Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Viet Thanh Nguyen’s Nothing Ever Dies: Lời nói đầu


Nothing Ever Dies.jpg

Viet Thanh Nguyen, phó giáo sư ngành nghiên cứu Anh Mỹ và dân tộc học tại Đại học Nam California, là tác giả của Race and Resistance: Literature and Politics in Asian America (OUP, 2002) và The Sympathizer (Grove/Atlantic, 2015), cuốn tiểu thuyết mang lại cho ông giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 2016. Dưới đây là lời nói đầu cuốn sách mới ra của ông, Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War (HUP, 2016), pp. 1–3.

Việt Nam và ký ức về chiến tranh: Lời nói đầu

Tôi sinh ra ở Việt Nam nhưng được tạo nên ở Hoa Kỳ. Tôi xếp mình giữa những người Việt ngán ngẩm trước hành xử của Hoa Kỳ nhưng vẫn muốn tin vào lời lẽ của nó. Tôi cũng xếp mình giữa những người Mỹ thường không hiểu và muốn hiểu về Việt Nam. Cũng như nhiều dân tộc trên thế giới, người Mỹ có xu hướng nhầm lẫn Việt Nam với cuộc chiến được đặt tên trong vinh quang của nó, hoặc ô nhục, tùy hoàn cảnh. Sự nhầm lẫn này chắc chắn đã dẫn đến phần nào sự mơ hồ của riêng tôi về ý nghĩa của việc là một con người có hai đất nước, cũng như người thừa hưởng hai cuộc cách mạng.

Tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để tìm kiếm trong sự rối rắm này, của chính tôi và của thế giới, và lời giải thích gọn ghẽ nhất mà tôi tìm được về ý nghĩa của chiến tranh, ít nhất là đối với người Mỹ, đến từ Martin Luther King Jr. “Nếu linh hồn của nước Mỹ hoàn toàn bị nhiễm độc,” ông nói, “thì một phần khám nghiệm sẽ viết ‘Việt Nam.’” Người Mỹ chủ yếu biết đến King với ước mơ của ông, nhưng đây chính là lời tiên tri của ông, và nó tiếp tục như sau: “Cuộc chiến ở Việt Nam chỉ là triệu chứng của một căn bệnh sâu xa hơn nhiều trong tinh thần Mỹ. Nếu làm ngơ trước thực tế nghiêm túc này, rồi chúng ta sẽ thấy mình tổ chức những ủy ban ‘giáo sĩ và giáo dân lo ngại’ cho thế hệ sau. Họ sẽ lo ngại về Guatemala và Peru. Họ sẽ lo ngại về Thái Lan và Campuchia. Họ sẽ lo ngại về Mozambique và Nam Phi. Chúng ta sẽ diễu hành vì những cái tên ấy cùng hàng chục cái tên khác và tham gia các cuộc biểu tình không hồi kết, trừ khi có một sự thay đổi đáng kể và sâu sắc trong đời sống Mỹ.” Đúng một năm sau khi nói những lời này, ông bị ám sát.

Ông không đề cập đến Iraq và Afghanistan, nhưng kể từ sau bài phát biểu của ông, nhiều người Mỹ đã nêu lên mối quan hệ giữa những cuộc xung đột ở đó và cuộc chiến ở Việt Nam. Cho dù Việt Nam không phải là Iraq hay Afghanistan, sự tương đồng vẫn tiếp tục trở lại với người Mỹ. Cách gọi Việt Nam như vũng lầy, hội chứng, và chiến tranh không nói về thực tế ở Việt Nam hay về những khó khăn hiện tại ở Iraq và Afghanistan. Nó nói về nỗi sợ của người Mỹ. Người Mỹ nghĩ thất bại trong những cuộc chiến này là điều tồi tệ nhất, khi chiến thắng ở Iraq và Afghanistan trong hôm nay chỉ đồng nghĩa với nhiều chiến thắng hơn trong ngày mai: Somalia, Pakistan, Yemen, và vân vân. Đây là lý do quan trọng nhất đối với người Mỹ để nhớ về cái mà họ gọi là Chiến tranh Việt Nam, việc nó là một cuộc xung đột trong một chuỗi dài những cuộc chiến tranh kinh hoàng đến trước và sau nó. Bản tính của cuộc chiến này—và, trên thực tế, bản tính của bất cứ cuộc chiến nào—cũng không thể thoát khỏi bản tính của chiến tranh.

Với King, “vấn đề phân biệt chủng tộc, vấn đề bóc lột kinh tế, và vấn đề chiến tranh, tất cả đều ràng buộc với nhau.” Lời tiên tri của ông không phải lúc nào cũng dễ dàng bật ra khỏi lưỡi. Ngôn ngữ ấy chỉ đôi lúc như Thánh Kinh, chưa bao giờ nâng đỡ tinh thần. Ông bảo chúng ta đừng ngước mắt lên đỉnh núi mà hãy nhìn xuống đồng bằng, nhà máy, cánh đồng, khu ổ chuột, dòng người thất nghiệp, nơi đăng ký nhập ngũ, cánh đồng lúa, sen nở trong ao bùn, khung cảnh Việt Nam mà ngay cả lính Mỹ cũng gọi là đẹp, và nước Mỹ, nơi người Việt Nam gọi là đất nước đẹp. Đó là những nơi mà ký ức về chiến tranh thuộc về. Khó khăn nhất là ký ức về làm thế nào nó là một cuộc chiến đã diễn ra không chỉ ở đó, mà còn ở đây, bởi lẽ chiến tranh không chỉ là về bắn những viên đạn mà còn là về những người làm ra đạn, cung cấp đạn, và, có lẽ quan trọng nhất, chi trả cho đạn, những công dân bị phân tâm, đồng lõa trong cái mà King gọi là “sự đoàn kết tàn bạo” của anh em da trắng và da đen.

Mặc dù nói về nước Mỹ, King cũng có thể hướng đến Việt Nam, cả hai đất nước cách mạng vẫn chưa được như kỳ vọng của những cuộc cách mạng. Trong khi nước Mỹ vốn là thành phố trên đồi giờ tồn tại chủ yếu như một ảo tưởng sến sẩm, ngay cả Việt Nam thời chiến dường như cũng quá xa vời. Đây là đất nước mà Che Guevara đã có thể nói, “Tương lai sẽ xuất hiện gần gũi và tươi sáng biết bao nếu hai, ba, nhiều nước Việt Nam nở rộ trên mặt địa cầu.” Ông đang nói về cách mà chiến tranh Việt Nam chống Mỹ xâm lược đã lan truyền hy vọng giữa những ai mơ về giải phóng và độc lập ở châu Mỹ, châu Phi, và châu Á. Ngày nay cách mạng Việt Nam và cách mạng Mỹ chỉ tạo ra ký ức để hóa giải sự xơ cứng của những động mạch bên trong chúng. Đối với chúng ta, những người coi mình là người thừa hưởng một hoặc cả hai cuộc cách mạng, hoặc những người bị ảnh hưởng bởi chúng theo một cách nào đó, chúng ta phải biết làm thế nào chúng ta tạo nên ký ức và làm thế nào chúng ta quên đi chúng, để chúng ta có thể đập nhịp cho trái tim của ký ức trở lại với cuộc sống. ♦

Copyright © 2016 Viet Thanh Nguyen | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 2, 2016 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,572 other followers

%d bloggers like this: