Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Biện chứng của đơn độc – Octavio Paz

paz.jpg

Octavio Paz (1914–1998) là nhà thơ người Mexico. Ông được trao giải Miguel de Cervantes năm 1981, giải văn chương quốc tế Neustadt năm 1982, và giải Nobel văn chương năm 1990.

Biện chứng của đơn độc

Đơn độc—cảm giác và biết rằng mình cô độc, xa lạ với thế giới và chính mình—không phải là một đặc điểm thuần Mễ. Mọi con người, ở một lúc nào đó trong cuộc đời họ, đều cảm thấy mình cô độc, và hơn thế, mọi con người đều cô độc. Sống tức là tách mình khỏi con người mình để đến được cái con người mình sẽ là trong tương lai xa lạ. Đơn độc là thực tế căn bản nhất của thân phận con người. Người là kẻ duy nhất biết mình cô độc, và là kẻ duy nhất kiếm tìm kẻ khác. Bản chất của anh ta—nếu có thể nói vậy với con người, kẻ “tạo” ra mình bằng cách nói “Không” với tự nhiên—cốt là ở việc nhận ra mình ở kẻ khác. Người là sự hoài niệm và sự kiếm tìm sự hiệp thông. Bởi vậy mà nhận thức được chính mình là anh ta nhận thức được sự thiếu vắng kẻ khác, tức là sự đơn độc của anh ta.

Thai nhi thì hòa hợp với thế giới xung quanh nó; nó là sự sống sinh vật đơn thuần, không ý thức được mình. Khi sinh ra chúng ta phá vỡ những mối liên kết gắn chúng ta với cuộc sống tối tăm trong bụng mẹ, nơi không có khoảng cách giữa ham muốn và thỏa mãn. Chúng ta cảm nhận sự thay đổi ấy như là sự chia ly và mất mát, như sự bỏ rơi, như sự rơi vào một môi trường xa lạ hay thù địch. Sau này cái cảm giác mất mát nguyên thủy ấy trở thành một cảm giác đơn độc, và sau đó nữa nó trở thành sự nhận thức: chúng ta bị kết án phải sống một mình, nhưng lại phải vượt lên sự đơn độc của mình, phải tái lập những mối liên kết gắn chúng ta với sự sống trong một quá khứ thiên đường. Mọi sức lực của chúng ta cố gắng xóa bỏ sự đơn độc của chúng ta. Bởi vậy mà cảm giác chúng ta cô độc có một ý nghĩa kép: một mặt nó là sự nhận thức về mình, mặt khác nó là sự khao khát thoát khỏi mình. Đơn độc—điều kiện chính yếu của cuộc đời chúng ta—xuất hiện như một thử thách và một sự thanh tẩy, mà khi nó kết thúc nỗi thống khổ và sự bất ổn của chúng ta sẽ biến mất. Ở lối thoát khỏi mê cung của đơn độc chúng ta sẽ tìm thấy sự tái hợp (sự an nghỉ và hạnh phúc), sự phong phú và sự hòa hợp với thế giới.

Ngôn ngữ phổ thông phản ánh sự nhị nguyên này bằng cách đồng nhất đơn độc với đau khổ. Những đau đớn của tình yêu là những đau đớn của đơn độc. Hiệp thông và đơn độc đối nghịch và bù trừ cho nhau. Sức mạnh cứu rỗi của sự đơn độc làm rõ cảm giác tội lỗi mơ hồ nhưng sống động của chúng ta: con người đơn độc “bị bỏ rơi bởi bàn tay của Chúa.” Đơn độc vừa là một hình phạt vừa là sự chuộc tội. Nó là sự trừng phạt nhưng cũng là lời hứa rằng cuộc lưu đày của chúng ta sẽ kết thúc. Mọi cuộc sống con người đều thấm đẫm biện chứng này.

Cái chết và sự sinh ra là những kinh nghiệm đơn độc. Chúng ta sinh một mình và chết một mình. Khi bị trục xuất khỏi bụng mẹ, chúng ta bắt đầu cuộc đấu tranh đau đớn mà cuối cùng kết thúc trong cái chết. Có phải chết có nghĩa là trở lại với sự sống trước sự sống? Có phải nó có nghĩa là sống lại cuộc sống trước khi sinh nơi tĩnh và động, đêm và ngày, thời gian và vĩnh cửu không phải là đối lập? Chết có nghĩa là ngừng hiện hữu như một hữu thể và cuối cùng, sau rốt, tồn tại? Có phải chết mới là dạng sống chân thật nhất? Có phải sống là chết, chết mới là sống? Chúng ta không biết. Nhưng mặc dù không biết, toàn bộ con người chúng ta vẫn cố gắng thoát khỏi những sự đối lập hành hạ mình. Mọi thứ—nhận thức về mình, thời gian, lý trí, nề nếp, thói quen—có xu hướng bắt chúng ta lưu vong khỏi đời, nhưng đồng thời mọi thứ cũng buộc chúng ta trở lại, xuống cái tử cung sáng tạo mà chúng ta bị ném khỏi. Cái chúng ta đòi hỏi ở tình yêu (là ham muốn, nó là cơn khao khát sự hiệp thông, sự sẵn sàng sa ngã và chết cũng như là được tái sinh) là nó cho chúng ta một chút sống thực, một chút chết thực. Chúng ta không đòi hỏi ở nó sự hạnh phúc hay sự an nghỉ, mà chỉ đơn giản là một khoảnh khắc của một sự sống trọn vẹn đối lập với sự biến mất, khi sự sống và cái chết, thời gian và sự vĩnh cửu hợp nhất. Bằng một cách mơ hồ chúng ta nhận ra sống và chết chỉ là hai pha—đối kháng nhưng bổ sung—của một thực tại duy nhất. Sáng tạo và hủy diệt trở thành một trong thể động yêu, và trong một khoảnh khắc ngắn ngủi con người thoáng nhìn thấy một trạng thái hoàn hảo hơn của tồn tại.

*

Trong thế giới chúng ta, tình yêu là một kinh nghiệm gần như không thể tiếp cận. Mọi thứ đều chống lại nó: đạo đức, giai cấp, luật pháp, chủng tộc và chính những người yêu nhau. Với người nam, người nữ luôn luôn là “kẻ khác,” sự đối lập và bổ sung của anh ta. Nếu một phần trong bản thể chúng ta khao khát được hợp nhất với nàng thì phần còn lại—không kém phần thống trị—lại chối bỏ và loại trừ nàng. Người nữ là một đối tượng, đôi khi quý giá, đôi khi đầy hủy hoại, nhưng luôn luôn khác. Bằng cách biến nàng thành một đối tượng và bắt nàng chịu những sự biến hình mà lợi ích của anh ta, sự phù phiếm, sự thống khổ, và chính tình yêu của anh ta điều khiển, người nam biến nàng thành một công cụ, một cách để sống sót. Người nữ là một thần tượng, một nữ thần, một người mẹ, một nàng phù thủy hay một thần nàng thơ, như Simone de Beauvoir đã nói, nhưng nàng không bao giờ có thể là mình. Bởi vậy mà các mối quan hệ tình ái của chúng ta bại hoại ngay từ đầu, bị đầu độc từ gốc rễ. Một ảo tượng đến giữa chúng ta, và ảo tượng ấy là hình ảnh của nàng, hình ảnh chúng ta nghĩ về nàng và nàng khoác lên mình. Khi đưa tay với tới nàng, chúng ta không thể chạm vào cái da thịt không suy nghĩ, bởi tầm nhìn ngoan ngoãn, dễ bảo về một cơ thể đầu hàng này luôn luôn chen vào. Và điều tương tự cũng xảy ra với nàng: nàng chỉ có thể nghĩ về mình như một đối tượng, như một cái gì “khác.” Nàng không bao giờ là người tình của chính mình. Hữu thể của nàng bị chia thành cái nàng là và cái mà nàng hình dung nàng là, và hình ảnh này được đặt ra với nàng bởi gia đình nàng, giai cấp, trường học, tôn giáo và người tình của nàng. Nàng không bao giờ thể hiện tính nữ của mình vì nó luôn thể hiện nó theo những hình thức mà người nam tạo ra cho nàng. Tình yêu không phải là một thứ “tự nhiên.” Nó là một thứ con người, đặc điểm nhiều tính người nhất trong tất cả. Một thứ mà chúng ta tự tạo cho mình, không thấy trong tự nhiên. Một thứ mà chúng ta tạo ra—và hủy diệt—hằng ngày.

Đó không phải là những trở ngại duy nhất đứng giữa tình yêu và chúng ta. Tình yêu là một lựa chọn… có lẽ một lựa chọn tự do cho số phận của chính mình, một khám phá bất ngờ cái phần bí mật và định mệnh nhất trong tồn tại của mình. Nhưng lựa chọn tình yêu là bất khả trong xã hội chúng ta. Trong một trong những cuốn sách tuyệt vời nhất của ông—Yêu điên—Breton nói có hai điều cấm kỵ hạn chế nó ngay từ đầu: sự bất thuận của xã hội và ý niệm Kitô giáo về tội lỗi. Để hiện thực hóa mình, tình yêu phải phạm luật của thế giới chúng ta. Nó tai tiếng và mất trật tự, một sự vi phạm của hai vì sao dám tách khỏi quỹ đạo tiền định và lao vào nhau giữa không gian. Quan niệm lãng mạn về tình yêu, ngụ ý sự tan vỡ và thảm họa, là cái duy nhất chúng ta biết ngày nay bởi mọi thứ trong xã hội chúng ta đã ngăn cho tình yêu không là một lựa chọn tự do.

Người nữ bị cầm tù trong cái hình ảnh mà xã hội nam tính đã áp đặt lên họ; bởi vậy mà nếu cố gắng có một lựa chọn tự do thì nó phải là một kiểu vượt ngục. Những người tình nói “tình yêu đã biến đổi nàng, nó đã biến nàng thành một con người khác.” Và họ nói đúng. Tình yêu thay đổi một người phụ nữ hoàn toàn. Nếu nàng dám yêu, dám là chính mình, nàng phải hủy diệt cái hình ảnh mà thế giới đã giam cầm nàng trong đó.

Người nam cũng bị ngăn cản khỏi lựa chọn. Phạm vi khả dĩ của anh ta là rất hạn chế. Anh ta khám phá tính nữ từ khi còn nhỏ, từ mẹ hay chị em, và từ đó anh ta đồng nhất tình yêu với sự cấm đoán. Sự gợi tình của chúng ta bị quy định bởi sự kinh hãi và hấp dẫn của loạn luân. Bên cạnh đó, cuộc sống hiện đại kích thích những ham muốn của chúng ta quá mức, trong khi lại làm chúng thất vọng với đủ thứ cấm đoán: xã hội, đạo đức, thậm chí là vệ sinh. Tội lỗi là cả sự thúc đẩy lẫn sự kiềm chế ham muốn. Mọi thứ đều hạn chế sự lựa chọn của chúng ta. Chúng ta phải điều chỉnh những tình cảm sâu sắc nhất với hình ảnh của cái mà nhóm xã hội của chúng ta chấp nhận ở một người nữ. Khó mà yêu một người thuộc các chủng tộc, văn hóa hay tầng lớp khác, mặc dù việc một người nam da trắng yêu một người nữ da màu, việc nàng yêu một người Trung Quốc, việc một “quý ông” yêu người hầu của mình, là hoàn toàn có thể. Và ngược lại. Nhưng những khả năng này khiến chúng ta đỏ mặt, và vì không được tự do lựa chọn nên chúng ta chọn vợ từ những người nữ “phù hợp.” Chúng ta không bao giờ thú nhận đã cưới một người mà ta không yêu, một người có thể yêu chúng ta, có lẽ, nhưng không thể là con người thật của nàng. Swann nói, “Và nghĩ tôi đã lãng phí những năm tươi đẹp nhất đời mình với một người phụ nữ không phải kiểu của mình.” Phần lớn đàn ông hiện đại có thể lặp lại cái câu văn ấy trước lúc lâm chung. Và chỉ cần thay một từ thôi thì phần lớn phụ nữ hiện đại cũng vậy.

Xã hội phủ nhận bản chất của tình yêu bằng cách quan niệm nó như một liên minh ổn định với mục đích là sinh và nuôi dạy con cái. Nó đồng nhất nó với hôn nhân. Mọi sự vi phạm quy tắc này đều bị trừng phạt, mức độ nghiêm trọng tùy thuộc vào nơi chốn và thời gian. (Ở Mexico hình phạt thường là chết người nếu người vi phạm là nữ, vì—như mọi dân tộc Hispanic khác—chúng ta có hai bộ đạo đức: một cho “señor,” và một cho phụ nữ, trẻ em và người nghèo.) Sự bảo vệ dành cho hôn nhân sẽ là hợp lý nếu xã hội cho phép lựa chọn tự do. Nhưng vì không phải nên nó nên chấp nhận hôn nhân không phải là sự hiện thực hóa tối cao của tình yêu, mà là một hình thái pháp lý, xã hội và kinh tế với những mục đích khác mục đích của tình yêu. Sự ổn định của gia đình phụ thuộc vào hôn nhân, nó trở thành một sự bảo vệ đơn thuần cho cái xã hội không còn mục tiêu nào khác ngoài tái tạo chính cái xã hội ấy. Bởi vậy hôn nhân về bản chất là vô cùng bảo thủ. Tấn công nó là tấn công chính những cái nền tảng của xã hội. Và tình yêu, cũng vì lý do ấy, là một thể động phản xã hội, mặc dù không chủ đích. Bất cứ khi nào nó thành công trong việc hiện thực hóa chính mình, nó phá vỡ hôn nhân và biến nó thành cái mà xã hội không muốn nó trở thành: một mặc khải của hai sinh vật đơn độc tự tạo ra thế giới của riêng mình, một thế giới chối bỏ những sự dối trá của xã hội, xóa bỏ thời gian và lao động, và tuyên bố tự nó là đủ. Bởi vậy mà chẳng có gì lạ khi xã hội trừng phạt tình yêu và lời chứng của nó—thơ—bằng sự ác cảm như nhau, lên án nó là cái thế giới hoang mang, ám muội của cái bị cấm đoán, cái phi lý, cái bất thường. Cũng chẳng lạ gì mà cả tình yêu lẫn thơ bùng nổ trong những hình thức kỳ lạ, thuần khiết: một vụ tai tiếng, một tội phạm, một bài thơ.

Kết quả của sự bảo vệ dành cho hôn nhân này là tình yêu bị đàn áp và mại dâm hoặc được dung thứ hoặc được chính thức ủng hộ. Thái độ mơ hồ của chúng ta đối với mại dâm cho thấy khá nhiều điều. Có người cho cái thiết chế này là thiêng, nhưng trong chúng ta nó luân phiên là đáng khinh và đáng muốn. Nàng điếm là một biếm họa của tình yêu, một nạn nhân của tình yêu, một biểu tượng của những quyền lực đang làm suy yếu thế giới của chúng ta. Nhưng ngay cả cái trò bắt chước tình yêu này cũng không đủ: trong một số nhóm người những ràng buộc của hôn nhân bị nới lỏng đến mức sự lăng nhăng trở thành quy tắc chung. Người đi từ giường này sang giường khác không còn được coi là người phong tình. Kẻ quyến rũ—người nam không thể vượt lên chính mình vì người nữ luôn là công cụ của sự phù phiếm hay nỗi lo âu của anh ta—là một nhân vật lỗi thời như hiệp sĩ giang hồ. Không còn ai để quyến rũ, cũng như không còn người hầu gái nào để giải cứu hay yêu tinh nào để tiêu diệt. Sự gợi tình hiện đại có ý nghĩa khác với ý nghĩa của Sade chẳng hạn. Sade là một nhân vật bi thảm, một người đàn ông hoàn toàn bị ám, tác phẩm của ông là sự mặc khải bùng nổ về thân phận con người. Chẳng có nam chính nào tuyệt vọng như nhân vật của ông. Mặt khác, sự gợi tình hiện đại, hầu như luôn luôn khoa trương, là một thực hành văn chương tự mãn. Nó không phải là sự mặc khải của con người, nó chỉ là một tài liệu nữa mô tả một xã hội khuyến khích tội phạm và lên án tình yêu. Tự do dục vọng? Ly hôn đã không còn là một cuộc chinh phục. Nó không hẳn là một cách để loại bỏ những mối quan hệ đã thiết lập mà là một cách cho đàn ông và phụ nữ lựa chọn tự do hơn. Trong một xã hội lý tưởng, cơ sở duy nhất cho một vụ ly hôn là sự biến mất của tình yêu hay sự xuất hiện của một tình yêu mới. Trong một xã hội mà mọi người đều có thể lựa chọn, ly hôn sẽ trở nên lỗi thời hoặc hiếm, như mại dâm và phóng đãng và ngoại tình.

Xã hội giả vờ là một tổng thể hữu cơ sống bằng và vì chính mình. Nhưng trong khi tự coi mình là một đơn vị không thể phân chia, nó lại bị chia rẽ bên trong một bởi sự nhị nguyên có lẽ bắt đầu khi con người không còn là con vật, khi anh ta sáng tạo ra cái tôi, lương tâm và đạo đức của mình. Xã hội là một sinh vật phải chịu đựng sự bức thiết kỳ lạ của việc biện minh cho những mục tiêu và cơn đói khát của nó. Đôi khi những mục tiêu của nó—ngụy trang thành những giới luật đạo đức—trùng với ham muốn và nhu cầu của những kẻ tạo nên nó. Nhưng đôi khi chúng phủ nhận những khát vọng của những thiểu số hay giai cấp quan trọng, và rất thường xuyên chúng phủ nhận cả những bản năng sâu thẳm nhất của con người. Khi điều này xảy ra, xã hội sống trong thời kỳ khủng hoảng: nó bùng nổ hoặc đình trệ. Những kẻ tạo nên nó không còn là những con người mà bị biến thành những công cụ vô hồn đơn thuần.

Sự nhị nguyên vốn có trong mọi xã hội, mà mọi xã hội cố gắng giải quyết bằng cách biến nó thành một cộng đồng, ngày nay thể hiện mình bằng nhiều cách: thiện và ác, cho phép và cấm kỵ, cái lý tưởng và cái thật, cái lý trí và cái phi lý trí, đẹp và xấu, mơ và tỉnh, nghèo và giàu, tư sản và vô sản, vô minh và tri thức, tưởng tượng và lý lẽ. Bằng một chuyển động không thể cưỡng lại của chính mình, xã hội cố gắng vượt qua sự nhị nguyên này và biến các thành phần đối địch, đơn độc của nó thành một tổng thể hài hòa. Nhưng xã hội hiện đại lại cố gắng làm điều này bằng cách đàn áp biện chứng của đơn độc, mà chỉ mình nó khiến tình yêu là khả dĩ. Các xã hội công nghiệp, bất kể các “ý hệ” khác nhau của họ, chính trị và kinh tế, đều cố gắng thay đổi sự khác biệt định tính—con người—thành sự đồng nhất định lượng. Các phương pháp sản xuất hàng loạt cũng được áp dụng cho đạo đức, nghệ thuật và cảm xúc. Mâu thuẫn và ngoại lệ bị xóa bỏ, và điều đó dẫn đến việc đóng cửa tiếp cận của chúng ta đến kinh nghiệm sâu sắc nhất mà cuộc đời có thể đem lại, đó là khám phá thực tại như một sự đồng nhất nơi các sự đối lập hòa hợp với nhau. Những quyền lực mới cấm đoán sự đơn độc bằng mệnh lệnh… và từ đó họ cấm cả tình yêu, một hình thức hiệp thông bí mật và anh hùng. Bảo vệ tình yêu luôn luôn là một hoạt động nguy hiểm, phản xã hội. Bây giờ nó thậm chí còn bắt đầu có tính cách mạng. Vấn đề của tình yêu trong thế giới chúng ta cho thấy làm thế nào biện chứng của đơn độc, trong biểu hiện sâu sắc nhất của nó, bị xã hội chống đối. Cuộc sống xã hội của chúng ta ngăn chặn gần như mọi khả năng để có được sự hiệp thông tình ái đích thực.

*

Tình yêu là một trong những ví dụ rõ ràng nhất về cái bản năng kép khiến chúng ta đào sâu vào bản thân và đồng thời, nổi lên từ chính mình và nhận ra mình trong một kẻ khác: cái chết và sự tái tạo, sự đơn độc và sự hiệp thông. Nhưng nó không phải là thứ duy nhất. Trong cuộc đời mỗi người đều có những giai đoạn vừa là ra đi và đoàn tụ, chia ly và hòa giải. Mỗi giai đoạn này là một nỗ lực để vượt lên sự đơn độc, và theo sau là sự chìm đắm trong những môi trường xa lạ.

Đứa trẻ phải đối mặt với một thực tế không thể suy giảm, và ban đầu nó phản ứng với kích thích của nó bằng nước mắt hay im lặng. Sợi dây gắn nó với sự sống đã bị cắt đứt, và nó cố gắng khôi phục nó bằng sự chơi và tình cảm. Đây là khởi đầu của một cuộc đối thoại chỉ kết thúc khi nó đọc lời độc thoại của cái chết của mình. Nhưng quan hệ của nó với thế giới bên ngoài bây giờ không còn là thụ động, như trong sự sống trước khi sinh, bởi thế giới đòi hỏi một phản ứng. Thực tế phải được cư ngụ bởi những hành vi của nó. Nhờ trò chơi và tưởng tượng, thế giới tự nhiên trơ lỳ của người lớn—một cái ghế, một cuốn sách, bất cứ thứ gì—đột nhiên có cuộc sống riêng. Đứa trẻ sử dụng sức mạnh kỳ diệu của ngôn ngữ hoặc cử chỉ, biểu tượng hoặc hành động, để tạo ra một thế giới sống trong đó các đối tượng có khả năng trả lời các câu hỏi của nó. Ngôn ngữ, được giải phóng khỏi những ý nghĩa trí tuệ, không còn là một tập hợp các dấu hiệu và một lần nữa trở thành một sinh vật tinh vi và hấp dẫn. Sự biểu diễn bằng lời tương đương với sự tái tạo đối tượng, giống như đối với người nguyên thủy, chạm khắc không phải là một biểu diễn mà là một cặp với đối tượng được biểu diễn. Lời nói một lần nữa trở thành một hoạt động sáng tạo đối diện với các thực tế, tức một hoạt động thơ. Thông qua phép thuật đứa trẻ tạo ra một thế giới theo hình ảnh của mình và do đó giải quyết sự đơn độc của mình. Sự nhận thức về mình bắt đầu khi chúng ta nghi ngờ hiệu quả kỳ diệu của các công cụ của mình.

Tuổi thanh thiếu niên là một sự đổ vỡ với thế giới thơ ấu, một khoảng dừng trước ngưỡng cửa của thế giới trưởng thành. Spranger chỉ ra rằng đơn độc là một đặc điểm đặc biệt của tuổi thanh thiếu niên. Ái kỷ, cô độc, chính là hình ảnh của tuổi thanh thiếu niên. Trong giai đoạn này chúng ta lần đầu nhận thức được sự đơn nhất của mình. Nhưng biện chứng của cảm xúc một lần nữa can thiệp: bởi tuổi thanh thiếu niên là sự ý thức về mình đến cực độ, nó chỉ có thể vượt qua được bởi sự quên mình, sự tự đầu hàng. Bởi vậy đơn độc không chỉ là một thời gian của đơn độc mà còn của những sự lãng mạn vĩ đại, của chủ nghĩa anh hùng và sự hy sinh. Người ta có lý do chính đáng để hình dung anh hùng và người tình như những thanh thiếu niên. Tầm nhìn về thanh thiếu niên như một hình tượng đơn độc, khép kín trong bản thân và ngập tràn ham muốn hay sự rụt rè, hầu như luôn tan vào trong những đám đông nhảy múa, hát hò hay diễu hành thành một nhóm, hay vào một cặp đôi trẻ dạo bước tưới tàn cây xanh trong công viên. Người thanh thiếu niên mở mình trước thế giới: trước tình yêu, hành động, tình bạn, thể thao, những cuộc phiêu lưu anh hùng. Văn chương của các quốc gia hiện đại—trừ Tây Ban Nha, nơi họ không bao giờ xuất hiện ngoại trừ như những kẻ bất lương hay trẻ mồ côi—có đầy những thanh thiếu niên, đầy những sự đơn độc kiếm tìm sự hiệp thông: tìm chiếc nhẫn, thanh kiếm, Tầm nhìn. Thanh thiếu niên là một cuộc canh gác, cuối đó người ta bước vào thế giới của những thực tế.

Đơn độc không phải là đặc điểm của trưởng thành. Khi một người đàn ông đấu tranh với những người khác hay với những sự vật, anh ta quên mất bản thân trong công việc, trong sáng tạo hoặc trong xây dựng các đối tượng, các ý tưởng và thiết chế. Ý thức cá nhân của anh ta kết hợp với ý thức của người khác: thời gian mang ý nghĩa và mục đích và do đó trở thành lịch sử, một câu chuyện sinh động, có ý nghĩa với cả quá khứ và tương lai. Sự đơn nhất của chúng ta—xuất phát từ thực tế là chúng ta được đặt trong thời gian, một thời gian cụ thể tạo nên từ chính chúng ta và nuốt lấy chúng ta trong khi nó nuôi sống chúng ta—không thực sự bị xóa bỏ, mà nhỏ lại và theo một nghĩa nào đó, được “cứu chuộc.” Sự tồn tại cá nhân của chúng ta dự phần vào lịch sử, thứ trở thành, như Eliot nói, “một mẫu hình của những thời khắc vượt thời gian.” Do đó, trong những thời kỳ sống còn và năng suất, một người trưởng thành mắc bệnh đơn độc luôn luôn là một sự bất thường. Kiểu nhân vật đơn độc này rất phổ biến ngày nay, cho thấy sự trầm trọng của các căn bệnh chúng ta. Trong thời kỳ của làm việc nhóm, ca khúc nhóm, khoái lạc nhóm, con người cô đơn hơn bao giờ hết. Người hiện đại không bao giờ đầu hàng trước cái anh ta làm. Một phần anh ta—phần sâu sắc nhất—luôn luôn xa cách và cảnh giác. Anh ta do thám chính mình. Công việc, vị thần duy nhất của hiện đại, không còn là sáng tạo. Nó là công việc vô cùng vô tận, tương ứng với cuộc sống không hồi kết của xã hội hiện đại. Và sự đơn độc mà nó sinh ra—sự đơn độc ngẫu nhiên của các khách sạn, văn phòng, cửa hiệu và rạp chiếu phim—không phải là một thử thách tôi cứng linh hồn, một sự thanh tẩy cần thiết. Nó là một tội đày, phản ánh một thế giới không lối thoát.

*

Ý nghĩa kép của sự đơn độc—cắt đứt với một thế giới và nỗ lực tạo ra một thế giới khác—có thể thấy trong quan niệm của chúng ta về anh hùng, thánh nhân và những kẻ cứu chuộc. Huyền thoại, tiểu sử, lịch sử và thơ ca mô tả một thời kỳ thu mình và đơn độc—gần như là luôn luôn trong thời niên thiếu—trước khi trở lại với thế giới và với hành động. Đó là những năm chuẩn bị và nghiên cứu, nhưng trên hết đó là những năm hy sinh và sám hối, tự dò xét, chuộc tội và thanh tẩy. Arnold Toynbee đưa ra nhiều minh họa về ý tưởng này: huyền thoại về cái hang của Plato, cuộc đời của Thánh Paul, Buddha, Muhammad, Machiavelli, Dante. Và mọi chúng ta trong cuộc đời của chính mình, trong những giới hạn của chính mình, đều đã sống trong đơn độc và ngơi nghỉ, để thanh tẩy chính mình và rồi trở lại với thế giới.

Biện chứng của đơn độc—“chuyển động kép của thu mình và trở lại,” theo lời Toynbee, được bộc lộ rõ trong lịch sử của mỗi người. Có lẽ các xã hội cổ đại, không phức tạp bằng xã hội chúng ta, là những minh họa tốt hơn cho cái chuyển động kép này.

Không khó để hình dung mức độ đơn độc nào là một điều kiện nguy hiểm và đáng sợ với những người mà chúng ta gọi—một cách tự mãn và thiếu chính xác—là “nguyên thủy.” Trong các xã hội cổ, một hệ thống phức tạp và cứng nhắc các cấm đoán, các quy tắc và nghi lễ bảo vệ cá nhân khỏi sự đơn độc. Nhóm là nguồn sức khỏe duy nhất. Người đơn độc là một sự không hợp lệ, một nhánh cây chết phải chặt bỏ và đốt, vì xã hội như một toàn thể sẽ bị đe dọa nếu một thành tố của nó nhiễm bệnh. Sự lặp lại các niềm tin và công thức thế tục đảm bảo không chỉ sự trường tồn của nhóm mà còn cả sự thống nhất và gắn kết của nó; trong khi các nghi lễ tôn giáo và sự hiện diện liên tục của người chết, tạo ra một trung tâm của các mối quan hệ, hạn chế hành động độc lập, do đó bảo vệ cá nhân khỏi sự đơn độc và nhóm khỏi sự tan rã.

Đối với người nguyên thủy, sức khỏe và xã hội là những từ đồng nghĩa, chết và ly tán cũng vậy. Lévy-Bruhl nói bất cứ ai rời khỏi khu vực bản địa của mình đều “không còn thuộc về nhóm. Anh ta chết, và nhận được các nghi thức tang lễ theo phong tục.”[1] Sự lưu đày vĩnh viễn cũng giống như bản án tử hình. Sự đồng nhất của nhóm xã hội với những linh hồn tổ tiên của họ, và sự đồng nhất những linh hồn đó với đất đai, được thể hiện trong nghi thức biểu tượng ở châu Phi này: “Khi một người bản địa mang về một người vợ từ Kimberley, họ mang theo mình một chút đất từ quê nhà anh ta. Hằng ngày cô phải ăn một chút đất này… để quen với sự thay đổi nơi ở.” Sự đoàn kết xã hội của những người này có “một đặc tính hữu cơ, sống còn. Cá nhân thực sự là một phần của cơ thể.” Do đó những sự cải biến cá nhân là rất hiếm. “Không có riêng ai được cứu chuộc hay nguyền rủa,” và hành động của cá nhân ảnh hưởng đến toàn bộ nhóm.

Bất chấp mọi biện pháp bảo vệ này, nhóm không tránh khỏi sự ly tán. Mọi thứ đều có thể phá vỡ nó: chiến tranh, chia rẽ tôn giáo, sự thay đổi trong hệ thống sản xuất, những cuộc chinh phạt. Ngay khi nhóm bị chia sẽ, mỗi thành phần của nó gặp phải một tình cảnh quyết liệt mới. Khi nguồn sức khỏe—xã hội khép kín cũ—bị hủy diệt, sự đơn độc không còn là một mối đe dọa hay một tai nạn: nó là một thân phận, thân phận căn bản và tối hậu. Và nó dẫn đến một cảm giác tội lỗi—không phải một tội lỗi do vi phạm một quy tắc nào đó, mà là một tội lỗi hình thành nên một phần bản chất của họ. Hay chính xác hơn, một tội lỗi mà giờ là bản chất của họ. Sự đơn độc và tội lỗi nguyên thủy trở thành một. Sức khỏe và sự hiệp thông lại trở nên đồng nghĩa, nhưng được đặt trong một quá khứ xa xôi. Chúng tạo nên thời kỳ hoàng kim, một kỷ nguyên đi trước lịch sử và có lẽ có thể trở lại nếu chúng ta thoát được khỏi nhà tù của thời gian. Khi có ý thức về tội lỗi, chúng ta cũng nhận thức được nhu cầu được cứu chuộc và có một người cứu chuộc.

Một huyền thoại mới và một tôn giáo mới được tạo ra. Xã hội mới, không như xã hội cũ, mở và lưu động, bởi nó tạo nên từ những sự lưu vong. Việc sinh ra trong nhóm không còn đảm bảo một con người thuộc về nó: anh ta phải xứng đáng thuộc về nó. Cầu nguyện bắt đầu thay thế các công thức ma thuật, và các nghi thức tiếp nhận ngày càng chú trọng đến sự thanh tẩy. Ý niệm về sự cứu chuộc thúc đẩy những suy đoán tôn giáo, thần học, khổ tu và thần bí luận. Sự hy sinh và hiệp thông không còn là những lễ totem (nếu chúng từng là) và trở thành phương tiện để bước vào xã hội mới. Một vị thần—gần như luôn luôn là một vị thần cũng là một người con, một hậu duệ của những vị thần sáng tạo cổ đại—chết đi và được hồi sinh ở những thời kỳ cố định. Anh ta là một vị thần sinh sản nhưng cũng là một người cứu chuộc, và sự hy sinh của anh ta là một lời cam kết rằng nhóm là một tiền thân trên trần gian của một xã hội hoàn hảo đang chờ chúng ta ở phía bên kia cái chết. Những hy vọng về cuộc đời kế tiếp một phần là khao khát hoài niệm cái xã hội cũ. Sự trở về với thời kỳ hoàng kim tiềm ẩn trong lời hứa cứu rỗi.

Tất nhiên khó mà tìm ra tất cả những yếu tố này trong lịch sử của bất cứ một xã hội nào. Tuy nhiên, có nhiều xã hội vừa vặn với khuôn mẫu này ở hầu như mọi chi tiết. Hãy xem xét sự ra đời của Orphic giáo làm ví dụ. Giáo phái Orphic trỗi dậy sau sự hủy diệt nền văn minh Achaean, gây ra một sự ly tán lớn của thế giới Hy Lạp và tái phân bổ các dân tộc và tôn giáo của nó. Sự bức thiết của việc tái tạo những mối liên kết cổ xưa, cả xã hội và thiêng liêng, đã tạo ra một số giáo phái bí mật mà những người duy nhất tham gia là “những kẻ bị bật gốc, cấy ghép… mơ ước tạo nên một tổ chức mà họ không thể bị tách rời khỏi nó. Cái tên tập thể duy nhất của họ là cái tên của những kẻ ‘mồ côi.’”[2] (Tôi nên nói thêm rằng orphanos vừa có nghĩa là “mồ côi” vừa có nghĩa là “trống rỗng.” Đơn độc và mồ côi là những hình thức tương tự của sự trống rỗng.)

Các tôn giáo Orphic và Dionysiac, giống như các tôn giáo vô sản nở rộ trong sự sụp đổ của thế giới cổ đại, cho thấy rất rõ làm thế nào một xã hội đóng trở thành một xã hội mở. Cảm giác tội lỗi, đơn độc và chuộc tội, đóng một vai trò kép giống như trong đời sống của một cá nhân.

*

Cảm giác đơn độc, một khao khát hoài niệm cái cơ thể mà chúng ta bị ném ra khỏi đó, là khao khát một nơi chốn. Theo niềm tin cổ đại mà hầu hết mọi dân tộc đều tin, cái nơi chốn[3] ấy là trung tâm của thế giới, cái rốn của vũ trụ. Đôi khi nó được đồng nhất với thiên đường, và cả hai được đồng nhất với nguồn gốc thật hay huyền thoại của nhóm. Với người Aztec, người chết trở về với Mictlān, một nơi ở phương Bắc mà từ đó họ ra đi. Hầu hết mọi nghi thức gắn với việc thành lập những thành phố hay nhà ở đều dẫn dụ đến một cuộc tìm kiếm cái trung tâm thiêng liêng mà chúng ta đã bị đuổi ra khỏi đó. Các thánh địa vĩ đại—Rome, Jerusalem, Mecca—đều nằm ở trung tâm thế giới, hoặc tượng trưng và thể hiện nó. Những cuộc hành hương đến các thánh địa này là những sự lặp lại theo nghi thức cái mà nhóm đã làm trong quá khứ huyền thoại trước khi thành lập mình ở miền đất hứa. Phong tục đi quanh một ngôi nhà hoặc thành phố trước khi bước vào nó cũng có cùng nguồn gốc.

Huyền thoại về mê cung cũng liên quan đến nhóm niềm tin này. Nhiều ý niệm có liên quan với nhau khiến mê cung trở thành một trong những biểu tượng huyền thoại màu mỡ và ý nghĩa nhất: bùa hộ mệnh hoặc vật thể khác, có khả năng phục hồi sức khỏe hay tự do cho con người, nằm ở trung tâm của khu vực thiêng; anh hùng hay thánh nhân, sau khi hối lỗi và thực hiện các nghi thức đền tội, bước vào mê cung hoặc cung điện mê hoặc; và anh hùng trở về hoặc là để giải cứu hay cứu chuộc thành phố của mình, hoặc là để lập nên một thành phố mới. Trong huyền thoại Perseus các yếu tố huyền bí gần như vô hình, nhưng trong huyền thoại Chén Thánh thì khổ hạnh và thần bí có liên quan mật thiết với nhau: tội lỗi, thứ gây ra sự vô sinh trong các vùng đất và thần dân của Fisher King; những nghi thức thanh tẩy; cuộc chiến tâm linh; và cuối cùng, ân điển—tức là sự hiệp thông.

Chúng ta bị trục xuất khỏi trung tâm thế giới và bị kết án phải tìm kiếm nó qua các khu rừng và sa mạc hoặc trong các đường hầm dưới lòng đất của mê cung. Ngoài ra còn có một thời gian mà thời gian không phải là sự kế thừa và chuyển tiếp, mà là nguồn vĩnh cữu của một hiện tại mà mọi thời gian, quá khứ và tương lai, được chứa đựng trong đó. Khi con người bị lưu đày khỏi vĩnh cửu nơi mọi thời gian là một, anh ta bước vào thời gian đồng hồ và trở thành tù nhân của đồng hồ và lịch. Ngay khi thời gian được chia thành hôm qua, hôm nay và ngày mai, thành giờ, phút và giây, người không còn là một với thời gian, không còn trùng với dòng chảy của thực tại. Khi người ta nói “lúc này” thì lúc này đã qua. Những phép đo không gian của thời gian tách con người khỏi thực tại—một hiện tại liên tục—và biến mọi hiện diện mà qua đó thực tại thể hiện mình, như Bergson nói, thành những ảo tượng.

Nếu xem xét bản chất của hai ý niệm đối lập này chúng ta sẽ thấy thời gian đồng hồ là một sự kế thừa đồng nhất thiếu đi mọi tính đặc biệt. Nó luôn luôn như nhau, luôn luôn thờ ơ với khoái lạc hay nỗi đau. Mặt khác, thời gian huyền thoại lại thấm đẫm mọi chi tiết của cuộc sống chúng ta: nó dài như vĩnh cửu hoặc ngắn như một hơi thở, bất tiện hoặc thuận tiện, phì nhiêu hoặc khô cằn. Ý niệm này cho phép tồn tại nhiều thời gian khác nhau. Sự sống và thời gian kết hợp thành một toàn thể duy nhất, một sự thống nhất không thể phân chia. Với người Aztec, thời gian gắn với không gian, mỗi ngày gắn với một điểm chuẩn. Có thể nói như vậy với bất cứ tôn giáo nào khác. Một lễ hội không chỉ là một ngày hay một lễ kỷ niệm. Nó không kỷ niệm một sự kiện: nó tái tạo nó. Thời gian đồng hồ bị phá hủy và hiện tại vĩnh cửu—trong một khoảng thời gian ngắn nhưng bất tận—được phục hồi. Lễ hội trở thành kẻ tạo ra thời gian; sự lặp lại trở thành quan niệm. Thời kỳ hoàng kim trở lại. Bất cứ khi nào vị linh mục làm lễ Mầu nhiệm Thánh lễ, Chúa Kitô giáng hạ xuống hiện tại, hiến thân cho con người và cứu rỗi thế giới. Những kẻ thực sự tin, như Kierkegaard ước, là “những kẻ đương thời của Jesus.” Và huyền thoại và các lễ hội tôn giáo không chỉ là những cách duy nhất hiện tại có thể làm gián đoạn sự kế thừa. Tình yêu và thơ cũng cho chúng ta một mặc khải ngắn về thời gian nguyên thủy. Juan Ramón Jiménez viết “Thêm thời gian không là thêm vĩnh cửu,” nói đến sự vĩnh cửu của thời khắc thơ. Rõ ràng quan niệm về thời gian như một hiện tại cố định và như thực tại thuần túy là cổ xưa hơn quan niệm về thời gian đồng hồ, vốn không phải là sự lĩnh hội trực tiếp dòng chảy của thực tại mà thay vào đó là sự nhận ra sự trôi qua của nó.

Sự phân đôi này được thể hiện trong sự đối lập giữa lịch sử và huyền thoại hay giữa lịch sử và thơ. Trong huyền thoại—như trong lễ hội tôn giáo hay truyện trẻ con—thời gian không có ngày tháng: “Ngày xửa ngày xưa…” “Thời động vật còn biết nói…” “Vào lúc ban đầu…” Và cái ban đầu đó, không phải là một năm một ngày nào đó, chứa đựng mọi khởi đầu và đưa chúng ta vào thời gian sống nơi mọi thứ thực sự bắt đầu mọi khoảnh khắc. Thông qua nghi lễ, thứ hiện thực hóa và tái tạo một câu chuyện huyền thoại, và cũng thông qua thơ và truyện cổ tích, con người được tiếp cận với một thế giới nơi các mặt đối lập được hòa giải và thống nhất. Như van der Leeuw nói, “mọi nghi lễ đều có đặc tính là diễn ra trong hiện tại, trong chính khoảnh khắc này.”[4] Mỗi bài thơ chúng ta đọc là một sự tái tạo, một nghi thức nghi lễ, một lễ hội.

Kịch và sử thi cũng là những lễ hội. Trong diễn kịch và đọc thơ, thời gian thông thường ngừng hoạt động và được thay thế bằng thời gian nguyên thủy. Nhờ sự tham gia này mà thời gian huyền thoại—cha đẻ của mọi thời gian che giấu hiện thực—trùng với thời gian chủ quan, bên trong của chúng ta. Người, tù nhân của sự kế thừa, thoát khỏi nhà tù vô hình của anh ta và bước vào thời gian sống: cuộc sống chủ quan của anh ta trở nên đồng nhất với thời gian bên ngoài, bởi vì nó không còn là một phép đo không gian và đã biến thành một nguồn, một dòng suối, trong hiện tại tuyệt đối, tự tái tạo mình một cách bất tận. Huyền thoại và lễ hội, dù tôn giáo hay thế tục, cho phép con người nổi lên khỏi sự đơn độc và trở thành một với sự sáng tạo. Bởi vậy mà huyền thoại—được ngụy trang, mơ hồ, che giấu—tái xuất hiện trong gần như mọi hành động của chúng ta và can thiệp một cách dứt khoát vào lịch sử của chúng ta: nó mở ra những cánh cửa của hiệp thông.

*

Con người đương đại đã hợp lý hóa các huyền thoại, nhưng không thể hủy diệt chúng. Nhiều sự thật khoa học của chúng ta, giống như phần lớn các quan niệm đạo đức, chính trị và triết học, chỉ là những cách mới để thể hiện những khuynh hướng đã được thể hiện trước đó dưới hình thức huyền thoại. Ngôn ngữ duy lý của thời đại chúng ta hầu như không thể che giấu những huyền thoại cổ đại đằng sau nó. Những xứ không tưởng—nhất là những xứ không tưởng của chính trị hiện đại (bất chấp sự ngụy trang lý lẽ của chúng)—là những biểu hiện tập trung một cách bạo lực của cái xu hướng khiến mọi xã hội hình dung ra một thời kỳ hoàng kim mà nhóm xã hội đã bị lưu đày khỏi đó và là nơi con người sẽ trở lại vào Ngày của mọi Ngày. Các lễ hội hiện đại—các cuộc mít tinh chính trị, diễu hành, biểu tình và các nghi lễ khác—hình dung cái ngày cứu chuộc ấy đến. Ai cũng hy vọng xã hội sẽ trở lại với sự tự do ban đầu, con người trở lại với sự thuần khiết nguyên thủy. Rồi thời gian sẽ không còn hành hạ chúng ta bằng những nghi ngờ, với sự cần thiết phải lựa chọn giữa thiện và ác, công bằng và bất công, thực tế và tưởng tượng. Vương quốc của hiện tại cố định, của sự hiệp thông vĩnh cửu, sẽ được lập lại. Thực tại sẽ xé bỏ mặt nạ của nó, và cuối cùng chúng ta sẽ có thể biết cả nó lẫn đồng loại của chúng ta.

Mọi xã hội khô cằn hoặc sắp chết đều cố gắng cứu mình bằng cách tạo ra một huyền thoại cứu chuộc, cũng là một huyền thoại sinh sôi, một huyền thoại sáng tạo. Sự đơn độc và tội lỗi được giải quyết trong sự hiệp thông và sinh sản. Xã hội mà chúng ta đang sống cũng đã tạo ra huyền thoại của chính nó. Sự vô sinh của thế giới tư sản sẽ kết thúc bằng cách tự sát hoặc bằng một hình thức mới của sự tham gia sáng tạo. Đây là “chủ đề của thời đại chúng ta,” như Ortega y Gasset nói; nó là chất của những giấc mơ chúng ta mơ và ý nghĩa của những việc chúng ta làm.

Con người hiện đại thích làm như là suy nghĩ của anh ta là tỉnh táo. Nhưng cái suy nghĩ tỉnh táo này đã dẫn chúng ta đến những mê cung của một cơn ác mộng nơi các phòng tra tấn lặp lại bất tận trong những tấm gương của lý trí. Khi thoát ra, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra chúng ta đã mơ với đôi mắt mở, và những giấc mơ của lý trí là không thể chịu nổi. Và rồi, có lẽ, chúng ta sẽ bắt đầu mơ một lần nữa với đôi mắt nhắm.

Octavio Paz, “The Dialectic of Solitude,” The Labyrinth of Solitude, trans. Lysander Kemp (Grove Press, 1961).

Copyright © 1950 by Octavio Paz | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

[1] Lucien Levy-Bruhl, La mentalité primitive (Paris: 1922).

[2] Amable Audin, Les fêtes solaires (Paris: 1945).

[3] Về ý niệm “chốn thiêng,” xem Mircéa Eliade, Traité d’histoire des religions (Paris: 1949).

[4] Van der Leeuw, L’homme primitif et la religion (Paris: 1940).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on August 2, 2019 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: