Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Chúa có hạnh phúc không? – Leszek Kołakowski

Leszek Kolakowski.jpg

Leszek Kołakowski, 1994 | Photo by Piotr Wójcik/Agencja Gazeta

Leszek Kołakowski (1927–2009) là triết gia người Ba Lan. Ông lấy bằng tiến sĩ triết học tại Đại học Warsaw năm 1953, nơi ông giảng dạy cho đến khi bị trục xuất vì lý do chính trị năm 1968. Ông là viện sĩ tại All Souls College, Đại học Oxford từ năm 1970 cho đến khi nghỉ hưu năm 1995. Kołakowski là tác giả của hơn ba mươi cuốn sách, trong đó có bộ Main Currents in Marxism.

Chúa có hạnh phúc không?

Tiểu sử đầu tiên của Siddhartha, sau này là Phật Thích Ca, cho thấy một thời gian dài người hoàn toàn không biết về sự khốn cùng của tình cảnh con người. Là một thái tử, tuổi trẻ người sống trong lạc thú và xa hoa, giữa âm nhạc và những thú vui trần tục. Người đã thành hôn khi các vị thần trên thiên giới quyết định khai sáng cho người. Một hôm người thấy một người già yếu; nỗi khổ của một người bệnh nặng; rồi một cái xác. Chỉ khi ấy người mới biết được sự tồn tại của tuổi già, thống khổ, và cái chết—tất cả những khía cạnh đau đớn của cuộc sống mà người từng không hay. Thấy vậy người mới quyết từ bỏ thế giới để trở thành tu sĩ và tìm đường đến Niết bàn.

Như vậy, chúng ta có thể cho rằng người đã hạnh phúc chừng nào người còn chưa biết đến những thực tế nghiệt ngã của cuộc sống; và đến cuối cuộc đời, sau một hành trình dài và gian khổ, người đã đạt đến sự hạnh phúc đích thực, thứ nằm ngoài điều kiện trần thế.

Có thể mô tả Niết bàn như một trạng thái hạnh phúc hay không? Những người, như tác giả bài này, không đọc được kinh Phật bằng bản gốc, sẽ không thể chắc chắn; từ “hạnh phúc” không xuất hiện trong các bản dịch. Cũng khó mà chắc chắn ý nghĩa của những từ như “ý thức” hay “[cái] ngã” có tương ứng với ý nghĩa hiện đại của chúng hay không. Chúng ta được biết là Niết bàn đòi hỏi sự từ bỏ cái ngã. Điều này có thể gợi ý rằng có thể có, như triết gia Henryk Elzenberg tuyên bố, sự hạnh phúc mà không có chủ thể—tức là sự hạnh phúc đơn thuần, không liên quan đến việc có ai hạnh phúc hay không. Điều này có vẻ phi lý. Nhưng ngôn ngữ của chúng ta thì không bao giờ là đủ để mô tả được những thực tế tuyệt đối.

Một số nhà thần học đã lập luận rằng chúng ta chỉ có thể nói về Chúa thông qua sự phủ định: bằng cách nói Chúa không phải là gì. Tương tự, có lẽ chúng ta cũng không thể biết Niết bàn là gì mà chỉ nói được nó không phải là gì. Nhưng phủ định không thôi thì khó mà thỏa mãn; chúng ta muốn nói nhiều hơn thế. Và giả sử chúng ta được phép nói điều gì đó về việc đạt đến Niết bàn có nghĩa là như thế nào thì câu hỏi khó nhất vẫn là: Người đạt đến trạng thái này liệu có nhận thức được thế giới xung quanh anh ta hay không? Nếu không—nếu anh ta hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống trên trái đất—thì anh ta ở trong kiểu thực tại nào? Và nếu nhận thức được thế giới của kinh nghiệm con người thì anh ta cũng phải nhận thức được cái ác, được sự đau khổ. Nhưng có thể nào biết đến cái ác và sự đau khổ mà vẫn hoàn toàn hạnh phúc hay không?

Câu hỏi tương tự cũng được đặt ra với những cư dân hạnh phúc trên thiên đường của Kitô giáo. Họ có sống trong sự tách biệt hoàn toàn với thế giới của chúng ta hay không? Nếu không—nếu họ nhận thức được cảnh khốn cùng của sự tồn tại trần thế, được những chuyện khủng khiếp diễn ra trên thế giới, những mặt xấu, những cái ác và nỗi đau và thống khổ của trần gian—thì làm sao họ có thể hạnh phúc theo bất cứ ý nghĩa nào chúng ta nhìn nhận được ở từ này?

(Tôi nên nói rõ rằng tôi không dùng “hạnh phúc” ở đây theo nghĩa đơn thuần là “hài lòng” hay “thỏa mãn,” như trong “Quý khách có hài lòng với chỗ ngồi này không?” hay “Tôi khá là hài lòng với cái sandwich này.” Từ để chỉ sự hạnh phúc có một phổ nghĩa rộng trong tiếng Anh; ở các ngôn ngữ châu Âu khác thì nghĩa của nó hẹp hơn, nên người Đức mới nói “I am happy, aber glücklich bin ich nicht.”)

Cả Phật giáo và Kitô giáo đều gợi ý rằng sự giải thoát tối thượng cho linh hồn là sự yên bình tuyệt đối: sự bình yên tuyệt đối của tinh thần. Và sự yên bình tuyệt đối cũng tương đương với sự bất biến tuyệt đối. Nhưng nếu tinh thần của tôi ở một trạng thái bất biến, không gì có thể thay đổi, thì hạnh phúc của tôi cũng sẽ giống hạnh phúc của một tảng đá. Có thực chúng ta muốn nói rằng một tảng đá là hiện thân hoàn hảo của sự cứu rỗi hay của Niết bàn hay không?

Vì làm người có nghĩa là có khả năng cảm thông, chia vui sẻ buồn với những người khác, cậu Siddhartha ngày trẻ có thể hạnh phúc, thay đúng hơn là có thể tận hưởng cái ảo tưởng về hạnh phúc, chỉ là nhờ sự vô tri của cậu. Trong thế giới chúng ta, cái kiểu hạnh phúc ấy chỉ có thể khả dĩ với trẻ em, mà chỉ với một số: một đứa trẻ dưới năm tuổi, ví dụ thế, trong một gia đình đầy yêu thương, không có ai gần gũi phải trải qua đau đớn hay cái chết. Có lẽ một đứa trẻ như thế có thể hạnh phúc theo cái nghĩa tôi đang bàn ở đây. Trên năm tuổi có lẽ chúng ta đã quá già cho hạnh phúc. Tất nhiên, chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui nhất thời, những khoảnh khắc kinh ngạc và mê hoặc, thậm chí những cảm giác xuất thần như được hiệp nhất với Chúa và vũ trụ; chúng ta có thể biết đến tình yêu và niềm vui. Nhưng hạnh phúc như một trạng thái bất biến với chúng ta là không thể có được, có lẽ trừ rất ít trường hợp của các nhà huyền học đích thực.

*

Đó là tình cảnh con người. Nhưng chúng ta có thể gán hạnh phúc cho thần linh không? Chúa có hạnh phúc không?

Câu hỏi này không hề phi lý. Chúng ta thường xem hạnh phúc như một trạng thái cảm xúc của tinh thần. Nhưng Chúa có cảm xúc không? Chắc chắn, chúng ta được bảo là Chúa yêu những tạo vật của Người, và tình yêu, ít nhất là trong thế giới con người, là một cảm xúc. Nhưng tình yêu chỉ là nguồn hạnh phúc khi nó được đáp lại, và đáp lại tình yêu của Chúa thì chỉ có một số con dân của Người, chứ không phải tất cả: có người không tin là Người tồn tại, có người không quan tâm Người tồn tại hay không, và có người thì oán hận Người, cáo buộc Người dửng dưng trước nỗi đau và khốn khổ của con người. Nếu không dửng dưng mà có cảm xúc như chúng ta, chắc hẳn Người phải sống trong cảnh đau buồn triền miên khi chứng kiến con người đau khổ. Người không gây ra nó mà cũng không muốn thế, nhưng Người bất lực trước mọi khổ sở, mọi nỗi kinh hoàng và tàn bạo mà tự nhiên giáng xuống con người hay con người gây ra cho nhau.

Mặt khác, nếu Người là hoàn toàn bất biến thì Người không thể xao động trước cảnh khốn cùng của chúng ta; do đó Người phải dửng dưng. Nhưng nếu Người dửng dưng thì làm sao Người có thể là một người cha đầy yêu thương? Và nếu Người không bất biến thì Người phải góp mặt vào nỗi khổ của chúng ta, và cảm thấy buồn rầu. Trong cả hai trường hợp, Chúa đều không hạnh phúc theo bất cứ nghĩa nào mà chúng ta có thể hiểu.

Chúng ta buộc phải thừa nhận rằng chúng ta không hiểu được đấng linh thiêng—toàn năng, toàn trí, biết mọi thứ trong Người và qua Người mà không phải như một thứ ngoài Người, và không bị ảnh hưởng bởi nỗi đau và cái ác.

Vị Chúa đích thực của các Kitô hữu, Jesus Christ, không hạnh phúc theo bất cứ ý nghĩa nào chúng ta nhìn nhận được. Người hiện thân và chịu đau đớn, người chia sẻ nỗi khổ với các anh em, và người chết trên thập tự giá.

Nói tóm lại, từ “hạnh phúc” dường như không thể áp dụng được với sự sống thiêng. Nhưng nó cũng không áp dụng được với con người. Đấy không chỉ là vì chúng ta phải chịu đau khổ, mà nó còn là vì, ngay cả khi chúng ta không phải chịu đau khổ ở một lúc nào đó, ngay cả khi chúng ta có thể trải nghiệm niềm vui xác thịt và tinh thần và những khoảnh khắc vượt thời gian, trong “hiện tại vĩnh cửu” của tình yêu, chúng ta cũng không thể nào quên đi sự tồn tại của cái ác và sự khốn cùng của tình cảnh con người. Chúng ta tham gia vào nỗi khổ của người khác; chúng ta không thể loại bỏ được việc đón chờ cái chết hay những nỗi buồn của cuộc sống.

Vậy thì chúng ta phải chấp nhận cái học thuyết ảm đạm của Schopenhauer rằng mọi cảm giác dễ chịu đều thuần túy là âm tính, tức là sự vắng mặt của nỗi đau hay sao? Không nhất thiết. Không có lý do gì để cho rằng những thứ chúng ta có trải nghiệm tốt—niềm vui thẩm mỹ, lạc thú tình dục, sự thỏa mãn thể xác và tinh thần các loại, những cuộc chuyện trò phong phú, và tình yêu của bè bạn—phải hoàn toàn được xem là âm tính. Những trải nghiệm ấy củng cố cho chúng ta, làm chúng ta khỏe mạnh hơn về mặt tinh thần. Nhưng chúng không thể làm gì với cả malum culpae lẫn malum poenae—cái ác và sự đau khổ.

Tất nhiên, có những người tự coi mình là hạnh phúc bởi vì họ thành công: khỏe mạnh và giàu có, chẳng thiếu thốn gì, được hàng xóm nể (sợ). Những người như thế có thể tin hạnh phúc là như cuộc đời của họ. Nhưng đấy chỉ là tự lừa dối mình; và ngay cả họ, không lúc này thì lúc khác, cũng có lúc nhận ra sự thật. Và sự thật là họ cũng là những thất bại như tất cả chúng ta.

Có thể nêu ra một phản đối ở đây. Nếu chúng ta đã tiếp thu minh triết đích thực ở bậc cao hơn, có thể chúng ta sẽ tin, như Alexander Pope, rằng cái gì tồn tại thì đều là phải [whatever is, is right]; hoặc, như Leibniz, rằng chúng ta đang sống trong thế giới tốt nhất trong mọi thế giới khả dĩ về mặt luận lý. Và nếu bên cạnh việc chấp nhận một thứ như thế về mặt trí tuệ, tức là bên cạnh việc đơn giản là tin rằng mọi thứ chắc hẳn phải ổn thỏa với thế giới bởi vì nó nằm dưới sự trông nom liên tục của Chúa, chúng ta cũng cảm thấy trong tim mình rằng nó là như vậy, và trải nghiệm cái huy hoàng, cái tốt đẹp, và cái đẹp của vũ trụ trong cuộc sống thường ngày, thì chẳng phải chúng ta có thể nói là cũng hạnh phúc hay sao? Câu trả lời là: không, không thể nói như vậy.

Hạnh phúc là một cái gì đó chúng ta có thể tưởng tượng nhưng không thể trải nghiệm. Nếu tưởng tượng rằng địa ngục và luyện ngục không còn hoạt động và mọi con người, tất cả không chừa một ai, đều được Chúa cứu rỗi và giờ đây đang tận hưởng niềm vui thiên giới, chẳng thiếu thốn gì, hoàn toàn thỏa mãn, không đau đớn hay cái chết, thì chúng ta cũng có thể tưởng tượng rằng hạnh phúc của họ là thật và mọi nỗi buồn và đau khổ trong quá khứ đã bị quên lãng. Có thể tưởng tượng được một tình cảnh như thế, nhưng chưa ai thấy bao giờ. Chưa ai thấy bao giờ.

Leszek Kołakowski, “Is God Happy?Is God Happy?: Selected Essays, trans. Agnieszka Kołakowska (Basic Books, 2013). This essay first appeared in The New York Review of Books (Dec. 20, 2012 Issue).

Copyright © 2006 Leszek Kołakowski | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

2 comments on “Chúa có hạnh phúc không? – Leszek Kołakowski

  1. caffedellavita
    June 2, 2019

    Bác nào đã đọc truyện Ngắn Đường Tăng của Trương Quốc Dũng?

  2. James
    July 9, 2019

    Great theory about happiness

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 1, 2019 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: