Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Không qua khám xét” – Edwidge Danticat


without inspection

Illustration by Sébastien Plassard for The New Yorker

Edwidge Danticat sinh năm 1969 ở Port-au-Prince, Haiti. Cô chuyển đến Mỹ năm mười hai tuổi và tốt nghiệp chương trình MFA về sáng tác văn chương tại Đại học Brown năm 1993. Cô được trao giải truyện ngắn Story Prize năm 2005, giải tự truyện/hồi ký của Hiệp hội Phê bình Sách Quốc gia Mỹ năm 2007, và giải văn chương quốc tế Neustadt năm 2018.

Truyện ngắn “Without Inspection” được đăng trên tạp chí The New Yorker (May 14, 2018 Issue).

Không qua khám xét

Arnold mất sáu giây rưỡi để rơi hết một trăm năm mươi mét. Trong thời gian ấy, hình ảnh của con trai anh, Paris, lóe lên trước mắt anh: Paris, mặc sơ mi đồng phục trường màu đỏ và quần kaki ngày tốt nghiệp mẫu giáo. Sáng hôm ấy, mẹ Paris, Darline, vừa cuống cuồng khắp căn hộ vừa thay quần áo, như thể cô mới là người sắp tốt nghiệp. Nhắm chặt mắt trong lúc luồng gió nóng mà anh đang lao qua đập vào mặt, Arnold thấy Paris ở buổi lễ trong lớp. Anh cũng thấy mình đang đứng cạnh Darline, cuối cùng chọn một chiếc váy phồng satin màu ngọc bích. Anh mặc bộ com lê đen mà anh mặc đến mọi dịp, đến đám cưới và đến đám tang.

Một lý do để không sở hữu quá nhiều đồ đạc là căn hộ hai phòng ngủ chật chội của họ, nhưng còn một lý do khác, ít nhất là với anh, liên quan đến việc anh không muốn cảm thấy bị bó buộc. Gắn bó với vài người thôi thì ổn—với Paris và với Darline, người với anh là một phần như máu mủ—nhưng anh không bao giờ muốn bị trói buộc vào đồ vật, vào quần áo và giày dép bám bụi trong tủ đồ chật ních, vào một chiếc xe màu mè đòi hỏi những khoản thanh toán khổng lồ mỗi tháng. Không, tự do thì đơn giản hơn. Tự do như cú rơi này, cú rơi mà anh không định trước hay được lựa chọn, cú lao mình bắt đầu bằng việc chân trái anh trượt ra khỏi giàn giáo và người anh tuột khỏi sợi dây đai an toàn không lỏng cũng không hỏng, như thể một bàn tay phẫn nộ đã giật dây đai ra khỏi người anh, đẩy anh nghiêng sang một bên, và quăng anh xuống không trung. Rồi cơ thể anh, cố gắng lấy lại chút kiểm soát, đã sửa góc độ mà anh bắt đầu rơi, để bây giờ anh đang lao thẳng đầu xuống đất, chưa phải bê tông mà là đất sỏi, nơi cỏ dại, cây, và hoa đã được nhổ bỏ để nhường chỗ cho một tòa khách sạn bốn mươi tám tầng.

Anh vẫn đang rơi, nhanh hơn theo từng giây. Cơn gió ngày càng có cảm giác kháng cự, mỗi đợt là một lớp mạng cứng màu xanh để xuyên qua, ngay cả khi mặt đất dâng lên để gặp anh. Cơ thể anh lướt về bên trái và ngay bên dưới là một trống trộn bê tông lộ thiên, gắn với một chiếc xe tải, loại mà với anh trông lúc nào cũng giống một con tàu vũ trụ.

Anh đã nhìn xuống cái xe bê tông mấy tiếng trước, trong lúc ngồi ăn sáng trên bục giàn giáo. Darline muốn anh ăn ở nhà cùng cô và Paris, nhưng lúc nào anh cũng vội, trừ những ngày thứ Bảy và Chủ nhật hiếm hoi mà cả hai không phải đi làm. Trong tuần, anh đưa cô đến nhà hàng Haiti mà cô làm đầu bếp, rồi thả Paris ở trường. Khi đến công trường, anh chỉ có vài phút để mua bánh pastry ổi và một cốc cà phê từ xe tải bán hàng của anh em nhà Lopez.

Anh em nhà Lopez thật là biết làm ăn. Họ đến đây mới năm năm trước từ Cojimar trên chiếc bè làm bằng một con Chevy từ những năm năm mươi hoán cải, giờ nhìn họ mà xem. Chuyện bè của anh em nhà Lopez, mà có lần anh nghe họ kể cho một người Cuba khác, trong lúc anh chờ đồ ăn, nhắc anh nhớ lại cuộc đổ bộ của mình, nó, ồ, rất khác cuộc đổ bộ của họ.

*

Darline là người duy nhất ngồi trên bãi biển dưới ánh sáng trước bình minh buổi sáng mà anh cùng chín người đàn ông và bốn người đàn bà khác bị thả xuống giữa biển và thuyền trưởng bảo họ bơi vào bờ. Biển sáng ấy tương đối êm đềm. Đến gần bờ biển hơn, Arnold nhận ra được những tòa nhà chọc trời phía sau cô.

Cả bốn người đàn bà đều chết chìm. Họ không bơi nổi. Xác của họ có thể rồi cuối cùng cũng sẽ dạt vào bờ, giống như anh, chỉ khác là anh còn sống. Một số người đàn ông đi cùng thuyền với anh cũng sống. Họ nằm trên bãi biển và cố thuyết phục bản thân, bằng cách sục gót chân và ngón chân vào cát, rằng họ không còn di chuyển. Còn anh thì chỉ ngồi đó nhìn cô. Anh không muốn bước đến chỗ cô và làm cô sợ. Người anh bốc mùi, và anh chắc chắn bộ râu lởm chởm mọc trên hành trình của anh trông có vẻ đầy hăm dọa. Cô nhìn lại anh chằm chằm. Rồi anh nghe thấy tiếng còi hú và anh bắt đầu cầu xin.

Ede m”—“giúp tôi”—anh mở miệng. Anh không muốn bị giam giữ hay bị trục xuất. Anh muốn ở lại. Anh cần ở lại, và anh đang hy vọng được ở lại cùng cô. Cô có thể là bất cứ ai—bất cứ ai tình cờ có mặt trên bãi biển buổi sáng hôm ấy và sẵn lòng giúp anh. Nhưng anh mừng vì đấy là cô. Chẳng biết vì sao, cảm giác cứ như họ có một cuộc hẹn, mà ai đặt thì cả hai không ai biết.

Tiếng còi làm cô giật mình, cô đứng dậy và tiến đến khoác lấy cánh tay anh, để nếu cảnh sát có đến lúc họ đang đi cùng nhau thì họ có thể sẽ cùng bị bắt hoặc cùng được bỏ qua, nhưng dù chuyện gì có xảy ra với người này thì chắc chắn cũng xảy đến với người kia—bởi vì với bất cứ ai nhìn theo thì trông họ cũng giống như một cặp đôi, với một người ướt sũng.

Trong lúc họ đi về bãi đậu xe, bỏ lại đó những người đàn ông kia, vẫn choáng váng và bối rối đằng sau họ, anh nghe thấy mấy người cất tiếng gọi cô, nhưng cô không nhìn lại. Anh đi theo cô và cũng không nhìn lại, ngay cả khi một số người họ gọi hẳn tên anh.

Một người hét, “Vợ mày đang ở đây đợi mày, hả?”

Một người khác, “Làm ơn đừng bỏ chúng tôi lại.”

Hai người họ cố gắng đi theo, nhưng rồi nhanh chóng bỏ cuộc. Darline đi quá nhanh, còn những người đàn ông kia thì mệt. Anh đáng lẽ cũng tụt lại đằng sau nếu như cô không đỡ. Cô nghiêng người và nói khẽ, “An n ale, an n ale”—“Đi thôi”—và tăng tốc.

*

Chiếc xe nhỏ màu trắng của cô phủ đầy vết lõm và xước. Anh quên là mình vẫn ướt cho đến khi cô đưa cho anh cái khăn mà cô ngồi lên trên bãi biển. Anh giũ cát trước khi trải nó lên ghế phụ.

“Anh mà ở lại đó, họ sẽ đưa anh đến Krome,” cô nói.

Anh không biết Krome là cái gì hay ở đâu.

“Đó là nhà tù cho những người như ta,” cô nói.

Ta? Cô nói ta là có ý gì? Có phải đây là cách của cô để nói với anh rằng cô cũng đến bằng thuyền? Hay là cô từng bị giam ở cái nơi ấy, Krome?

Anh muốn hỏi cô cả chục câu hỏi. Anh muốn biết vì sao cô chọn anh. Vì sao lại cứu anh mà không phải là những người khác? Ít nhất ba người nữa cũng ngồi vừa ghế sau. Nhưng, hơn cả tò mò, anh khát. Vô cùng khát. Cũng như lúc này đây, trong lúc anh đang rơi.

Anh đã học được, trong lúc ở trên biển, rằng thời gian có thể kéo dài vô tận và gió và không khí có thể rút cạn ta, buộc ta thấy những thứ không có thật. Được nửa chuyến đi từ Port-de-Paix, ở bờ biển miền Bắc Haiti, thì họ hết nước sạch và buộc phải uống nước biển hoặc nước tiểu. Một chuyến đi dự tính mất hai ngày trên thực tế đã mất đến bốn, vì thuyền trưởng phải thay đổi hành trình, thậm chí một lần phải đổi xuồng máy, để tránh đụng độ với Tuần duyên Hoa Kỳ.

Trước khi anh kịp hỏi xin nước, cô đã với xuống ghế sau và đưa cho anh một chai từ một lốc hơn một tá. Giá cảnh sát không đến, với trực thăng, tàu tuần dương, xe cứu thương, và chó, anh đã có thể lấy chút nước đem đến cho những người mà anh bỏ lại trên bờ biển.

Loại cảnh khuyển mà anh nghe thấy sủa, cô bảo, là chó tìm xác. Chúng được thả ra trên bãi biển để tìm xác chết có thể khuất khỏi tầm nhìn, bởi vì cứ một người đến được bờ biển thì có lẽ có năm người khác chết. Sao anh không lội lại xuống biển để cứu những người khác? Hay ít nhất là kéo mấy cái xác lên? Cơn đói khát của anh, sự yếu đuối nơi đôi chân anh, khiến anh sợ chết chìm nếu lại đi xuống đó; nỗi sợ bị bắt đã làm anh phát điên, hay ích kỷ.

Anh uống vội đến nỗi suýt sặc. Cô cầm cái chai rỗng và lấy cho anh thêm một chai đầy. Anh uống cả chỗ nước ấy luôn.

“Tôi đưa anh đến đâu được?” cô hỏi anh.

Đây là một dịch vụ mà cô cung cấp, anh nhận ra. Cô là một tài xế tự nguyện cho các thuyền nhân. Sau này, cô bảo anh cô đã làm thế cho mười bảy người khác, có cả phụ nữ và trẻ em.

Giờ thì anh cảm thấy có lỗi gấp đôi với những người mà anh bỏ lại đằng sau, những người đàn ông và đàn bà mà anh gần như không quen khi họ lên đường từ Port-de-Paix, nhưng anh đã làm quen trong chuyến đi, khi người này nhìn người kia nhớ nhà và say sóng, co rúm lại thành lớp da cháy nắng và những khúc xương lồi qua đêm. Những người sống sót khác bây giờ sẽ phải đối mặt với nỗi đau của riêng họ cảnh sát di trú. Hầu hết, nếu không phải là tất cả bọn họ, sẽ bị gửi trả về. Cô đã cứu thoát anh khỏi chuyện đó.

Ou grangou?” cô hỏi, một lần nữa chỗ nước cô đưa anh đã pha loãng toàn bộ chỗ nước muối trong dạ dày anh.

Trước khi anh kịp trả lời, cô đã đáp xe vào một cửa hàng ăn nhanh và gọi cho anh hai túi đồ ăn. Dù đây là thứ đầu tiên anh ăn ở đất nước này, anh không bao giờ có thể thưởng thức được burrito cho bữa sáng nữa. Anh ăn sáu cái, rồi nôn hết trong phòng nghỉ của quán.

Sau khi anh tắm rửa, họ ngồi trong xe cô trong bãi đậu, cố gắng tính xem làm gì tiếp.

“Tôi chưa bao giờ đưa ai về nhà cả,” cô bảo.

Anh hy vọng thế có nghĩa là đây sẽ là ngoại lệ, bởi vì, khi anh đã ăn xong và không còn khát, anh nhìn lại cô cẩn thận và thấy người cô, cao và có dáng, cũng dễ chịu như gương mặt cô.

“Có một chỗ trú…” Cô lái tiếp mà không nói nốt.

*

Cô đưa anh đến chỗ trú ở một nhà thờ nơi anh gặp một số người như anh, những người đến đây bằng thuyền từ Haiti, Bahamas, và Cuba. Anh đã học tiếng Tây Ban Nha từ những người Dominica mà anh làm quản kho cho họ ở biên giới Bắc Haiti, và học một số cụm từ và thành ngữ từ những người Cuba trú ẩn, những người giúp anh tìm việc ở công trường.

Mấy ngày sau khi cô để anh lại ở nơi trú ẩn, trong lúc vừa chơi domino với những người bạn mới vừa xem một chiếc tivi đặt tựa lên bức tường sau của phòng giải trí thì anh thấy tin tức về một con thuyền lật giữa vùng nước gần quần đảo Turks và Caicos. Mười hai cái xác đã được tìm thấy: bảy đàn ông, năm phụ nữ. Mười người khác vẫn còn đang mất tích.

*

Anh nghĩ mình sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa, nhưng cô ghé qua chỗ trú ẩn không lâu sau khi anh bắt đầu đi làm. Họ ra ngoài sân, nơi có một cái xích đu rỉ sét. Cái xích đu nhắc anh nhớ trẻ con cũng có thể ở lại nơi trú ẩn này, nhưng, ơn trời, bây giờ thì không có đứa nào cả. Bên kia cái xích đu là sân bóng rổ, với một bức tranh tường vẽ người lớn và trẻ con chơi đùa trong một khu rừng nhiệt đới đầy những cây dừa. Họ đứng cạnh nhau bên cái xích đu.

“Tôi có một thằng cu,” cô bảo anh. “Bố nó chết trên biển.”

Trong một thoáng anh đã nghĩ cô và bố thằng bé đã bị tách nhau trước khi anh ta chết trên biển. Nhưng khi mắt cô ngân ngấn nước, anh nhận ra cô cũng ở trên biển cùng với anh ta. Và cô đã nhìn anh ta chết chìm giống như cách mà những người đi cùng Arnold chết chìm.

“Sao cô vào được bờ?” anh hỏi.

“Tôi phải kéo con trai tôi lên bờ,” cô nói.

“Con trai cô tên gì?” anh hỏi.

“Paris,” cô nói, và, trước khi anh kịp trả lời, cô thêm, “Bố nó mơ một ngày được đến đấy.”

Rồi anh hình dung ra bố đứa bé, một người trẻ như anh, không chỉ trốn chạy cảnh khốn cùng mà còn trả lời tiếng gọi của một thành phố xa, nơi anh có cảm giác mình thuộc về. Arnold đã tưởng tượng ra một cuộc sống ở Miami từ khi anh còn nhỏ. Nhiều người ở Port-de-Paix mà anh biết đã đến Bahamas, và một số ít đã đi từ đó đến Miami. Anh cảm thấy một khao khát cháy bỏng với Miami như bố của Paris chắc hẳn đã cảm thấy với thủ đô của nước Pháp.

Tuy thế, cái mà anh không thấy trước ở Miami là sự thừa mứa những câu chuyện như chuyện của anh. Anh cũng không nhận ra là sẽ có những gia đình không nhà cửa ngủ dưới một gầm cầu cách khách sạn sang trọng mà anh đang giúp dựng lên chỉ vài gang. Những đứa trẻ chết nghèo mà anh nghe thấy trên tin tức cũng là một cú sốc đối với anh, những người bị cảnh sát hoặc người khác bắn hạ một cách ngẫu nhiên, trong trường học, trong nhà của họ, trong khi đi trên phố, hay trong khi chơi trong công viên thành phố.

Trời bắt đầu mưa phùn trong khoảnh sân có cái xích đu. Anh nghĩ Darline sẽ chạy vào và anh đã sẵn sàng chạy theo, nhưng cô không nhúc nhích.

“Con cô đâu rồi?” anh hỏi.

“Tôi có bạn ở chỗ làm cũng có một đứa con trai như nó, thỉnh thoảng cô ấy trông hộ tôi. Chúng tôi thay phiên nhau.”

“Một đứa con trai như nó,” ý cô là một đứa con trai không cha, một đứa con mồ côi trên biển? Hay con cô mắc một loại bệnh tật nào đó?

“Nó ốm à?” anh hỏi.

“Nó là đứa đầu tiên ngã xuống nước,” cô nói. “Chắc đầu nó bị ảnh hưởng sao đó.”

Cô đang bày tất cả những khó khăn của đời mình ra cho anh cân nhắc. Cô bảo anh là anh có thể đi hoặc ở lại. Anh muốn ở lại.

Cô nhấn mình xuống một cái ghế đu và cố đẩy nó đi. Anh lắng nghe tiếng kim loại kêu cót két bên trên cô. Cô đung đưa vài lần, rồi sục giày xuống đất để ghìm lại. Khi chân cô đã đặt vững vàng trên mặt đất, anh cúi xuống hôn cô.

Họ đi vào nhà, và anh bảo cô đợi trong cái hành lang hẹp và tối trong lúc anh đi vào căn phòng mà anh ở cùng ba người đàn ông khác và gấp cho con trai cô một cái máy bay giấy. Đó là thứ đồ chơi duy nhất mà anh có hồi nhỏ. Lúc nào tìm được một mẩu giấy trong thùng rác hay trên mặt đất, anh đều gấp cho mình một cái máy bay. Cuối cùng anh trở thành một chuyên gia gấp máy bay giấy. Cái máy bay đầu tiên anh gấp cho Paris chỉ màu trắng trơn và không trang trí gì, nhưng nó có một đôi cánh dài và hẹp để có thể bay xa.

*

Cô có thói quen lên danh sách trong một cuốn sổ nhỏ. Danh sách những thứ cô cần làm trong ngày, danh sách những người cô đã đưa từ biển về nơi trú ẩn, mặc dù cô không đến đó nữa kể từ ngày cứu anh. Tuần duyên đã cảnh giác hơn và số cuộc đổ bộ đã giảm.

Một hôm cô đọc cho anh nghe một thứ trong cuốn sổ. Tên của anh là cái tên duy nhất trong danh sách mà cô đặt tên là “Những người từ bãi biển mà tôi đã hôn.”

Anh nhân dịp này để hỏi vì sao cô vẫn đến bãi biển ấy sau khi chồng cô chết ở đó.

Cô luôn kêu mọi người giúp những người sắp chết đuối, cô nói, như cô làm vào cái ngày mà Arnold đến. Cô không bao giờ nhảy xuống nước để cứu ai, vì cô không nghĩ mình có thể nổi được. Hơn nữa, một con người tuyệt vọng có thể dùng đầu bạn làm cái ghế đẩu để thoát khỏi ngọn sóng và cô còn có một đứa con để mà nghĩ đến. Cô trở lại bãi biển vì đấy là nơi chôn cất của chồng cô, và của chính cô. Con người mà cô từng là khi ba người bọn họ, cô cùng chồng và con trai, lên chiếc thuyền rời khỏi Haiti—con người ấy cũng đã mất ở biển.

*

Lần chạm đất này thậm chí còn đột ngột hơn lần trước. Cú rơi tự do của anh kết thúc khi người anh lao vào trong cái trống trộn bê tông. Anh bị quăng quật trong cái máy trộn tối om đầy vữa. Cứ mỗi giây, mặt anh lại trồi lên khỏi đống cát và sỏi ướt, và anh ngậm miệng lại, cố dồn khí ra khỏi mũi và đẩy cái hỗn hợp sạn mà cơ thể anh đang cố hít vào.

Anh vờ như mình đang bơi và cố đạp chân, giống như khi chiếc xuồng máy dừng lại giữa biển và người ta bảo anh bơi vào bờ. Anh cố quẫy tay, nhưng cả tay lẫn chân đều không thể cử động. Tuy thế cơ thể anh vẫn tiếp tục chuyển động, vì cái máy trộn vẫn tiếp tục quay. Anh với lấy cái trục, cái mà trong một không gian ổn định hơn, như trong một ngôi nhà hay một ngôi đền hay một nơi thiêng liêng khác, bạn có thể gọi là poto mitan, cái cột trụ. Anh dùng sức lực còn lại để đẩy người về phía trục và quấn tay quanh nó. Anh chỉ có thể giữ như thế được một lúc trước khi lại bị kéo đi theo một hướng khác.

Bây giờ anh cảm thấy nhẹ hơn, thậm chí nhẹ hơn cả lúc anh đang rơi. Xương anh đang tan, máu anh đang bốc, và giờ anh chỉ như giấy da hay thứ gì đó xốp—vải tuyn, hay dải đăng ten trắng mà Darline mê mẩn. Anh không để ý đến cái tiếng ì ầm và lọc xọc luân phiên của máy trộn. Anh không nhận ra là có những dải máu đang hòa vào bê tông, hay là anh không cảm thấy đau. Rồi máy trộn ngừng quay và anh nghe thấy sự tĩnh lặng, thứ sớm được thay thế bằng những tiếng la hét và mấp máy và những “Trời đất ơi.” Rồi anh nghe thấy tiếng còi hú, nó đưa anh trở lại nơi bãi biển, với cát xám và khuôn mặt màu da sậm của Darline, bộ đồ chạy màu chàm của cô, cái áo đỏ của Paris, và bãi nôn lốm đốm xanh vàng ở quán ăn nhanh.

Từ nơi anh đang nằm trong máy trộn bê tông, anh thấy một cái máy bay cắt ngang qua bầu trời xanh trong. Và đó là lúc anh nhận ra mình đang chết, và cái chết trao cho anh một sự tự do mà anh chưa bao giờ có. Mọi điều mà anh nghĩ đến anh đều có thể thấy ở trước mặt. Mọi điều mà anh muốn có anh đều có thể có, ngoại trừ cái mà anh muốn nhất, đó là không phải chết. Anh đã ước có cái gì có cánh để nhấc anh ra khỏi máy trộn bê tông, và giờ thì nó đang ở trên trời kia, dưới hình dạng một cái máy bay. Anh và Darline đã để dành tiền để đưa Paris lên một cái máy bay. Hoặc là một chuyến đi hoặc là một chiếc nhẫn, và về cơ bản thì họ đã kết hôn, Darline bảo anh. Paris là nhẫn của họ. Họ yêu nhau và họ yêu nó. Nó là con trai họ.

Anh muốn thấy Darline và Paris lần nữa. Dù chỉ là lần cuối. Anh muốn thấy mặt họ. Anh muốn nắm tay họ. Anh muốn hôn lên họ theo những cách khác nhau mà anh vẫn thường hôn, trên môi cô và trên trán nó, chỗ cái thóp nếu như nó giờ vẫn còn là một đứa trẻ.

Cái máy bay trôi đi khỏi tầm mắt, và anh nghe thấy tiếng mình thì thầm, “Rete la”—“Đợi đã”—“Quédate.” Anh muốn bảo cái máy bay đứng lại, hay Darline và Paris ở lại trong tâm trí anh, nhưng cái mặt béo hồng của tay quản đốc đang chắn mất bầu trời và anh nghe thấy gã đàn ông vẫn hay cộc cằn nói, “Đừng lo, Fernandez. Tôi không đi đâu cả. Cứu thương đang trên đường tới.”

Ồ, phải, đống giấy tờ mà anh dùng để xin việc nói anh là Ernesto Fernandez từ Santiago de Cuba. Không ai ở công trường này, kể cả những người Haiti khác, biết tên thật của anh. Họ không tin anh là người “Cuba Cuba,” như họ nói, nhưng vì anh nói tiếng Tây Ban Nha nên họ nghĩ anh đã sống một thời gian ở đó và lấy cái tên này.

Anh không biết tình trạng nửa ý thức này sẽ kéo dài bao lâu, khả năng nghĩ và nhớ, nên anh muốn đẩy lên, để xem mình chịu đựng được đến đâu. Nếu anh tự đưa mình nổi ra khỏi cái máy trộn bê tông được thì sao? Nếu anh đi qua thành phố và thăm hai người duy nhất mà anh yêu thì sao? Anh muốn họ thấy anh, hoặc nếu không thể thấy anh thì cảm nhận được anh. Anh không chắc chuyện đó sẽ thế nào. Có lẽ họ sẽ cảm thấy một cơn gió nóng hoặc một làn hơi lạnh. Có lẽ thứ gì đó ở gần họ sẽ di chuyển. Có thể một khung ảnh rơi, một chiếc cốc uống nước vỡ. Có thể họ sẽ nhận ra bóng anh ở khóe mắt, ngửi thấy mùi cơ thể đậm đặc sau giờ làm của anh, hay là nghe thấy bài hát anh ưa thích? Bàn tay họ có ngứa? Họ có cảm nhận được sự rung động từ những nụ hôn anh? Hay anh sẽ xuất hiện trong giấc mơ của họ?

Paris có lẽ sẽ nhạy cảm hơn để nhận được những dấu hiệu từ anh. Cậu bé vốn đã bị “chạm đến.” Tâm trí cậu đã mất đi một phần ở đâu đó giữa biển khơi và bãi biển.

Arnold cảm thấy thời gian đang ngày càng ngắn, nên anh sẽ không đi được hết quãng đường về thời thơ ấu ở Port-de-Paix. Dù sao đó cũng là thời gian mà anh đã cố quên đi. Anh chưa bao giờ gặp bố mẹ mình, chưa bao giờ biết họ là ai. Anh được nuôi như một đầy tớ trẻ trong một gia đình nọ, bị cho đi bởi bàn tay của bất cứ ai đã đưa anh vào thế giới này. Anh chỉ biết anh chẳng máu mủ gì hay cùng tên họ với người đàn bà trong căn nhà mà anh lớn lên. Anh cũng chẳng có quan hệ huyết thống gì với hai đứa con của bà, người mà anh giặt và là quần áo cho, đưa đến trường và nấu ăn cho, dù chúng lớn hơn anh mấy tuổi. Có lẽ bố mẹ anh đã chết. Người đàn bà nuôi anh lớn không bao giờ nhắc đến họ, trừ lúc nói, mỗi khi anh nấu hỏng hay dọn nhà không đúng cách, rằng anh vô dụng và không xứng có bố mẹ.

Anh thoát khỏi mụ và hai đứa con ngay khi có thể, chuyển đến biên giới, nơi anh ngủ trong một nhà kho mà từ đó anh sẽ kéo những bao bột mì, đường, và gạo đến cho các nhà buôn và thương gia Haiti. Người kể cho anh nghe về con thuyền đến Miami chính là một trong những thương gia ấy. Anh trai bà là thuyền trưởng, bà nói. Anh đưa cho bà toàn bộ số tiền dành dụm được để có thể trở về và cho mụ chủ độc ác và hai đứa con trai của mụ thấy anh đã nên người.

*

Sau khi chuyển đến sống cùng Darline anh mới biết, khi cô đưa anh đến một phòng luật di trú miễn phí ở Bắc Miami, rằng cô vẫn đang chờ giấy tờ. Cô vừa lấy bằng cử nhân ở Haiti thì mang thai Paris. Bố Paris là bạn cùng lớp với cô ở Latibonit và họ có, như cô nói, một tình yêu phi thực tế. Cô yêu gia đình. Cô yêu đất nước. Cô muốn ở lại Latibonit. Cô muốn già và chết đi ở đó. Cô và bố Paris đều có đủ nguồn lực từ gia đình để xoay xở. Nhưng khi bố Paris bảo cô rằng anh ta sẽ lên thuyền đến Miami thì không có chuyện cô và Paris ở lại.

“Thật điên rồ,” cô bảo Arnold. “Em cứ nghĩ mình sẽ không thể sống nếu thiếu anh ấy. Em cứ nghĩ mình sẽ ngừng thở nếu anh ấy không có ở bên. Nhất là khi bọn em đã có đứa bé này.”

Khi họ đến Miami, chỉ có cô và Paris là lên được bờ. Người ta không tìm được xác chồng cô. Sau một thời gian nằm viện ngắn, họ được đưa đến một nơi trú ẩn dành cho phụ nữ. Vị luật sư ở phòng luật di trú gọi đó là “tạm tha nhân đạo.” Cũng vị luật sư ấy bảo Arnold rằng anh đã vào đất nước này mà “không qua khám xét.” Tức là, anh đã không đi qua trước mặt bất cứ viên chức di trú nào vào cái ngày mà anh đến Mỹ, nghĩa là, về mặt lý thuyết, anh còn không ở đây.

*

“Mình muốn gặp Darline,” tự nhủ. Giờ thì anh đã hiểu rõ hơn về cách mà chuyện này diễn ra. Cái mà anh không biết là liệu có giới hạn nào cho những điều ước mà anh có thể được ban hay không.

Đột nhiên, anh đang đứng trong căn bếp của nhà hàng ở Little Haiti nơi Darline làm việc. Căn bếp này nhỏ và ẩm ướt, các bức tường bóng mỡ. Cô đang nấu một nồi lớn bột ngô với đậu đỏ. Cạnh đó là một nồi cá tuyết hầm to không kém. Anh đã đến căn bếp này nhiều lần đến mức có lẽ anh đang chỉ nhớ lại nó. Cô đổ mồ hôi nhiều đến nỗi anh khó mà hình dung được cô có thể chịu đựng được cả ngày ở đây. Cô hớp một ngụm từ cái chai nước, rồi nhấc vung nồi chuối đang sôi lên. Vừa làm cô vừa ngâm nga một bài mà anh cũng đang bắt đầu ngâm nga. Có lẽ cô sẽ cảm thấy anh đang ngâm nga cùng. Có lẽ cô còn nghe được anh.

“Latibonit O” là bài duy nhất anh từng nghe cô hát. Cô hát nó nhiều đến mức cô không nhận ra là mình đang hát. Cô hát nó khi cô vui, khi cô lo, khi cô buồn. Cô lại đang bắt đầu hát nó.

Latibonit o, yo voye pale m, yo di m Sole malad…

Bài hát ấy, anh tin, là về một mặt trời ốm lờ mờ trên thị trấn nơi cô sinh ra. Anh hát theo cho đến đoạn mặt trời ốm liệt giường, rồi chết và được chôn cất. Trong tâm trí anh, bài hát ấy luôn là một lời chia tay trang trọng với giờ vàng trước lúc hoàng hôn. Anh không biết hoàng hôn ở Latibonit trông như thế nào, nhưng Port-de-Paix có những buổi hoàng hôn đẹp nhất, mềm mại vừa đủ để không làm ta mù mắt khi ta nhìn thẳng về phía chân trời. Giờ thì anh nhung nhớ cái cách mà thời gian có vẻ đứng lặng trong những khoảnh khắc ấy, dù chỉ trong một khoảng thời gian vừa bằng một hơi thở duy nhất sau hoàng hôn.

Anh hát theo lớn hết sức có thể, nhưng không tạo ra được những âm thanh nghe được. Đây, anh phát hiện ra, là một trong những giới hạn của anh. Anh nghe thấy một tiếng bíp cất lên từ cái tạp dề của Darline, một tiếng rung quen thuộc. Đó là cái điện thoại của cô.

Dù là chuyện gì mà cô nghe được sau khi nói a lô thì nó cũng làm cô phiền lòng. Cô thả cái thìa gỗ mà cô đang dùng để khuấy nhẹ nồi chuối đang sôi xuống. Cô nghiến răng bực dọc, và nó nghe như thể cô đang huýt gió qua hai hàm răng.

Oula bạn cô cầm đến mấy tờ gọi món. Darline trông lơ đãng đến nỗi Oula phải hỏi, “Sa k genyen, Darline?”

“Là Paris,” cô nói.

“Bà giáo lại phàn nàn chuyện thằng bé với cậu nữa à?” Đúng như tên của cô, Oula luôn có mặt lúc Darline cần. Oula cũng có một đứa con trai mà các giáo viên nghĩ là hơi chậm.

*

Anh không biết mình còn bao lâu, nên anh gọi tên của Paris và hy vọng như thế sẽ được hiểu là anh mong muốn được gặp cậu bé.

Ở trường của Paris đang là giờ ra chơi sáng. Paris ngồi một mình ở một góc giữa hai giá sách, gấp thuyền từ mấy tờ giấy mà cô giáo đưa cho cậu. Arnold và Paris đã đi từ gấp máy bay đến gấp thuyền giấy cùng nhau. Hoạt động này giúp Paris tập trung, nhưng nó cũng giúp cả Arnold. Những chiếc thuyền nhắc nhở anh rằng anh đã sống sót qua biển cả.

Những đứa trẻ khác đang ăn bim bim và đuổi nhau quanh lớp học, trong lúc giáo viên dọa phạt chúng úp mặt vào tường và các hình thức tước đoạt quyền lợi khác. Paris còn không thèm nhìn lên để quan sát cảnh hỗn loạn. Hiệu trưởng trường muốn đưa Paris vào một lớp đặc biệt, nhưng Darline đã từ chối. Cậu bé không gây rối, chỉ quá hiếu động trong một số chuyện, Darline bảo với vị hiệu trưởng và bất cứ ai muốn bảo là con trai cô không nhát.

Arnold hiểu sự kỳ thị thời thơ ấu quá rõ để không đồng ý với Darline. Các giáo viên của Paris sẽ không hiểu cậu đã phải trải qua chuyện gì. Họ không biết bố cậu đã biến mất cách cậu chỉ vài gang tay. Paris dường như ở trong cảnh vĩnh viễn đeo tang, giống như mẹ của cậu.

Lần đầu tiên hai người gặp nhau Paris đã gọi Arnold là Papa. Darline sắp xếp cho họ một bữa tối bên nhau sau giờ đóng cửa ở nhà hàng mà cô làm việc. Paris không nói gì trong bữa ăn, nhưng lúc Arnold đang chuẩn bị về, cậu hỏi, “Chú là papa của cháu ạ?”

“Chú có thể,” Arnold nói.

Darline mỉm cười, và Paris nhảy vào vòng tay anh. Dường như cả hai đều xem câu trả lời của anh là một món quà mà anh trao tặng. Đột nhiên cuộc đời anh có nghĩa. Anh trở thành một người cha.

Trong lớp của Paris, Arnold cúi xuống ngồi bên cạnh cậu bé, trong không gian chật hẹp giữa các giá sách. Anh cố vòng tay qua ôm Paris nhưng không cảm nhận được người cậu bé, cũng như cậu không cảm nhận được anh.

Anh ghé đầu gần đầu Paris và áp miệng vào bên tai phải của cậu và hét lên nhỡ đâu cậu có thể nghe thấy: “Paris, con ơi, rồi một ngày con sẽ đến nơi Paris kia. Con sẽ có một gia đình và con sẽ bay trên một chiếc máy bay thực thụ.”

Anh tìm kiếm một dấu hiệu cho thấy cậu đã nghe thấy anh hay thậm chí chỉ cảm nhận được sự hiện diện của anh thôi, nhưng anh không thấy. Paris đang gấp đến chiếc thuyền giấy thứ tám. Cậu đang gấp theo chiều dọc giấy, rồi ở các góc. Những lúc họ gấp thuyền luôn luôn có một khoảnh khắc mà Arnold nghĩ Paris có thể sẽ hài lòng khi dừng lại ở lúc trông nó như một cái mũ, nhưng cậu vẫn tiếp tục cho đến khi một cái đuôi tàu hay thân tàu xuất hiện.

“Tạm biệt, Paris,” anh hét vào tai cậu bé. “Nhớ yêu mẹ con mãi mãi.”

Rồi anh mỉm cười khi cậu bé đưa tay lên để gẩy bên tai mà anh vừa hét vào, như thể cái gì đó nhỏ, như một con muỗi vo ve, đã lướt qua cậu ở đó.

Paris biến mất. Hay đó chính là Arnold biến mất.

Anh đã trở lại nơi công trường xây dựng. Không bị thương mà lành lặn, giống như lúc anh rời nhà trong buổi sáng nay. Anh vẫn mặc áo khoác màu cam sáng và đội mũ cứng cùng màu. Thời gian đang chơi đùa với anh, hay là anh đang chơi với thời gian? Anh đang vòng qua dải dây băng cảnh sát màu vàng trong hiện tại hay trong quá khứ?

Công trường đã được đóng cửa và nhiều người mà anh làm việc cùng đang tụ tập xung quanh, nghiêng người qua dải dây băng để nhìn rõ hơn những người đang chụp ảnh cái máy trộn bê tông. Những chiếc xe tin tức với ăng ten kéo dài đang xếp hàng bên kia phố và phóng viên đang phỏng vấn cả đồng nghiệp của anh lẫn một vài người qua đường, một số tự nhận là họ đã thấy anh rơi. Cơ thể anh lúc đầu lắc dữ dội, họ nói, rồi lao thẳng vào cái trống bê tông.

Công ty xây dựng và nhà đầu tư đã đưa ra một tuyên bố, được nhiều phóng viên đọc lại trong bản tin giữa ngày của họ: “Chúng tôi vô cùng đau xót trước cái chết bi thảm của Ernesto Fernandez. Chúng tôi xin gửi lời chia buồn đến gia đình anh, bạn bè anh, và đồng nghiệp của anh. Chúng tôi đang hợp tác với các nhà điều tra tiểu bang và liên bang để tìm hiểu vì sao tai nạn không may này xảy ra và làm sao để ngăn chặn những sự cố tương tự trong tương lai.”

Có những đoạn video điện thoại quay cảnh anh rơi, từ các góc khác nhau. Một số người quay anh từ dưới đất. Những người khác quay anh từ trên sân thượng và ban công nhà họ. Trông anh, trong bản cắt ghép nhanh chóng của những đoạn băng này, không giống như một con người mà như một vật thể lớn đang rơi. Anh rơi quá nhanh để có thể nhận dạng được là một con người khi đoạn băng không được tua chậm lại.

Cái nhẹ đã trở lại. Cảm giác ngột ngạt của cơ thể anh bay hơi. Darline và Pairs cũng đang mờ đi. Họ đang trở thành những ước muốn xa xôi, những hình, những bóng mờ dần trên mặt đất.

Có những mối tình sống lâu hơn người tình. Một phiên bản của những lời này chính là lời cầu nguyện của anh lúc anh rơi. Darline giờ sẽ có hai mối tình như thế. Anh cũng sẽ có hai: Darline và Paris. Anh sẽ tiếp tục cố gắng tìm kiếm họ. Anh sẽ tiếp tục ngâm nga theo bài hát của Darline, và tiếp tục thì thầm vào tai Paris. Anh cũng sẽ cố gắng dẫn Darline trở lại bãi biển, để tìm kiếm những người khác như anh.

Copyright © 2018 by Edwidge Danticat | Bản dịch © 2018 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

One comment on “Truyện ngắn: “Không qua khám xét” – Edwidge Danticat

  1. genderchats
    May 14, 2018

    Đọc xong thấy nặng lòng quá

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Information

This entry was posted on May 11, 2018 by in Truyện and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,683 other followers

%d bloggers like this: