Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

W. H. Auden: Đọc

W. H. Auden sinh năm 1907 ở York, Anh Quốc và theo học ngành Văn học Anh tại Christ Church, Đại học Oxford, nơi ông kết bạn với các nhà thơ Cecil Day-Lewis, Louis MacNeice, và Stephen Spender. Ông đến Mỹ năm 1939 và trở thành công dân Hoa Kỳ năm 1946. Là tác giả của nhiều tập thơ, một số tiểu luận và lời nhạc kịch, Auden được trao giải Pulitzer cho thơ năm 1948, giải Bollingen năm 1953, và giải Sách Quốc gia Mỹ cho thơ năm 1956, và từ năm 1956 đến năm 1961 là Giáo sư về Thơ tại Đại học Oxford. Ông qua đời ở Vienna năm 1973.

Đọc

Sách là một tấm gương: nếu có một con lừa nhìn vào đó, bạn không thể trông chờ có một tông đồ ngó ra. —C. G. Lichtenberg

Người ta chỉ có thể đọc tốt cái gì họ đọc vì một mục đích cá nhân nào đó. Nó có thể là để tích lũy một chút quyền lực. Nó có thể là vì lòng thù ghét tác giả. —Paul Valéry

Mối quan tâm của một nhà văn và mối quan tâm của người đọc anh ta không bao giờ giống nhau và nếu đôi khi nó có trùng khớp nhau thì đấy là một sự tình cờ may mắn.

Với một nhà văn, hầu hết độc giả tin vào Tiêu chuẩn Kép: họ có thể không chung thủy với anh ta bao nhiêu lần tùy thích, nhưng anh ta không bao giờ, không bao giờ được bất tín với họ.

Đọc tức là dịch, bởi không có trải nghiệm của hai người nào là giống nhau. Một người đọc tồi giống như một dịch giả tồi: anh ta dịch theo nghĩa đen khi anh ta phải diễn giải lại và diễn giải lại khi anh ta nên dịch theo nghĩa đen. Trong việc học cách đọc tốt, sự học rộng, tuy có giá trị, lại không quan trọng bằng bản năng; một số học giả lớn là những dịch giả tồi.

Chúng ta thường thu được nhiều lợi ích từ việc đọc một cuốn sách theo cách khác với cách tác giả của nó dự định nhưng (một khi tuổi thơ đã kết thúc) chỉ khi chúng ta biết là mình đang làm như vậy.

Là độc giả, hầu hết chúng ta, ở một mức độ nào đó, đều giống như những đứa trẻ nghịch ngợm vẽ thêm ria mép lên khuôn mặt của các cô gái trên biển quảng cáo.

Một dấu hiệu cho thấy một cuốn sách có giá trị văn học là nó có thể được đọc theo nhiều cách khác nhau. Ngược lại, bằng chứng cho thấy dâm thư không có giá trị văn học là, nếu cố đọc nó theo bất kỳ cách nào khác ngoài kích thích tình dục, đọc nó như một bệnh sử tâm lý của những tưởng tượng tình dục của tác giả chẳng hạn, thì người ta sẽ chán muốn chết.

Tuy có thể đọc một tác phẩm văn học theo nhiều cách, con số này là hữu hạn và có thể sắp xếp theo thứ hạng; một số cách đọc rõ ràng là “đúng hơn” những cách khác, một số đáng ngờ, một số rõ ràng là sai, và một số, như đọc một cuốn tiểu thuyết từ cuối lên đầu, là vô lý. Đó là lý do, để mang đến đảo hoang, người ta sẽ chọn một cuốn từ điển tốt thay vì kiệt tác văn học vĩ đại nhất có thể tưởng tượng được, bởi lẽ, với độc giả của nó, một cuốn từ điển thì hoàn toàn thụ động và có thể được đọc một cách chính đáng theo vô số cách.

Chúng ta không thể đọc một tác giả lần đầu giống như cách chúng ta đọc cuốn sách mới ra của một tác giả đã thành danh. Ở một tác giả mới, chúng ta có xu hướng chỉ thấy những ưu điểm hoặc chỉ thấy những khuyết điểm của anh ta và ngay cả khi nhìn thấy cả hai, chúng ta cũng không thể nhìn thấy mối quan hệ giữa chúng. Với một tác giả đã thành danh, nếu còn đọc được anh ta, chúng ta biết mình không thể tận hưởng những ưu điểm mà chúng ta ngưỡng mộ ở anh ta mà không dung thứ cho những khiếm khuyết chúng ta lấy làm tiếc. Hơn nữa, đánh giá về một tác giả đã thành danh không bao giờ chỉ đơn thuần là một đánh giá thẩm mỹ. Ngoài bất kỳ giá trị văn học nào mà nó có thể có, cuốn sách mới của anh ta còn có một mối quan tâm lịch sử đối với chúng ta trong vai trò là hành động của một người mà chúng ta đã quan tâm từ lâu. Anh ta không chỉ là một nhà thơ hay một tiểu thuyết gia; anh ta còn là một nhân vật trong tiểu sử của chúng ta.

Một nhà thơ không thể đọc một nhà thơ khác, một tiểu thuyết gia cũng không thể đọc một tiểu thuyết gia khác, mà không so sánh tác phẩm của họ với tác phẩm của chính mình. Những đánh giá của anh ta trong lúc đọc thuộc loại này: Chúa ơi! Ông cố của tôi ơi! Chú tôi ơi! Kẻ thù của tôi ơi! Em tôi ơi! Người anh em khờ khạo của tôi ơi!

Trong văn chương, tầm thường còn đỡ hơn đồ bỏ đi, cũng như rượu rẻ còn đỡ hơn nước cất.

Cái gu tốt là vấn đề biết phân biệt hơn là vấn đề loại trừ [một tác phẩm nào đó], và khi cái gu tốt buộc phải loại trừ thì nó làm thế với sự hối tiếc, chứ không phải với niềm vui.

Niềm vui không phải là một chỉ dẫn quan yếu, không thể sai, nhưng nó là cái ít sai nhất.

Sự đọc của một đứa trẻ thì được dẫn dắt bởi niềm vui, nhưng niềm vui của nó không phân biệt; nó không thể phân biệt, ví dụ, niềm vui thẩm mỹ với niềm vui của học tập hay mơ mộng. Ở tuổi vị thành niên, chúng ta nhận ra có nhiều kiểu niềm vui, một số không thể tận hưởng cùng lúc, nhưng chúng ta cần người khác giúp đỡ để xác định những niềm vui đó. Dù là gu ẩm thực hay gu văn chương, người ở tuổi vị thành niên vẫn tìm một người thầy mà họ có thể tin tưởng vào thẩm quyền của người đó. Họ ăn hoặc đọc theo lời khuyên của người thầy và chắc chắn, có những lúc họ phải tự lừa dối mình một chút; họ phải giả vờ họ thích ô liu hay Chiến tranh và Hòa bình hơn một chút so với thực tế. Trong độ tuổi từ hai mươi đến bốn mươi, chúng ta bước vào quá trình khám phá bản thân mình là ai, bao gồm việc tìm hiểu sự khác biệt giữa giới hạn ngẫu nhiên mà nhiệm vụ của chúng ta là vượt qua nó với những giới hạn tất yếu của bản chất chúng ta, cái chúng ta không thể vượt qua mà không bị trừng phạt. Rất ít người trong chúng ta có thể học được điều này mà không phạm sai lầm, mà không cố gắng trở thành một con người toàn năng hơn chúng ta được phép. Chính trong thời kỳ này, một nhà văn có thể dễ dàng bị một nhà văn khác hoặc bị một ý thức hệ nào đó dẫn đi lạc lối. Khi ai đó từ hai mươi đến bốn mươi nói, về một tác phẩm nghệ thuật, “Tôi biết mình thích gì,” thực ra anh ta đang nói, “Tôi không có gu riêng nhưng tôi chấp nhận gu của môi trường văn hóa quanh tôi,” bởi vì, từ hai mươi đến bốn mươi, dấu hiệu chắc chắn nhất cho thấy một người có gu đích thực của riêng mình là việc anh ta không chắc chắn về nó. Sau bốn mươi, nếu chúng ta không mất đi cái tôi đích thực của mình, thì niềm vui có thể trở lại như khi chúng ta còn nhỏ, chỉ dẫn đúng đắn cho những gì chúng ta nên đọc.

Tuy niềm vui mà các tác phẩm nghệ thuật mang lại cho chúng ta không được nhầm lẫn với những niềm vui khác mà chúng ta tận hưởng, nhưng nó cũng có liên quan đến tất cả những niềm vui kia chỉ đơn giản là vì nó là niềm vui của chúng ta chứ không phải ai khác. Mọi đánh giá, thẩm mỹ hay đạo đức, mà chúng ta đưa ra, dẫu chúng ta có cố gắng khách quan như thế nào, đều một phần là sự hợp lý hóa và một phần là kỷ luật giáo huấn những mong muốn chủ quan của chúng ta. Một người làm thơ hay viết tiểu thuyết thì giấc mơ về Vườn Địa Đàng của anh ta là việc riêng của anh ta, nhưng khi anh ta bắt đầu viết phê bình văn học thì sự trung thực yêu cầu anh ta phải mô tả nó cho độc giả, để họ có thể đánh giá các đánh giá của anh ta. Theo đó, bây giờ tôi phải đưa ra câu trả lời cho một bảng câu hỏi mà tôi từng tạo ra để cung cấp loại thông tin tôi muốn có cho mình khi đọc các nhà phê bình khác.

VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

Phong cảnh

Miền cao đá vôi như dãy đồi Pennines cộng với một vùng nhỏ đá lửa có ít nhất một ngọn núi lửa đã tắt. Một bờ biển dốc đứng và thụt vào.

Khí hậu

Như nước Anh

Nguồn gốc dân tộc

Rất đa dạng như ở Hoa Kỳ, nhưng dân Bắc Âu chiếm ưu thế nhẹ.

Ngôn ngữ

Có nguồn gốc pha trộn như tiếng Anh, nhưng nhiều biến tố.

Khối lượng & đo lường

Bất thường và phức tạp. Không có hệ thập phân.

Tôn giáo

Công giáo La Mã không câu nệ kiểu Địa Trung Hải. Rất nhiều vị thánh địa phương.

Kích cỡ thủ đô

Con số lý tưởng của Plato, 5004, gần đúng.

Hình thức chính phủ

Quân chủ tuyệt đối, bầu trọn đời một cách ngẫu nhiên.

Nguồn năng lượng tự nhiên

Gió, nước, than bùn, than đá. Không có dầu.

Hoạt động kinh tế

Khai thác chì, khai thác than, nhà máy hóa chất, nhà máy giấy, chăn nuôi cừu, làm nông nghiệp nhỏ, làm vườn nhà kính.

Phương tiện vận chuyển

Ngựa và xe ngựa kéo, đường sắt khổ hẹp, xà lan kênh, khinh khí cầu. Không ô tô hay máy bay.

Kiến trúc

Nhà nước: Baroque. Giáo hội: Kiến trúc La Mã hoặc Byzantine. Trong nhà: Anh Quốc thế kỷ XVIII hoặc Thuộc địa Mỹ.

Nội thất và thiết bị trong nhà

Theo kiểu Victoria trừ nhà bếp và phòng tắm, nơi có đủ các thiết bị hiện đại nhất có thể.

Trang phục chính thức

Thời trang Paris vào những năm 1830 và những năm 1840.

Nguồn thông tin công cộng

Tin đồn. Các ấn phẩm kỹ thuật và trí thức định kỳ nhưng không có báo chí.

Tượng công cộng

Giới hạn trong các đầu bếp quá cố nổi tiếng.

Giải trí công cộng

Các đám rước tôn giáo, các ban nhạc kèn đồng, opera, múa ba lê cổ điển. Không có phim, đài phát thanh hay truyền hình.

Nếu tôi thử viết tên mọi nhà thơ và tiểu thuyết gia có tác phẩm mà tôi thực sự thấy biết ơn vì tôi biết là nếu không đọc chúng thì cuộc sống của tôi sẽ nghèo nàn hơn, danh sách sẽ dài nhiều trang. Nhưng khi tôi cố nghĩ về tất cả các nhà phê bình mà tôi thực sự biết ơn, tôi thấy mình có một danh sách gồm 34 cái tên. Trong số đó, mười hai người là người Đức và chỉ có hai người là người Pháp. Điều này cho thấy một sự thiên vị có chủ ý? Đúng thế.

Nếu các nhà phê bình văn học giỏi hiếm có hơn các nhà thơ hay các tiểu thuyết gia giỏi thì một nguyên nhân là bản chất vị kỷ của con người. Một nhà thơ hay một tiểu thuyết gia phải học cách khiêm tốn trước đối tượng của họ, tức là cuộc sống nói chung. Nhưng đối tượng của một nhà phê bình, cái anh ta phải học cách khiêm tốn trước nó, lại được tạo nên từ các tác giả, tức là từ các cá nhân con người, và loại khiêm tốn này thì khó đạt được hơn nhiều. Nói “Cuộc sống quan trọng hơn bất cứ điều gì tôi có thể nói về nó” thì dễ hơn nhiều so với nói “Tác phẩm của ông A quan trọng hơn bất cứ điều gì tôi có thể nói về nó.”

Có những người quá thông minh để trở thành tác giả, nhưng họ không trở thành nhà phê bình.

Các tác giả có thể rất ngu, Chúa mới biết được, nhưng họ không phải lúc nào cũng hẳn là ngu như một típ nhà phê bình nhất định dường như nghĩ. Tôi muốn nói đến típ nhà phê bình mà, khi anh ta chê bai một tác phẩm hay một đoạn văn, anh ta không bao giờ nghĩ đến khả năng là tác giả của nó đã có thể thấy trước chính xác những gì nhà phê bình sẽ nói.

Chức năng của một nhà phê bình là gì? Theo tôi biết, anh ta có thể cung cấp cho tôi một hoặc nhiều trong số các dịch vụ sau:

1) Giới thiệu cho tôi các tác giả hay tác phẩm mà tôi chưa biết đến.

2) Thuyết phục tôi rằng tôi đã đánh giá thấp một tác giả hay một tác phẩm vì tôi đã không đọc họ cẩn thận.

3) Cho tôi thấy mối quan hệ giữa các tác phẩm của các thời đại và các nền văn hóa khác nhau mà tôi không bao giờ có thể thấy vì tôi không và sẽ không bao giờ biết đủ.

4) Đưa ra một “cách đọc” một tác phẩm làm tăng sự hiểu biết của tôi về nó.

5) Soi sáng quá trình “Làm” nghệ thuật.

6) Soi sáng mối quan hệ giữa nghệ thuật với đời sống, với khoa học, kinh tế, đạo đức, tôn giáo, v.v.

Ba dịch vụ đầu tiên đòi hỏi sự học rộng. Một học giả không chỉ đơn thuần là một người có kiến thức sâu rộng; kiến thức đó phải có giá trị đối với người khác. Người ta sẽ không gọi một người thuộc lòng Danh bạ điện thoại Manhattan là một học giả, vì không thể tưởng tượng ra hoàn cảnh nào mà anh ta sẽ có được một học trò. Vì sự học rộng ngụ ý mối quan hệ giữa một người biết nhiều hơn với một người biết ít hơn nên nó có thể là tạm thời; với công chúng, mỗi người điểm sách đều tạm thời một học giả, bởi anh ta đã đọc cuốn sách mà anh ta đang điểm còn công chúng thì chưa. Tuy kiến thức mà một học giả sở hữu phải có tiềm năng có giá trị, nhưng anh ta không nhất thiết phải tự mình nhận ra giá trị đó; luôn luôn có khả năng là người học trò mà anh ta truyền đạt kiến thức của mình sẽ cảm nhận tốt giá trị của nó hơn là anh ta. Nói chung, khi đọc một nhà phê bình học rộng, người ta thu được nhiều lợi ích từ các trích dẫn của anh ta hơn là từ các bình luận của anh ta.

Ba dịch vụ cuối không đòi hỏi kiến thức vượt trội mà đòi hỏi cái nhìn vượt trội. Một nhà phê bình cho thấy cái nhìn vượt trội nếu những câu hỏi anh ta đưa ra là mới mẻ và quan trọng, dẫu nhiều người có thể không đồng ý với những câu trả lời của anh ta. Có lẽ không mấy độc giả thấy có thể chấp nhận các kết luận của Tolstoy trong Nghệ thuật là gì?, nhưng một khi đã đọc nó, người ta không bao giờ có thể bỏ qua các câu hỏi Tolstoy nêu ra được nữa.

Một điều mà tôi nhất quyết không cầu đến ở một nhà phê bình là anh ta bảo tôi rằng tôi nên chấp nhận hay chê bai những gì. Tôi không phản đối việc anh ta nói cho tôi biết những tác phẩm và tác giả mà anh ta thích và không thích; biết điều đó quả thật là hữu ích bởi lẽ, từ sự thích hay không thích của anh ta đối với các tác phẩm mà tôi đã đọc, tôi sẽ biết khả năng tôi đồng ý hay không đồng ý với những phán quyết của anh ta về những tác phẩm mà tôi chưa đọc. Nhưng anh ta chớ có dại mà áp đặt luật lệ lên tôi. Tôi chọn đọc gì là trách nhiệm của tôi, và không một người nào khác trên trái đất có thể làm điều đó thay tôi.

Các ý kiến phê phán của một nhà văn chỉ nên đọc cho biết vậy thôi. Phần lớn đó là những biểu hiện của cuộc tranh luận của anh ta với chính mình về cái anh ta nên làm tiếp theo và cái anh ta nên tránh. Hơn nữa, không như một nhà khoa học, anh ta thậm chí còn không biết các đồng nghiệp đang làm gì hơn công chúng biết. Một nhà thơ trên 30 tuổi vẫn có thể là một độc giả phàm đọc, nhưng không chắc phần lớn những gì anh ta đọc là thơ hiện đại.

Rất ít người trong chúng ta có thể tự hào một cách trung thực rằng chúng ta chưa bao giờ chê bai một cuốn sách hay thậm chí một tác giả dựa trên tin đồn, nhưng khá nhiều người có thể tự hào rằng chúng ta chưa bao giờ ca ngợi một cuốn sách mà chúng ta chưa đọc.

Lời răn “Đừng chống lại cái ác mà hãy vượt cái ác bằng cái thiện” có thể không thể nào tuân theo một cách chi ly trong nhiều lĩnh vực đời sống, nhưng trong lĩnh vực nghệ thuật, đó là lẽ thường. Nghệ thuật tồi luôn ở bên chúng ta, nhưng bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào cũng luôn luôn tồi trong một giai đoạn; kiểu tồi mà nó thể hiện sẽ qua đi để được nối tiếp bằng một kiểu tồi khác. Do đó không cần thiết phải tấn công nó, vì dù sao nó cũng sẽ diệt vong. Nếu Macaulay chưa bao giờ viết bài phê bình Robert Montgomery thì ngày nay chúng ta đã không có cái ảo tưởng rằng Montgomery là một nhà thơ lớn. Cách làm hợp lý duy nhất đối với một nhà phê bình là im lặng về các tác phẩm mà anh ta cho là tồi, đồng thời xiển dương các tác phẩm mà anh ta tin là hay, nhất là khi nó bị công chúng bỏ rơi hoặc đánh giá thấp.

Một số cuốn bị quên mà không đáng quên; không cuốn nào được nhớ mà không đáng nhớ.

Một số nhà phê bình cho rằng vạch trần cái tồi của một tác giả là nghĩa vụ đạo đức của họ, vì nếu không, anh ta có thể làm hỏng các nhà văn khác. Chắc chắn, một nhà văn trẻ có thể bị một nhà văn tồi dẫn lạc lối, bị chệch hướng khỏi con đường thực sự của anh ta, nhưng anh ta có nhiều khả năng bị một nhà văn tốt quyến rũ hơn là một nhà văn tồi. Nhà văn càng mạnh và độc đáo thì càng nguy hiểm đối với những tài năng kém hơn đang cố gắng tìm kiếm chính mình. Mặt khác, các tác phẩm bản thân nó nghèo nàn thì thường tỏ ra là sự kích thích trí tưởng tượng và trở thành nguyên nhân gián tiếp cho tác phẩm tốt ở người khác.

Bạn không giáo dục vị giác của một người bằng cách nói với anh ta rằng thói quen ăn của anh ta – bắp cải luộc quá nhừ, quá nhiều nước, ví dụ thế – thật kinh tởm, mà bằng cách thuyết phục anh ta thử một món rau đã được nấu đúng cách. Đúng là với một số người, nói “Chỉ phàm phu tục tử mới thích bắp cải nhừ; người sành ăn thích kiểu nấu của người Trung Quốc” thì dường như sẽ có kết quả nhanh hơn, nhưng ít khả năng nó lâu bền được.

Nếu, khi một nhà điểm sách mà tôi tin tưởng chê bai một cuốn sách nào đó, tôi cảm thấy một nỗi nhẹ nhõm nhất định, thì đấy chỉ là vì có nhiều cuốn sách được xuất bản đến nỗi tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi nghĩ “Chà, ít nhất đây là một cuốn tôi không cần bận tâm.” Nhưng nếu anh ta im lặng thì tác động cũng vẫn thế.

Tấn công những cuốn sách dở không chỉ phí thời gian mà còn làm tổn hại nhân cách. Nếu tôi thấy cuốn này thật sự dở thì niềm vui duy nhất mà tôi có thể có từ việc viết về nó phải đến từ chính tôi, từ sự thể hiện trí tuệ, sự dí dỏm và sự hiểm độc mà tôi có thể viện ra được. Người ta không thể điểm một cuốn sách dở mà không khoe mẽ.

Có một cái ác liên quan đến văn học không bao giờ được bỏ qua trong im lặng mà phải liên tục tấn công công khai, đó là sự băng hoại của ngôn ngữ, bởi các nhà văn không thể tự phát minh ra ngôn ngữ của mình mà phải phụ thuộc vào ngôn ngữ mà họ thừa hưởng, cho nên nếu ngôn ngữ băng hoại thì họ cũng băng hoại. Nhưng nhà phê bình quan tâm đến cái ác này phải tấn công nó ở gốc gác của nó, tức là không phải trong các tác phẩm văn học mà là trong sự lạm dụng ngôn ngữ của một người bất kỳ, các nhà báo, các chính trị gia, v.v. Hơn nữa, anh ta phải thực hành được cái anh ta rao giảng. Có bao nhiêu nhà phê bình ở Anh hay Mỹ ngày nay là bậc thầy tiếng mẹ đẻ của họ như Karl Kraus là một bậc thầy tiếng Đức?

Người ta không thể đổ lỗi cho các nhà điểm sách. Có lẽ hầu hết họ chỉ muốn điểm những cuốn, bất kể thiếu sót của chúng là gì, mà họ tin là đáng đọc, nhưng nếu một nhà điểm sách thường xuyên cho một tờ báo Chủ nhật nghe theo sở thích của mình thì ít nhất ba Chủ nhật lại có một Chủ nhật cột báo của anh ta để trống. Lại nữa, bất kỳ nhà phê bình tận tâm nào từng phải điểm một tập thơ mới trong một không gian hạn chế đều biết rằng điều công bằng duy nhất anh ta có thể làm là đưa ra một loạt trích dẫn mà không bình luận gì, nhưng nếu làm thế, chủ biên của anh ta sẽ phàn nàn rằng anh ta không viết ra tiền.

Tuy nhiên, các nhà điểm sách có thể bị khiển trách một cách chính đáng vì thói quen dán nhãn và đóng gói các tác giả. Ban đầu các nhà phê bình phân loại các tác giả theo tác giả Xưa, tức là các tác giả tiếng Hy Lạp và Latinh, và tác giả Nay, nghĩa là mọi tác giả hậu cổ điển. Rồi họ phân loại theo thời kỳ, tác giả thời Augustus, thời Victoria, v.v., và bây giờ họ phân loại theo hàng thập niên, các nhà văn thập niên 30, 40, v.v. Rồi chẳng mấy mà họ sẽ phân loại các tác giả, như phân loại xe hơi, theo năm. Việc phân loại theo thập niên đã là vô lý, vì nó gợi ý rằng các tác giả, một cách tiện cho họ, dừng viết ở tuổi 35, khoảng đó.

“Đương thời” là một từ bị lạm dụng nhiều. Người đương thời chỉ đơn giản là những người cũng ở trên trái đất khi tôi còn sống, bất kể họ là trẻ sơ sinh hay đã trăm tuổi.

Một nhà văn, hay ít nhất là một nhà thơ, luôn luôn được hỏi bởi những người nên biết ý hơn: “Anh viết cho ai?” Đó tất nhiên là một câu hỏi ngớ ngẩn, nhưng tôi có thể cho nó một câu trả lời ngớ ngẩn. Thỉnh thoảng tôi gặp được một cuốn sách mà tôi cảm thấy được viết cho tôi và cho riêng tôi mà thôi. Như một người tình đầy ghen tuông, tôi không muốn ai biết về nó. Có một triệu độc giả như vậy, không biết về sự tồn tại của nhau, được đọc một cách say mê và không bao giờ bị nói về, đó là giấc mơ, chắc chắn, của mọi tác giả.

W. H. Auden, “Reading,” The Dyer’s Hand and Other Essays (Random House, 1962).

Copyright © 1962 by W. H. Auden | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Một bản của bản dịch này được đăng lần đầu trên Văn nghệ Quân đội số 948+949 (tháng 9/2020).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on November 23, 2020 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: