối thoại với các triết gia và các lý thuyết gia phê phán về vấn đề bạo lực. Cuộc trò chuyện lần này là với Gayatri Chakravorty Spivak, giáo sư nhân văn học tại Đại học Columbia. Bà là tác giả cuốn An Aesthetic Education in the Era of Globalization, cùng các cuốn sách khác.

Brad Evans: Trong các tác phẩm của mình, bà đã viết về những điều kiện mà nhóm người thiệt thòi trên toàn cầu phải đối mặt, đáng chú ý là ở những nơi như Ấn Độ, Trung Quốc, và châu Phi. Chúng ta có thể dùng triết học như thế nào để hiểu rõ hơn về các loại hình bạo lực bùng phát từ hoàn cảnh của nhóm người bị gạt ra ngoài lề trên thế giới ngày nay?

Gayatri Chakravorty Spivak: Dù bạo lực không phải là không thể đặt tên và chẩn đoán, nó vẫn làm dấy lên nhiều vấn đề thách thức cùng lúc. Tôi là người theo chủ nghĩa hòa bình. Tôi thực sự tin vào sức mạnh của bất bạo động. Nhưng chúng ta không thể dứt khoát phủ nhận quyền phản kháng bạo lực bằng bạo lực của một dân tộc, ngay cả trong những hoàn cảnh nhất định. Đôi khi tình hình trở nên không thể chấp nhận được đến mức những sự chắc chắn về mặt đạo đức đã không còn ý nghĩa. Ở đây có một sự khác biệt giữa việc chấp nhận một phản ứng như vậy với việc cố gắng hiểu tại sao việc dùng đến bạo lực là không thể tránh khỏi.

Khi con người bị đánh giá không bằng người, bạo lực bắt đầu xuất hiện như phản ứng duy nhất. Khi một nhóm người coi một nhóm khác là thấp kém hơn, họ đang nói rằng nhóm người “hạ đẳng” không thể suy nghĩ một cách “hợp lý.” Cần nhớ đây là một sự xâm phạm trí tuệ, và trên thực tế quyền lao động thủ công của nhóm bị áp bức không phải là thứ mà họ nhất thiết bị phủ nhận. Trên thực tế, nhóm bị áp bức thường bị buộc phải đảm nhận phần lớn lao động thể chất cần thiết của xã hội. Do đó, không phải người ta bị phủ nhận tác lực (agency); mà đúng hơn là một dạng tác lực vô lý hoặc tàn nhẫn bị áp đặt lên họ. Và sức mạnh cố hữu trong tác lực thể chất này cuối cùng lại đe dọa chính những kẻ áp bức. Về phần mình, nhóm bị áp bức chỉ còn lại một căn tính khả dĩ, đó là căn tính bạo lực. Nó trở thành chính trị của họ và chiếm đoạt trí tuệ của họ.

Điều này trực tiếp đưa chúng ta đến vấn đề bạo lực “hợp lý” so với bạo lực “vô lý.” Khi đối phó với bạo lực bị cho là vô lý, các nhóm thống trị sẽ ác quỷ hóa các phản ứng bạo lực, nói rằng “những người kia chỉ đến thế mà thôi,” rằng họ không chỉ có giá trị thấp kém hơn, mà họ về cơ bản còn là ác, về cơ bản là tội phạm, hay về cơ bản là theo một tôn giáo có xu hướng giết chóc.

Thế nhưng, ở mặt còn lại, bạo lực được nhà nước chính danh hóa, được nhiều người xem là bạo lực “hợp lý,” lại đáng sợ hơn rất nhiều. Loại bạo lực như vậy cho rằng nếu một người mặc một kiểu quần áo nhất định hoặc có một gốc gác đặc biệt nào đó, họ có thể bị giết một cách hợp pháp. Bạo lực như vậy đáng báo động hơn, vì nó liên tục được biện minh bởi những người cầm quyền.

B.E.: Có ít nhất một số cuộc phản kháng bạo lực trong thế kỷ 20 là gắn liền với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, dù là chống thực dân hay (phổ biến hơn ở châu Âu) là chống phát xít. Liệu có một cái nhìn mới nào đó cần thiết để nhận ra các lực lượng thống trị và bóc lột được tách ra khỏi các nhà nước dân tộc nhưng lại thường được lý giải như là một sự trở về với chủ nghĩa địa phương và sắc tộc hay không?

G.C.S.: Đây là một vấn đề phức tạp hòi hỏi tư duy triết học nghiêm túc. Tôi vừa trở về từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới, và cách hiểu của họ về quyền lực và phản kháng rất khác cách hiểu của một nhóm người như người Hồi giáo Rohingya sống ở bờ biển miền Tây Myanmar; dù cả hai đều gắn chặt vào các hệ thống quyền lực và ảnh hưởng toàn cầu, dù là từ các phía đối diện. Người Rohingya là nạn nhân của một cuộc diệt chủng từ từ như mô tả của Maung Zarni, Amartya Sen, và những người khác. Điều này phá vỡ cách hiểu Đông phương chủ nghĩa về Phật giáo như một tôn giáo mãiyêu chuộng hòa bình. Ngày nay, chúng ta thấy các Phật tử ờ Thái Lan, Sri Lanka, và Myanmar tham gia vào bạo lực được nhà nước phê chuẩn đối với các nhóm thiểu số.

Thực tế là khi người phát ngôn ủng hộ dân chủ Aung San Suu Kyi bị quản thúc tại gia, bà có thể can đảm hành động chống lại hành vi áp bức của chính phủ quân sự. Nhưng khi đã được thả và muốn đảm bảo và duy trì quyền lực, bà đã trở nên phần lớn là im lặng về tình cảnh của những con người này và đứng về phe đa số, phe tiếp tục tiến hành bạo lực với các nhóm thiểu số không theo Phật giáo. Một trường phái tư tưởng cho rằng để đem lại dân chủ trong tương lai, lúc này bà phải ủng hộ đảng đa số. Tôi muốn tin bà Aung San Suu Kyi. Nhưng khi đảng đa số là đảng diệt chủng, cần phải giải quyết vấn đề này. Đứng về phía họ sẽ không thể nào đem lại dân chủ.

Tuy nhiên, thay vì rút lui về nền chính trị bản sắc tập trung, phản kháng trong bối cảnh này có nghĩa là kết nối tình cảnh của người Rohingya với các cuộc đấu tranh toàn cầu, bối cảnh của các cuộc đấu tranh đó là cần thiết để giải quyết bất cứ hoàn cảnh cụ thể nào khác. Các cuộc đấu tranh cũ, mang tính dân tộc, dựa trên bản sắc như anh nhắc đến ở trên không còn thuyết phục như trước trong một thế giới toàn cầu hóa. Tất cả những điều này đặc biệt có liên quan khi Myanmar thành lập sàn giao dịch chứng khoán đầu tiên và chuẩn bị bước vào hệ thống tư bản toàn cầu.

Trong quá trình toàn cầu hóa như vậy, khi các quốc gia dân tộc đang làm việc vì lợi ích của vốn toàn cầu thì dân chủ lại bị thu nhỏ thành việc đếm phiếu, điều này thường làm khó cho các đánh giá có học thức. Nhà nước bị mắc kẹt trong những đòi hỏi về vốn tài chính. Phản kháng phải biết về điều tiết tài chính để có thể chỉ huy nó. Đây là cuộc phản kháng không đổ máu, và nó phải được học. Chúng ta phải rút ra hiểu biết về các hệ thống toàn cầu hóa dường như trừu tượng này để có thể thách thức bạo lực xã hội của chủ nghĩa tư bản không được điều tiết.

B.E.: Hàm ý là gì khi việc thúc đẩy các quyền con người được để lại cho những người mà bà gọi là các “ông bầu tự bổ nhiệm” và các nhà từ thiện, từ các cá nhân như Bill Gates đến các tổ chức như Ngân hàng Thế giới, những người có một quan niệm rất riêng về các quyền và “pháp quyền”?

G.C.S.: Tức là có luật pháp, nhưng luật pháp không phải là công lý.

Việc thông qua một đạo luật và bằng chứng về sự tồn tại của nó là chưa đủ để đảm bảo phản kháng có hiệu quả với áp bức. Một số trong số các sự xâm phạm quyền nghiêm trọng nhất diễn ra trong các khuôn khổ pháp lý. Và nếu đạo luật đó quản trị một xã hội chưa bao giờ được rèn giũa trong cái mà Michel Foucault gọi là “thực hành tự do,” thì nó sẽ chỉ được thi hành bằng vũ lực, và những xã hội bị ép buộc như vậy sẽ tìm những lỗ hổng ngày một tốt hơn để lách qua.

Đó là lý do vì sao “trực giác” của nền dân chủ rất quan trọng khi đối xử với nhóm người nghèo nhất trong nhóm người nghèo, những người đã tin rằng sự khốn khổ của họ là bình thường. Và khi đến lúc phải chết đói, họ chỉ thắt chặt những cái thắt lưng không tồn tại của mình vào và phải chịu đựng đau khổ, chấp nhận như là định mệnh trong im lặng. Nó không chỉ là những đứa trẻ chơi với những viên đá trên phố. Nó kiểm soát mọi khía cạnh của sự tồn tại của con người. Vậy mà những người này vẫn làm việc, trong cái nóng hầm hập, cho những chủ đất giàu có mà nhận được rất ít hoặc gần như không có gì. Đây là một loại nghèo đói khác.

Trong khi đó, chúng ta còn có kiểu lãng mạn hóa nghèo đói ở đô thị của cá nhà từ thiện và các cơ quan viện trợ giàu có hơn. Luôn luôn có một niềm say mê với hình ảnh hoàn hảo về quan niệm nghèo đói; trẻ em chơi trong cống rãnh lộ thiên các thứ. Dĩ nhiên, những cuộc đời như vậy là bằng chứng về sự bất công xã hội trầm trọng. Nhưng kiểu từ thiện từ trên xuống, mà không quan tâm đến một nền giáo dục tu dưỡng tâm hồn, là phản tác dụng, một sự đảm bảo rằng sẽ không có phản kháng trong tương lai, mà chỉ đem lại danh tiếng tức thời cho nhà từ thiện.

Tôi nói các ông bầu “tự bổ nhiệm” là vì thường thì không có hoặc có rất ít quy định áp đặt lên người làm việc trong khu vực phi chính phủ. Cùng lắm họ là những công nhân tạm thời gánh vác trách nhiệm cho một nhà nước tân tự do mà các đặc tính của nó không thể mạnh về tái phân phối, và nơi mà sự phản kháng hợp hiến mang tính cấu trúc của công dân không thể hiệu quả khi đối mặt với một nền “pháp quyền” không được ủy quyền đang vận hành, một lần nữa, để bảo vệ hiệu quả tăng trưởng vốn toàn cầu. Vận động nhân quyền can thiệp để làm bẽ mặt nhà nước, và phục hồi các quyền này bằng các cách thức tạm thời. Nhưng sau đó lại không có sự nối tiếp dân chủ, và các tổ chức này hiếm khi nán lại đủ lâu để thấy được điều đó.

Một vấn đề nữa đối với các tổ chức này là cái cách họ nhấn mạnh năng suất xã hội của chủ nghĩa tư bản mà không đề cập đến nhu cầu nhất quán của tư bản là duy trì bản thân với cái giá là cắt xén quyền của một số khu vực dân cư. Điều này về bản chất là sự loại bỏ quyền tiếp cận các cấu trúc bồi hoàn: sự biến mất của nhà nước phúc lợi, hoặc là nó không bao giờ xuất hiện.

Nếu nhìn sang “phát triển,” chúng ta thường thấy là cái được duy trì bền vững trong phát triển bền vững là sự hiệu quả về chi phí và sự tối đa hóa lợi nhuận, với hành động tối thiểu cần thiết về trách nhiệm môi trường. Chúng ta có thể gọi hiện tượng đó là “kém phát triển bền vững.”

Ngày nay mọi thứ đều là về đô thị hóa, nghiên cứu đô thị, các mối quan tâm vùng đô thị, các xã hội mạng lưới (network societies), vân vân. Không ai trong giới chính sách nói về vốn hóa đất đai và điều này thì liên quan như thế nào đến việc tước đoạt quyền của người dân. Đây là một đề tài nữa mà bất cứ cân nhắc nào về bạo lực cũng phải tính đến.

B.E.: Trong khi thể hiện sự đánh giá cao đối với một số nhà tư tưởng được biết đến với những can thiệp mang tính cách mạng của họ, như Frantz Fanon, bà cũng phê phán những giới hạn trong tác phẩm của họ về các vấn đề về giới và giải phóng phụ nữ. Tại sao?

G.C.S.: Tôi bảo lưu phê phán của mình về Fanon, nhưng ở đây không chỉ có riêng ông ấy. Trên thực tế ông ấy giống như hầu hết những người đàn ông khác nói về cuộc đấu tranh cách mạng. Cuộc đấu tranh nữ quyền không thể học hỏi được từ họ. Tuy nhiên, trong cuốn A Dying Colonialism, Fanon đã thực sự cố gắng từ bên trong để hiểu được vị trí của phụ nữ bằng cách đặt câu hỏi về những cấu trúc mang tính gia trưởng của sự thống trị.

Sau cách mạng, ở Algeria hậu thuộc địa và những nơi khác, những phụ nữ tham gia đấu tranh phải tách mình ra khỏi các tổ chức giải phóng cách mạng đang điều hành nhà nước để tiếp tục đấu tranh cho các quyền của mình theo các sáng kiến riêng rẽ. Phái tính lớn hơn và lâu đời hơn sự hình thành nhà nước, và cuộc đấu tranh của nó lâu đời hơn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hay cuộc chiến giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Do vậy chúng ta phải để những câu hỏi về giới làm gián đoạn những ý tưởng cách mạng này, nếu không cách mạng sẽ chỉ đơn giản là thực hiện lại những sự phân chia rất rõ ràng về giới trong các xã hội.

B.E.: Rõ ràng bà theo đuổi sức mạnh của giáo dục dựa trên những thực hành mỹ học, nhưng lại muốn thách thức những ý tưởng mỹ học điển phạm phương Tây mà chúng bắt nguồn từ đó qua những khái niệm “chủ nghĩa hành động tưởng tượng” (imaginative activism) và “sự phá hoại tích cực” (affirmative sabotage) của mình. Tại sao lại có thể như vậy?

G.C.S.: Chủ nghĩa hành động tưởng tượng cố gắng hình dung ra một văn bản—hiểu như một mạng lưới sợi dệt thay vì theo nghĩa hẹp là một trang giấy in—cũng có những đòi hỏi và đặc quyền của riêng nó. Đây là lý do tại sao văn chương quan trọng đến thế. Việc dạy văn đơn giản nhất là nắm bắt tầm nhìn của nhà văn. Điều này bị phá vỡ trong những năm 1960 bởi mối quan tâm vô lý là “Cuốn sách này thì có liên quan gì đến tôi?”, thể hiện một cuộc tấn công rất lớn vào văn chương, một sự tự luyến tập thể rất lớn. Để văn chương có ý nghĩa thì nó không nhất thiết phải có sự liên quan rõ ràng. Đó là thách thức mỹ học, tưởng tượng cái không lập tức rõ ràng. Điều này có thể chống lại cái ẩn chứa trong nền dân chủ có các khối bầu cử. Liên quan đến tôi, thay vì đủ linh hoạt để hoạt động vì những người khác không hề giống tôi. Thách thức cố hữu của dân chủ—cần một khối cử tri có học thức, chứ không phải chỉ có thông tin.

Tôi dùng từ “sự phá hoại tích cực” để đánh bóng ý nghĩa thông thường của phá hoại: sự cố ý hủy hoại cỗ máy của ông chủ từ bên trong. Sự phá hoại tích cực không chỉ hủy hoại; ý tưởng ở đây là bước vào cái diễn ngôn mà bạn đang hoàn toàn chỉ trích, để bạn có thể đảo lộn nó từ bên trong. Cách duy nhất thực tế và hiệu quả mà bạn có thể phá hoại một thứ gì đó theo cách này là khi bạn làm việc gần gũi bên trong nó.

Điều này đặc biệt đúng với các công cụ trí thức đế quốc, được phát triển không chỉ trên vai những người khổng lồ, mà còn cả trên lưng người dân trong hàng thế kỷ. Hãy lấy điều mà Immanuel Kant nói khi xây dựng cuốn Critique of Aesthetic Judgment làm ví dụ cuối cùng. Kant không chỉ nhấn mạnh chúng ta phải tưởng tượng ra một người khác, mà còn nhấn mạnh nhu cầu nội hóa nó đến mức suy nghĩ và cảm nhận với người khác ấy trở thành một điều tự nhiên.

Bỏ qua thực tế là Kant không nói về nô lệ trong cuốn sách, ông thậm chí còn nói rằng phụ nữ và đầy tớ trong nhà không có năng lực tưởng tượng công dân [civic imagination, năng lực tưởng tượng những sự thay đổi đối với hoàn cảnh xã hội, chính trị, và kinh tế hiện tại, theo định nghĩa của Henry Jenkins], cái khiến họ có năng lực tư duy thế giới. Nhưng nếu thực sự nghĩ về nó, ta sẽ thấy phụ nữ và đầy tớ trong nhà chính là những người thực ra được huấn luyện để suy nghĩ và cảm nhận giống như ông chủ của họ. Họ liên tục phải xỏ chân vào đôi giày của ông chủ, để bước vào suy nghĩ và ước muốn của mình đến mức với họ phục vụ trở thành một điều tự nhiên.

Người ta phá hủy là như thế. Anh chấp nhận sự xuất sắc không thể tin nổi và không bao giờ ngớt trong tác phẩm của Kant, trong khi đối đầu với những tính chất đế quốc mà ông tạo ra và cho thấy những mâu thuẫn trong tác phẩm này. Về cơ bản, đó là xốc triết học bằng một dịp kiểm tra thực tế. Đó là hỏi, ví dụ, cái sự trở nên tự nhiên của phụ nữ, đầy tớ, và những người khác có thể được thực hiện mà không có sự cưỡng ép, ràng buộc, và tẩy não hay không. Và, khi chủng tộc hoặc giai cấp cầm quyền tuyên bố họ có quyền làm như vậy, có vấn đề nào về quyền lực bị làm ngơ trong sự nhân từ mà họ tự nhận hay không? Sự phản kháng có học thức trông sẽ ra sao trong trường hợp này? Nó sẽ là một phát đạn lép, vì xã hội chưa sẵn sàng. Vì lý do đó, người ta phải tiếp tục làm việc—nói như Marx—vì khả năng có được những điều đẹp đẽ trong tương lai.

Brad Evans, giảng viên về bạo lực chính trị tại Đại học Bristol, Anh Quốc, là giám đốc sáng lập dự án Histories of Violence, với mục đích phê bình về vấn đề bạo lực trong thế kỷ 21. Ông là tác giả cuốn Disposable Futures: The Seduction of Violence in the Age of Spectacle, cùng Henry A. Giroux, và Resilient Life: The Art of Living Dangerously, cùng Julian Reid.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on May 29, 2017 by in Chính trị and tagged , .

Archives

Categories

%d bloggers like this: