Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Mario Vargas Llosa: Một diễn ngôn ngắn về văn hóa


Mario Vargas Llosa.jpg

Mario Vargas Llosa (1936–) là nhà văn người Peru. Ông được trao giải de Cervantes năm 1994 và giải Nobel văn học năm 2010. Bản dịch dưới đây được thực hiện dựa trên bản tiếng Anh, “A Brief Discourse on Culture,” trong Vargas Llosa, Notes on the Death of Culture: Essays on Spectacle and Society, ed. and trans. John King (New York: Farrar, Straus & Giroux, 2015), pp. 57–72, có tham khảo bản gốc tiếng Tây Ban Nha, “Breve discurso sobre la cultura,” trong Vargas Llosa, La civilización del espectáculo (Alfaguara, 2012).

Một diễn ngôn ngắn về văn hóa

Trong lịch sử, khái niệm văn hóa có nhiều ý nghĩa và sắc thái khác nhau. Trong nhiều thế kỷ nó là một khái niệm không thể tách rời khỏi tôn giáo và tri thức thần học; ở Hy Lạp nó được đặc trưng bởi triết học và ở La Mã là bởi luật pháp, trong khi trong thời kỳ Phục hưng nó thấm đẫm văn học và nghệ thuật. Trong những giai đoạn gần đây hơn, ví dụ như trong thời kỳ Khai sáng, nó là khoa học và những khám phá khoa học vĩ đại đã cho quan niệm về văn hóa một cách nhìn đặc biệt. Nhưng bất chấp những biến thể này, cho đến tận ngày nay, văn hóa vẫn luôn biểu thị sự kết hợp giữa các yếu tố và nguyên tắc mà, theo sự đồng thuận phổ biến trong xã hội, là những gì định nghĩa nên văn hóa: sự công nhận một di sản chung của các tư tưởng, giá trị, tác phẩm nghệ thuật, một kho kiến thức lịch sử, tôn giáo, và triết học trong quá trình phát triển không ngừng, và sự khám phá các hình thức nghệ thuật và văn học mới và nghiên cứu trong mọi lĩnh vực tri thức.

Văn hóa luôn thiết lập một cấp bậc xã hội giữa những người nuôi trồng và làm giàu nó thông qua những đóng góp khác nhau của họ và những người không quan tâm đến nó, coi thường hoặc không biết gì về nó, hoặc bị loại bỏ khỏi nó vì những lý do xã hội và kinh tế. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, cho đến thời đại chúng ta, đều có những người có văn hóa và vô văn hóa và, giữa hai thái cực này, có những người ít nhiều có văn hóa và có những người ít nhiều vô văn hóa, và cách phân loại này thể hiện khá rõ trên toàn thế giới bởi vì tất cả đều có một hệ thống giá trị và tiêu chuẩn văn hóa chung, và những cách tư duy, đánh giá, và hành xử chung.

Trong thời đại của chúng ta mọi thứ đã thay đổi. Quan niệm văn hóa được mở rộng đến mức nó đã biến mất, mặc dù không ai dám nói ra một cách rõ ràng. Nó đã trở thành một bóng ma khó nắm bắt, nhiều vô kể, và trừu tượng. Bởi vì sẽ không ai có văn hóa nếu tất cả đều nghĩ mình có văn hóa, hoặc nếu nội dung của cái mà chúng ta vẫn gọi là văn hóa đã suy đồi đến mức mọi người đều có thể chính đáng mà cho rằng họ thực sự có văn hóa.

Dấu hiệu sớm nhất của sự mơ hồ và nhầm lẫn ngày càng lớn về những gì mà văn hóa đại diện thể hiện trong giới nhân chủng học, lấy cảm hứng, với ý muốn tốt nhất trong thế giới, từ mong muốn tôn trọng và thấu hiểu những xã hội nguyên thủy mà họ đang nghiên cứu. Họ cho rằng văn hóa là toàn bộ các tín ngưỡng, tri thức, ngôn ngữ, phong tục, trang phục, thực hành, các mạng lưới thân tộc và, tóm lại, tất cả những gì mà một cộng đồng nói, làm, sợ hãi, hoặc tôn thờ. Định nghĩa này không chỉ giới hạn trong việc thiết lập một phương pháp khám phá đặc trưng về một nhóm người so với một nhóm khác. Ngay từ đầu, nó còn mong muốn từ bỏ ngành dân tộc ký đầy định kiến và phân biệt chủng tộc mà phương Tây chưa bao giờ mệt mỏi với việc nhiếc móc bản thân vì nó. Ý định này không thể nào cao quý hơn, nhưng có câu nói nổi tiếng rằng con đường đến địa ngục được lát bằng những ý định tốt. Bởi lẽ tin rằng mọi nền văn hóa đều xứng đáng được xem xét do họ đều góp phần tích cực cho nhân loại là một chuyện, nhưng tin rằng mọi nền văn hóa đều tương đương nhau chỉ đơn thuần bởi sự tồn tại của chúng lại là chuyện khác. Và ngạc nhiên là cái niềm tin thứ hai này lại nắm ưu thế do một định kiến rất lớn dựa trên mong muốn xóa bỏ một lần và vĩnh viễn mọi định kiến về văn hóa. Sự phải đạo chính trị rốt cuộc đã khiến chúng ta tin rằng nói về các nền văn hóa thượng đẳng và hạ đẳng và ngay cả về các nền văn hóa hiện đại và nguyên thủy cũng là kiêu ngạo, giáo điều, thực dân chủ nghĩa, và thậm chí phân biệt chủng tộc. Theo khái niệm thiên thần ấy, mọi nền văn hóa, theo cách riêng và bối cảnh riêng của chúng, đều bình đẳng, những biểu thức tương đương của sự đa dạng tuyệt vời của nhân loại.

Nếu các nhà dân tộc ký và nhân chủng học thiết lập sự tương đương ngang bằng này trên mọi nền văn hóa, xóa bỏ định nghĩa cổ điển của từ này, thì về phần mình, các nhà xã hội học—hoặc có lẽ chính xác hơn là các nhà xã hội học nhấn mạnh mình là các nhà phê bình văn học—sẽ thực hiện một cuộc cách mạng ngữ nghĩa tương tự, kết hợp vào quan niệm về văn hóa, với tư cách một phần trung tâm, quan niệm về sự thiếu văn hóa, ngụy trang dưới cái tên của nền văn hóa đại chúng, một hình thức văn hóa không tinh tế, nhân tạo, và tự phụ bằng hình thức cũ, nhưng cũng tự do hơn, chân thật hơn, quan trọng hơn, tiêu biểu và táo bạo. Tôi phải nói ngay rằng từ quá trình chôn vùi quan niệm truyền thống về văn hóa này đã xuất hiện nhiều cuốn sách rất có sức thuyết phục như Sáng tác của François Rabelais và nền văn hoá đại chúng Trung cổ và Phục hưng của Mikhail Bakhtin. Trong đó, với logic tinh tế và một loạt ví dụ sắc sảo, nhà phê bình người Nga cho rằng cái mà ông gọi là “văn hóa đại chúng” đã có vai trò như một dạng đối trọng với văn hóa chính thống và quý tộc. Văn hóa này được bảo tồn và phát triển trong các hội trường, cung điện, các tu viện và thư viện, trong khi văn hóa đại chúng nảy sinh và sinh sống trên các đường phố, trong quán rượu, và các lễ hội. Văn hóa đại chúng chế nhạo văn hóa chính thống, với những sự kiện đã, ví dụ, vạch trần và phóng đại những gì được ẩn giấu và kiểm duyệt như “tầng đáy của cơ thể,” tình dục, các chức năng bài tiết và sự thô tục, và đối lập cái “thị hiếu thấp kém” tục tĩu này với cái gọi là “thị hiếu cao sang” của các giai cấp thống trị.

Chúng ta không nên nhầm lẫn cách phân loại của Bakhtin và các nhà phê bình văn học khác dựa trên xã hội học—văn hóa chính thống và văn hóa đại chúng—với sự phân chia tồn tại từ lâu trong thế giới Anglo-Saxon giữa văn hóa trán cao (trí thức) và trán thấp (bình dân). Cách phân loại thứ hai này vẫn nằm trong ý nghĩa cổ điển được chấp nhận của văn hóa, và cái phân biệt giữa văn hóa này và văn hóa kia là việc khía cạnh cụ thể của văn hóa ấy thách thức như thế nào đối với người đọc, người nghe, người xem, hoặc bản thân người sáng tạo ra nó. Một nhà thơ như T. S. Eliot và một nhà văn như James Joyce sẽ thuộc về văn hóa trí thức theo cách phân loại này trong khi những truyện ngắn và tiểu thuyết của Ernest Hemingway hay thơ của Walt Whitman sẽ được coi là một phần của văn hóa bình dân do chúng dễ tiếp cận đối với độc giả phổ thông. Bakhtin và những người theo quan điểm của ông đã (ý thức và vô thức) làm một việc cấp tiến hơn: họ xóa bỏ ranh giới giữa văn hóa và thiếu văn hóa và đem lại phẩm giá cho sự thiếu văn hóa, cho thấy cái có thể được xem là thô lỗ, thô tục, hoặc cẩu thả có thể được cứu chuộc bằng sức sống và sự hài hước của nó và cách thức phóng khoáng và chân thực mà nó thể hiện cái cơ bản nhất của trải nghiệm con người.

Bằng cách này những ranh giới phân biệt văn hóa với thiếu văn hóa, những người có văn hóa với những người vô văn hóa, đã biến mất khỏi vốn từ vựng của chúng ta, bị ngăn chặn bởi suy nghĩ về sự sai trái chính trị rõ ràng. Giờ đây không ai là vô văn hóa, hay đúng hơn, tất cả chúng ta đều có văn hóa. Chỉ cần mở một tờ báo hoặc tạp chí ra chúng ta sẽ thấy các nhà bình luận nhắc đến vô số những biển hiện của nền văn hóa phổ quát mà chúng ta sở hữu, sử dụng bừa bãi các từ ngữ như “văn hóa ấu dâm,” “văn hóa cần sa,” “văn hóa punk,” “văn hóa thẩm mỹ của Đức Quốc xã,” và những thứ như thế. Giờ chúng ta đều có văn hóa ở một mức độ nào đấy, ngay cả khi chúng ta chưa bao giờ đọc một cuốn sách, xem một triển lãm nghệ thuật, nghe một buổi hòa nhạc hoặc có bất kỳ khái niệm cơ bản nào trong tri thức nhân văn, khoa học, hoặc công nghệ trong thế giới mà chúng ta đang sống.

Chúng ta muốn đặt dấu chấm hết cho giới tinh hoa mà chúng ta thấy ghê tởm về mặt đạo đức do chính cái từ ấy đã nói lên sự đặc quyền, khinh thường và phân biệt đối xử, đi ngược lại những lý tưởng quân bình chủ nghĩa của chúng ta. Và qua thời gian, từ các vị trí khác nhau, chúng ta thách thức và tháo dỡ cái thể chế đặc quyền của những người giả mô phạm nghĩ mình là thượng đẳng và tự hào vì có độc quyền về kiến thức, các giá trị đạo đức, sự tao nhã về tinh thần và có thị hiếu. Nhưng chúng ta đã giành được một chiến thắng kiểu Pyrrhus, một phương thuốc tệ hại hơn cả căn bệnh: chúng ta sống trong một thế giới của sự nhầm lẫn, trong đó, nghịch lý là do không cách nào biết được văn hóa là gì nên mọi thứ đều là văn hóa và cũng không có thứ gì là văn hóa.

Tuy nhiên, người ta có thể phản đối rằng chưa bao giờ trong lịch sử lại có nhiều khám phá khoa học và tiến bộ công nghệ như thế, chưa bao giờ có nhiều sách được xuất bản như thế, chưa bao giờ có nhiều bảo tàng được mở ra như thế, hay chưa bao giờ những cái giá đáng ngạc nhiên như thế được trả cho các tác phẩm nghệ thuật cả cũ lẫn mới. Làm sao chúng ta có thể nói về một thế giới không có văn hóa trong một thời đại mà tàu vũ trụ do con người chế tạo đã bay đến những vì sao và có trình độ dân trí cao hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử? Không thể phủ nhận toàn bộ tiến trình này, nhưng nó không phải kết quả của con người, mà đúng hơn là của các chuyên gia. Và giữa văn hóa và chuyên môn có một khoảng cách lớn như giữa người Cro-Magnon và những người sành ăn bị suy nhược thần kinh của Marcel Proust. Còn nữa, mặc dù trình độ dân trí cao hơn nhiều so với trong quá khứ, vẫn còn một vấn đề về mặt định lượng, và văn hóa không mấy liên quan đến số lượng mà chỉ có liên quan đến chất lượng. Chúng ta đang nói về những điều khác nhau. Chắc chắn nhờ mức độ chuyên môn hóa phi thường trong khoa học mà chúng ta mới thu thập được trên toàn thế giới một kho vũ khí hủy diệt hàng loạt có khả năng phá hủy hành tinh của chúng ta nhiều lần và làm ô nhiễm vũ trụ. Điều này vừa là một kỳ công về khoa học và công nghệ vừa là một biểu hiện trắng trợn của sự man rợ, cụ thể hơn, một thực tế phản văn hóa nổi trội, nếu, như T. S. Eliot đã tin, “văn hóa có thể được mô tả đơn giản là những gì khiến cuộc sống này đáng sống.”[1]

Văn hóa là—hoặc từng là, khi nó tồn tại—một mẫu số chung, một thứ duy trì giao tiếp giữa những dân tộc vốn rất đa dạng đã bị ép trở nên chuyên biệt hơn, tức là trở nên xa cách và mất liên lạc hơn, thông qua cái cách mà tri thức đã tiến triển. Nó cũng là cái la bàn, một chỉ dẫn cho phép người ta tìm được bệ đỡ của mình trong bụi rậm tri thức mà không lạc lối, và biết ít nhiều rõ ràng hơn, do tri thức ấy liên tục phát triển, những gì là ưu tiên chính, cái nào quan trọng và cái nào không, cái nào là đường cái còn cái nào là ngõ cụt. Không ai có thể biết mọi thứ về mọi thứ—điều này chưa bao giờ diễn ra trong quá khứ lẫn hiện tại—nhưng với những người có văn hóa, văn hóa ít nhất cũng cho phép họ thiết lập những hệ thống phân cấp và những ưu tiên trong các lĩnh vực tri thức và các giá trị thẩm mỹ. Trong thời đại của chuyên môn hóa và sự sụp đổ của văn hóa, các hệ thống phân cấp đã chìm vào một mớ hỗn độn vô định hình mà trong đó—theo tình trạng rắc rối mới nhất đã phân loại vô số hình thức của cuộc sống được thanh tẩy thành các nền văn hóa như nhau—mọi hình thức khoa học và công nghệ đều hợp lý và được coi tất cả như một, và không có cách nào để phân biệt với sự khách quan tối thiểu những gì đẹp trong nghệ thuật còn những gì thì không. Ngay cả việc nói chuyện như thế này cũng đã lỗi thời, do chính quan niệm về cái đẹp cũng đã mất uy tín như quan niệm cổ điển về văn hóa.

Các chuyên gia thấy và đi xa hơn trong lĩnh vực cụ thể của mình, nhưng không biết những gì đang xảy ra xung quanh họ và không nhìn nhận được sự tàn phá mà những thành tích của họ có thể gây ra trong các lĩnh vực khác tồn tại bên ngoài lĩnh vực của họ. Những con người một chiều này, như cách Marcuse gọi, có thể vừa là những chuyên gia vĩ đại vừa là những con người vô văn hóa bởi, thay vì kết nối với những người khác, kiến thức của họ lại cô lập họ trong một ngành chuyên môn chỉ nhỏ gần như một nguyên tử trong lĩnh vực tri thức rộng lớn. Sự chuyên môn hóa, tồn tại từ buổi bình minh của văn minh, gia tăng cùng với sự tiến bộ của tri thức, và những người duy trì được sự giao tiếp xã hội, những người có mẫu số chung là chất keo của cơ cấu xã hội, là giới tinh hoa, giới thiểu số có văn hóa, những người bên cạnh việc xây cầu kết nối các lĩnh vực tri thức khác nhau—khoa học, văn học, nghệ thuật, và công nghệ—còn có một ảnh hưởng tinh thần, dù tôn giáo hay thế tục. Vì lý do ấy mà tiến bộ tri thức và nghệ thuật đã không trở nên quá ly khai khỏi mối quan tâm của con người, vốn tìm cách đảm bảo những cơ hội và điều kiện vật chất tốt hơn cho cuộc sống và làm giàu tinh thần xã hội, giảm thiểu bạo lực, bất công, bóc lột, đói ăn, bệnh tật, và sự thiếu hiểu biết.

Trong Notes Towards the Definition of Culture (Những ghi chép về định nghĩa văn hóa), T. S. Eliot cho rằng chúng ta không nên đồng nhất văn hóa với tri thức—dường như ông nói nhiều về thời đại của chúng ta hơn thời đại của chính ông, do hồi ấy vấn đề này chưa trở nên nghiêm trọng như bây giờ—do văn hóa đến trước và duy trì tri thức, chỉ dẫn nó và cho nó một chức năng chuẩn xác, thứ gì đó giống như một mục tiêu đạo đức. Là một tín đồ, Eliot tìm thấy trong những giá trị của Cơ đốc giáo sự ủng hộ dành cho tri thức và những hành vi của con người mà ông gọi là văn hóa. Nhưng tôi không tin rằng đức tin tôn giáo là sự hỗ trợ khả dĩ duy nhất có thể ngăn chặn tri thức trở nên thất thường và tự hủy hoại, như cái tri thức đã nhân lên những thùng bột nguyên tử và dùng chất độc làm ô nhiễm không khí, trái đất, và nguồn nước duy trì cuộc sống của chúng ta. Từ thế kỷ 18 và 19, đạo đức và triết học thế tục đã hoàn thành chức năng này đối với một khu vực rộng lớn của thế giới phương Tây. Mặc dù với một số lượng người tương đương hoặc có lẽ nhiều hơn, niềm tin vào sự siêu việt đúng là một nhu cầu quan trọng để tránh tình trạng buông thả hay tuyệt vọng.

Những hệ thống phân cấp trong phổ tri thức rộng lớn của con người; đạo đức gắn với tự do, cái cho phép sự đa dạng biểu đạt lớn hơn nhưng cũng kiên quyết bác bỏ bất cứ thứ gì có thể làm mất giá và băng hoại những quan niệm cơ bản của nhân loại và đe dọa sự sống còn của các loài sinh vật; một giới tinh hoa hình thành không nhờ gốc gác hay quyền lực kinh tế và chính trị mà thông qua nỗ lực, tài năng, và thành tựu cá nhân, với thẩm quyền đạo đức để thành lập một cách linh hoạt và sáng tạo những ưu tiên và giá trị trong nghệ thuật và trong khoa học và công nghệ: đó là ý nghĩa của văn hóa trong những thời đại và xã hội khai sáng nhất, và đó nên là ý nghĩa của văn hóa nếu chúng ta không muốn tiến đến sự tan rã của chính mình một cách mù quáng và vô định hướng như những con rô bốt. Đây là cách duy nhất mà cuộc sống có thể trở nên đáng sống trở lại đối với số đông những người đang theo đuổi cái mong mỏi không lúc nào đạt được là một thế giới hạnh phúc.

Sẽ là sai lầm nếu quy những chức năng giống hệt nhau cho khoa học và cho nghệ thuật. Chính việc chúng ta đã quên đi cách phân biệt chúng đã làm gia tăng tình trạng rối rắm hiện nay trong lĩnh vực văn hóa. Tiến bộ khoa học, cũng như công nghệ, sẽ tiêu diệt bất cứ thứ gì cũ kỹ, lạc hậu, hoặc lỗi thời; đối với chúng quá khứ là một nghĩa địa, một thế giới của những điều đã chết mà những khám phá và phát minh mới đã vượt qua. Văn học và nghệ thuật được hồi sinh nhưng không tiến bộ, chúng không xóa bỏ quá khứ của mình, mà xây dựng trên nó, chúng lấy nguồn sống từ quá khứ và duy trì nó, do vậy mà bất chấp sự khác biệt và xa xôi, Velázquez vẫn sống như Picasso vẫn sống, và Cervantes vẫn đương đại không khác gì Borges hay Faulkner.

Những quan niệm về sự chuyên môn hóa và tiến bộ, vốn không thể tách rời khoa học, không hề phù hợp với nghệ thuật, dĩ nhiên điều này không có nghĩa là văn học, hội họa, và âm nhạc không thay đổi và tiến hóa. Nhưng chúng ta không thể nói về chúng như nói về giả kim và hóa học rằng cái sau thay thế và nằm đè lên cái trước. Tác phẩm văn học và nghệ thuật nào đạt được một mức độ xuất sắc nhất định thì sẽ không chết cùng với thời gian; nó tiếp tục sống và làm phong phú thêm và phát triển cùng những thế hệ mới. Đó là lý do cho đến tận gần đây văn học và nghệ thuật vẫn là mẫu số chung của văn hóa, là không gian nơi giao tiếp giữa con người được duy trì bất chấp những khác biệt về ngôn ngữ, truyền thống, tín ngưỡng và thời đại, bởi những người cảm động với Shakespeare, cười với Molière, và mê hoặc trước Rembrandt và Mozart ngày nay vẫn duy trì cuộc đối thoại với những người đọc họ, nghe họ, và ngưỡng mộ họ trong quá khứ.

Cái không gian công cộng ấy, vốn chưa bao giờ trở nên chuyên biệt, vốn luôn nằm trong tầm với của mọi người, đã trải qua những thời kỳ lớn của sự phức tạp, trừu tượng, và giáo điều, làm giới hạn sự hiểu biết về những tác phẩm nhất định trong giới tinh hoa. Nhưng trong khi đã thể hiện những khu vực cho đến nay vẫn chưa được biết đến về thực tại của con người và tạo ra những hình thức vẻ đẹp lâu dài, những tác phẩm thử nghiệm và avant-garde ấy cũng luôn giáo dục được người đọc, người xem, và người nghe của chúng, và từ đó trở thành một phần của di sản chung. Dĩ nhiên, văn hóa có thể và phải mang tính thử nghiệm, với điều kiện những kỹ thuật và hình thức mà tác phẩm nghệ thuật ấy giới thiệu mở rộng được chân trời của trải nghiệm của cuộc sống, bộc lộ những bí mật được ẩn giấu kỹ nhất của nó, hoặc phơi bày cho chúng ta những giá trị thẩm mỹ chưa được biết đến, những giá trị thẩm mỹ cách mạng hóa sự nhạy cảm của chúng ta và cho chúng ta một cái nhìn tinh tế và mới lạ hơn vào cái giếng không đáy, đó là hoàn cảnh con người.

Văn hóa có thể mang tính thử nghiệm và suy tư, sâu sắc và thơ mộng, đam mê và nên thơ, và có thể là một phiên bản quan trọng, cố định và sâu sắc, của những điều chắc chắn, niềm tin, lý thuyết, và tín ngưỡng. Nhưng nó không thể tách mình khỏi cuộc sống thực, cuộc sống đúng nghĩa, cuộc sống sống động, một cuộc sống không bao giờ là cuộc sống của những điều sáo rỗng, kỹ xảo, ngụy biện và phù phiếm, không có nguy cơ đổ vỡ. Tôi có thể mang vẻ bi quan, nhưng ấn tượng của tôi là, với một tinh thần vô trách nhiệm lớn như cái ham muốn không thể kìm nén của chúng ta trước những trò chơi và thú vui, chúng ta đã biến văn hóa thành một trong những lâu đài phô trương nhưng mong manh được xây trên cát, có thể tiêu tan trước cơn gió đầu tiên. ♦

Copyright © 2012 Mario Vargas Llosa | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

[1] T. S. Eliot, Notes Towards the Definition of Culture, Faber & Faber, London, 1962, p. 27.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 7, 2016 by in Tiểu luận, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,651 other followers

%d bloggers like this: