Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Tại sao các nước giàu lại dân chủ?


Nguồn: Ricardo Hausmann, “Why Are Rich Countries Democratic?Project Syndicate, Mar. 26, 2014.
Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

us-congress

Khi 22 tuổi, Adam Smith đưa ra một tuyên bố nổi tiếng, “Điều kiện tiên quyết để đưa một quốc gia từ mức độ man rợ thấp nhất đến phồn thịnh cao nhất là không gì khác ngoài hòa bình, thuế khóa vừa phải, và một sự quản trị công lý phù hợp: mọi điều còn lại là do quá trình tự nhiên của sự vật đem tới.”[1] Ngày nay, gần 260 năm sau, chúng ta biết điều đó là hoàn toàn sai lầm.

Việc chiếc máy bay mang số hiệu MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines biến mất đã chứng tỏ Smith sai lầm ra sao khi nó làm nổi bật sự tương tác phức tạp giữa nhà nước và nền sản xuất hiện đại. Để đảm bảo đi lại bằng hàng không khả thi và an toàn, nhà nước đảm bảo phi công biết cách lái máy bay và chiếc máy bay đó phải vượt qua các bài kiểm tra nghiêm ngặt. Họ xây dựng sân bay và cung cấp hệ thống ra-đa và vệ tinh để theo dõi các máy bay, kiểm soát không lưu để giữ chúng bay cách xa nhau, và các dịch vụ an ninh để ngăn chặn những kẻ khủng bố. Và, khi có sự cố, người ta không cần đến sự hỗ trợ từ hòa bình, thuế khóa hợp lý, và công lý; mà cần đến các cơ quan chính phủ chuyên nghiệp, có nguồn lực dồi dào.

Mọi nền kinh tế tiên tiến hiện nay có vẻ cần nhiều hơn những gì Smith dự đoán hồi ông còn trẻ. Các chính phủ không chỉ lớn và phức tạp, bao gồm hàng ngàn cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hàng triệu trang quy tắc và quy định; họ còn dân chủ – và không chỉ bởi họ tổ chức bầu cử thường xuyên. Tại sao?

Khi xuất bản cuốn The Wealth of Nations[2] ở tuổi 43, Smith trở thành nhà khoa học về sự phức tạp (complexity scientist) đầu tiên. Ông hiểu rằng nền kinh tế là một hệ thống phức tạp cần phối hợp công việc của hàng ngàn người chỉ để tạo nên những thứ đơn giản như một bữa ăn hay một bộ đồ.

Nhưng Smith cũng hiểu rằng trong khi nền kinh tế quá phức tạp để một người có thể tổ chức được thì nó lại có khả năng tự tổ chức. Nó sở hữu một “bàn tay vô hình,” thứ hoạt động thông qua giá cả thị trường để cung cấp một hệ thống thông tin có thể dùng để tính toán rằng liệu việc sử dụng những nguồn lực cho một mục đích nhất định là có đáng hay không – tức là có lợi nhuận hay không.

Lợi nhuận là một hệ thống động lực khiến các doanh nghiệp và cá nhân đáp ứng lại các thông tin mà giá cả cung cấp. Và thị trường vốn chính là một hệ thống huy động nguồn lực, nó cung cấp tiền bạc cho các công ty và các dự án được mong đợi ​​sẽ đem lại lợi nhuận – tức những dự án phản ứng hiệu quả với giá thị trường.

Thế nhưng sản xuất hiện đại lại đòi hỏi nhiều yếu tố đầu vào mà thị trường không thể cung cấp. Và như trong trường hợp của các hãng hàng không, các yếu tố đầu vào này – quy định, tiêu chuẩn, chứng nhận, cơ sở hạ tầng, trường học và trung tâm đào tạo, phòng thí nghiệm khoa học, các dịch vụ an ninh, và nhiều thứ khác khác – được kết hợp với những yếu tố có thể mua được từ thị trường. Chúng tương tác với các hoạt động mà thị trường tổ chức theo những cách phức tạp nhất.

Vậy vấn đề ở đây là: Ai kiểm soát việc cung cấp các yếu tố đầu vào được cung cấp cho công chúng? Thủ tướng? Cơ quan lập pháp? Thẩm phán hàng đầu đất nước nào đã đọc hàng triệu trang các quy định pháp luật hoặc xem xét chúng bổ sung hay mâu thuẫn lẫn nhau thế nào, chưa nói đến việc áp dụng chúng vào vô số hoạt động khác nhau bao gồm nền kinh tế? Ngay cả một tổng thống hành pháp (presidential executive)[3] cũng không thể nắm rõ những thứ được hay không được thực hiện bởi hàng ngàn cơ quan chính phủ và cách chúng ảnh hưởng đến từng phần của xã hội như thế nào.

Đây là một vấn đề cần nhiều thông tin, và cũng như các thách thức về mặt phối hợp xã hội mà thị trường giải quyết, nó không cho phép điều khiển theo hướng tập trung hóa. Điều cần thiết là một cơ chế tương tự bàn tay vô hình của thị trường: một cơ chế tự tổ chức. Bầu cử rõ ràng là không đủ, bởi chúng thường diễn ra hai hay bốn năm một lần và thu thập rất ít thông tin từ mỗi cử tri.

Thay vào đó, một hệ thống chính trị thành công phải tạo nên được một bàn tay vô hình thay thế – một hệ thống phi tập trung hóa quyền lực để có thể xác định được vấn đề, đề xuất giải giải pháp, và giám sát hiệu quả thực hiện, để các quyết định được đưa ra dựa trên nhiều thông tin hơn.

Để lấy một ví dụ, chính phủ liên bang Hoa Kỳ chỉ chiếm 537 ghế trong khoảng 500.000 vị trí dân cử của nước này. Rõ ràng, còn nhiều điều diễn ra ở những nơi khác.

Quốc hội Hoa Kỳ có 100 thượng nghị sĩ với 40 trợ lý cho mỗi người, và 435 dân biểu với 25 trợ lý cho mỗi người. Họ được tổ chức thành 42 ủy ban và 182 tiểu ban, có nghĩa là có 224 cuộc đàm thoại song song diễn ra cùng lúc. Nhưng nhóm gồm hơn 15.000 người này không tồn tại đơn lẻ. Đối mặt với họ là khoảng 22.000 chuyên gia vận động hành lang, mà một trong những nhiệm vụ của họ là cùng ngồi xuống với những nhà lập pháp để dự thảo các đạo luật.

Điều này, cùng với một nền báo chí tự do, là một phần của cái cấu trúc vốn giúp đọc hàng triệu trang luật và giám sát những gì các cơ quan chính phủ thực hiện hay không thực hiện. Nó tạo ra các thông tin và các động cơ để phản hồi lại nó. Nó ảnh hưởng đến việc phân bổ ngân sách. Nó là một hệ thống mở mà trong đó ai cũng có thể tạo ra tin tức hoặc tìm một chuyên gia vận động hành lang để được trợ giúp, cho dù đó là bảo vệ cá voi hay là ăn thịt chúng.

Nếu không có một cơ chế như vậy, hệ thống chính trị không thể cung cấp kiểu môi trường mà nền kinh tế hiện đại cần. Đó là lí do tại sao tất cả các nước giàu lại dân chủ, và tại sao một số nước, như của người viết bài này (Venezuela), đang trở nên nghèo hơn. Cho dù một số các nước này có tổ chức bầu cử, họ có xu hướng vấp ngã tại ngay cả những vấn đề phối hợp đơn giản nhất. Xếp hàng để bỏ phiếu không đảm bảo rằng người dân sẽ không còn phải xếp hàng để mua giấy vệ sinh.

Ricardo Hausmann là cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, giáo sư ngành Thực hành phát triển kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông giữ chức Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế.

[1] Xem Adam Smith. The Theory Of Moral Sentiments (Lý thuyết về cảm tính đạo đức), Quyển II Phần II Chương III – ND.

[2] Tên đầy đủ là Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia, bản tiếng Việt hiện nay dịch là Bàn về của cải quốc gia, hay Quốc phú luận – ND.

[3] Hình thức chính thể tổng thống chế, trong đó tổng thống có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở Hoa Kỳ. Ngược lại là hệ thống tổng thống hình thức (figurehead presidents), nghị viện có quyền lực mạnh, chẳng hạn như ở các nước Cộng hòa đại nghị – ND.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on March 26, 2014 by in Chính trị, Kinh tế and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: