Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Haruki Murakami: Cuốc bộ về Kobe


A Walk to Kobe.jpg

Haruki Murakami, “A Walk to Kobe,” trans. Philip Gabriel, Granta 124, August 2013.

Cuốc bộ về Kobe

1

Tháng 5 năm 1997, hai năm sau trận động đất lớn ở Kobe, tôi nảy ra ý tưởng về chuyến cuốc bộ một mình, nhàn nhã từ Nishinomiya về Sannomiya ở trung tâm Kobe. Tình cờ tôi đang ở Kyoto vì công việc trong thời gian ấy, và tiếp tục xuống Nishinomiya. Trên bản đồ từ đó về Kobe mất khoảng 15 km về phía Tây. Không hẳn là quãng đường ngắn, nhưng cũng không phải khoảng cách quá vất vả, bên cạnh đó, tôi còn là người đi bộ khá tự tin.

Tôi sinh ra ở Kyoto, nhưng sau đó gia đình tôi chuyển đến Shukugawa, một khu dân cư ở Nishinomiya. Chẳng lâu sau chúng tôi chuyển nhà một lần nữa, gần Kobe hơn, đến Ashiya, nơi tôi sống phần lớn quãng đời thiếu niên. Trường tôi nằm trên đồi trên thành phố, nên xuống Kobe tự nhiên là nơi tôi nhắm đến mỗi lúc muốn có thời gian vui vẻ, nhất là quanh Sannomiya. Tôi trở thành một cậu nhóc Hanshin-kan điển hình, từ chỉ khu vực nằm giữa Osaka và Kobe. Thời ấy—và có lẽ cả ngày nay—đó là nơi tuyệt vời để lớn lên. Yên tĩnh và thoải mái, mang lại cảm giác cởi mở và thư thái, và may mắn có biển, núi, và một thành phố lớn ở gần. Tôi thích đến các buổi hòa nhạc, săn lùng sách bìa mềm giá rẻ ở những cửa hàng sách cũ, lang thang ở các quán cà phê nhạc jazz, và thưởng thức những bộ phim làn sóng mới của công ty Art Theatre Guild. Phong cách ưa thích của tôi thời ấy? Áo jacket VAN, dĩ nhiên.

Nhưng rồi tôi đến Tokyo học đại học, kết hôn và bắt đầu làm việc, và hiếm khi trở lại dải đất nằm giữa Osaka và Kobe này. Có những lúc tôi có trở lại, dĩ nhiên, nhưng xong việc phải làm là tôi nhảy tàu cao tốc và về thẳng Tokyo. Tôi có cuộc sống bận rộn, và dành rất nhiều thời gian ở nước ngoài. Cũng có một vài lý do cá nhân. Một số người liên tục bị kéo về quê nhà, trong khi những người khác lại có cảm giác họ không bao giờ có thể trở về. Phần lớn như thể số phận đã chia tách hai nhóm người này, và chẳng liên quan mấy đến việc cảm giác của ta với nơi ấy mạnh mẽ đến đâu. Dù muốn hay không, có vẻ như tôi nằm trong nhóm thứ hai.

Đã nhiều năm bố mẹ tôi sống ở Ashiya, nhưng sau trận động đất Hanshin tháng 1 năm 1995, ngôi nhà hư hỏng đến mức không thể ở được và họ sớm chuyển đến Kyoto. Do vậy, ngoài những ký ức mà tôi lưu giữ cho bản thân (tài sản giá trị của tôi), giữa tôi và khu vực Hanshin-kan không còn bất kỳ mối liên kết thực tế nào. Nói đúng ra, nó không còn là quê nhà của tôi. Tôi cảm nhận được một cảm giác mất mát sâu sắc với thực tế ấy, như thể trục ký ức của tôi đang kêu cót két, khe khẽ, nhưng thành tiếng, trong tôi. Đó là một cảm giác vật lý.

Có thể chính thế mà tôi muốn cuốc bộ về nơi ấy, cảnh giác và chú ý đến những gì mình có thể khám phá được. Có lẽ tôi muốn thấy nơi quê nhà mà tôi đã đánh mất mọi kết nối hữu hình với nó sẽ xuất hiện trước mắt tôi bây giờ ra sao. Bao phần bóng hình (hoặc bóng hình của bóng hình) của mình mà tôi sẽ khám phá được ở đó?

Tôi cũng muốn thấy trận động đất Hanshin đã có tác động nào đến thành phố nơi mình lớn lên. Tôi đã đến thăm Kobe một vài lần sau trận động đất, và, thành thực mà nói, choáng váng trước mức độ thiệt hại. Nhưng giờ, khoảng hai năm sau, khi dường như thành phố cuối cùng đã dựng lại bản thân, bằng đôi mắt mình tôi muốn thấy những biến đổi đã diễn ra—những gì mà cơn chấn động khủng khiếp ấy đã đánh cắp khỏi thành phố, và những gì mà nó để lại sau mình. Tôi cảm thấy phải có ít nhất một mối liên kết nào đó với người là tôi hôm nay.

***

Xỏ giày đi bộ đế cao su, đeo ba lô chứa một cuốn sổ và một chiếc máy ảnh nhỏ, tôi xuống tàu ở ga Nishinomiya và bắt đầu với nhịp thong thả về phía Tây. Trời rất sáng và chói nên tôi đeo kính râm. Nơi đầu tiên tôi đến là khu mua sắm gần lối ra phía Nam của nhà ga. Thời tiểu học tôi thường đạp xe ra đây mua các thứ. Thư viện thành phố cũng ở gần đây, và bất cứ khi nào có thời gian tôi đều đến đó và ngắm qua mọi cuốn sách người lớn trẻ mà tôi có thể đặt tay vào. Gần đây cũng có một cửa hàng thủ công nơi tôi từng mua một đống mô hình bằng nhựa. Nơi này đã mang lại một dòng chảy ký ức.

Tôi chưa trở lại đây trong một thời gian dài, và khu mua sắm đã thay đổi đến mức gần như không nhận ra được. Bao nhiêu là do những thay đổi tự nhiên theo thời gian, bao nhiêu là do sự tàn phá thiên nhiên của trận động đất, tôi thực sự không biết. Dù vậy, những vết sẹo mà trận động đất để lại vẫn còn thấy rõ. Chỗ các tòa nhà sập, những ô đất trống giờ nằm rải rác trong khu như rất nhiều chiếc răng bị mất, với những cửa hàng ghép tạm ở giữa như thể để nối tất cả chúng lại. Cỏ hè mọc đầy các ô đất trống được khoanh dây thừng, và trên các con đường trải nhựa có nhiều vết nứt đáng ngại. So với khu mua sắm trung tâm của Kobe, nơi thế giới đổ dồn vào, nhanh chóng được xây dựng lại sau trận động đất, những khoảng trống ở đây khiến tôi có cảm giác phần nào nặng nề và buồn tẻ, với một chiều sâu tĩnh lặng. Dĩ nhiên điều này không chỉ đúng với khu mua sắm Nishinomiya. Chắc hẳn còn nhiều nơi quanh Kobe vẫn mang trên mình cùng những vết thương ấy, nhưng phần lớn bị lãng quên.

Qua khu mua sắm và qua đường cái là Đền Ebisu. Đó là một ngôi đền rất lớn, chứa những khoảnh rừng dày trong khuôn viên. Hồi còn nhỏ, tôi cùng bạn bè vẫn thích chơi đùa ở đây, và thật đau lòng khi thấy những vết sẹo hiển hiện như bây giờ. Đa số những chiếc đèn đá lớn dọc cao tốc Hanshin đã mất phần đèn lồng trên cùng. Chúng nằm rải rác trên mặt đất bên dưới, như những chiếc đầu bị một thanh kiếm sắc chém đứt. Phần đế còn lại đã trở thành một hàng tượng đá vô tri, vô mục đích, im lặng một cách nghiêm trang, như những biểu tượng từ một giấc mơ.

Cây cầu đá cũ bắc qua chiếc ao nơi ngày nhỏ tôi thường bắt tôm (dùng một kỹ thuật đơn giản: buộc dây quanh cổ một chiếc chai rỗng, thả bột mỳ vào làm mồi, nhúng xuống nước, tôm bơi vào trong chai rồi tôi sẽ kéo lên) đã sập và còn nguyên hiện trạng. Nước ao sẫm màu và lầy lội, những con rùa đủ mọi lứa tuổi nằm dài trên những tảng đá khô, phơi nắng, trong tâm trí chúng chắc chắn chẳng có suy nghĩ nào. Sự tàn phá khủng khiếp hiện diện ở mọi nơi, như thể nơi này là những phế tích cổ. Chỉ còn rừng sâu là vẫn như tôi nhớ thời còn thơ ấu, tối và tĩnh lặng, vượt thời gian.

Tôi ngồi xuống sân đền dưới ánh mặt trời đầu hạ, ngắm cảnh tượng xung quanh một lần nữa, cố gắng làm quen với những gì mình đang thấy. Tiếp thu và chấp nhận cảnh tượng này một cách tự nhiên nhất có thể, cả tinh thần lẫn nội tâm. Cố gắng nhớ lại mình hồi ấy. Nhưng điều này sẽ mất một thời gian dài, như bạn có thể hình dung.

2

Tôi sải bước từ Nishinomiya về Shukugawa. Vẫn chưa đến trưa, nhưng đủ nắng đến mức trong lúc rảo bước, tôi bắt đầu toát mồ hôi. Tôi không cần bản đồ để áng chừng mình đang ở đâu, nhưng không còn nhớ gì về những con đường riêng lẻ. Chắc hẳn tôi đã bước trên những con đường ấy hàng trăm lần, nhưng giờ lại quên hoàn toàn. Sao tôi không thể nhớ ra chúng? Thật kỳ lạ. Tôi cảm thấy hoang mang, như thể về nhà và thấy toàn bộ đồ nội thất đã thay đổi.

Lý do nhanh chóng trở nên rõ ràng với tôi. Những nơi từng là đất trống giờ không còn trống nữa, và những nơi không phải đất trống thì giờ lại trống—như những bức ảnh âm bản và dương bản thay thế cho nhau. Phần lớn những nơi đất trống trước đây giờ là nhà cửa, những nơi từng có nhà cửa thì đã bị phá hủy trong trận động đất. Những hình ảnh trước-và-sau ấy có một tác động tổng hợp, thêm vào cơn gột rửa giả tưởng những ký ức của tôi về thành phố trước đây.

Ngôi nhà cũ mà tôi từng sống gần Shukugawa đã biến mất, thay bằng một dãy nhà phố. Và sân trường trung học gần đó được lấp đầy bằng những ngôi nhà tạm được dựng cho những nạn nhân của trận động đất. Nơi tôi cùng bạn bè thường chơi bóng chày, những người sống trong các ngôi nhà ghép tạm ấy giờ treo quần áo và futon của họ, ở nơi mà giờ có vẻ như một không gian chật chội, tù túng. Gắng hết sức tìm những vết tích của quá khứ, nhưng gần như không còn vết tích nào. Nước trong sông vẫn chảy sạch và tinh khiết như trước, nhưng tôi có một cảm giác kỳ lạ khi thấy lòng sông giờ được kè chặt bằng bê tông.

Tôi bước một lúc về phía biển và dừng lại ở một cửa hàng sushi địa phương. Lúc ấy là chiều Chủ nhật, và họ đang bận rộn với những đơn đặt hàng mang đi. Cậu trợ lý trẻ ra ngoài giao hàng một lúc lâu chưa thấy quay lại, chủ quán phải rất vất vả mới bắt kịp các cuộc điện thoại. Một cảnh tượng điển hình mà ta có thể thấy ở bất cứ đâu ở Nhật Bản. Tôi chờ món của mình, nhâm nhi bia và nửa xem TV. Tỉnh trưởng Hyōgo đang nói chuyện với ai đó trên một chương trình về tiến độ tái thiết sau động đất. Giờ tôi đang cố nhớ chính xác những lời ông nói, nhưng cả đời tôi cũng không thể nhớ lại một từ nào.

***

Hồi còn nhỏ, khi trèo lên bờ sông, biển trải rộng trước mắt tôi, không có gì chắn tầm nhìn. Tôi thường ra đó bơi vào mùa hè. Tôi yêu biển và thích bơi. Tôi cũng đi câu và dắt chó đi dạo ở đó mỗi ngày. Đôi lúc tôi chỉ muốn ngồi xuống và không làm gì cả. Và đôi lúc tôi cũng lẻn khỏi nhà vào ban đêm, ra biển với bạn bè và nhặt gỗ trôi rồi nhóm lửa. Tôi yêu mùi của biển, tiếng gầm xa xôi của nó, và tất cả những gì nó mang theo mình.

Nhưng giờ biển không còn ở đó nữa. Họ xẻ núi, kéo tất cả đất đá ra biển bằng xe tải và băng chuyền và đổ xuống đó. Cả núi lẫn biển đều rất gần, nơi này là hoàn hảo cho công trình xây dựng kiểu ấy. Những cộng đồng dân cư nhỏ gọn nổi lên ở nơi từng là núi, và  những cộng đồng dân cư nhỏ gọn như thế cũng xuất hiện trên bãi bồi. Tất cả diễn ra sau khi tôi chuyển đến Tokyo, trong thời kỳ tăng trưởng cao của Nhật Bản, khi đất nước nằm trong cơn đau của một cơn bùng nổ xây dựng trên toàn quốc.

Giờ tôi có một ngôi nhà ở một thành phố bên bờ biển ở tỉnh Kanagawa gần Tokyo, và đi lại giữa nơi ấy và Tokyo. Không may, hoặc rất không may, thành phố ven biển ấy gợi tôi nhớ về quê nhà nhiều hơn chính quê nhà của mình. Khu vực ấy có những dãy núi xanh cùng một bãi tắm tuyệt vời. Tôi muốn bảo tồn chúng hết sức có thể, bởi một khi phong cảnh thiên nhiên đã biến mất, nó sẽ biến mất mãi mãi. Một khi bạo lực do con người gây ra được giải phóng, sẽ không bao giờ có thể đảo ngược.

Qua bờ sông, khu vực xung quanh nơi từng là khu nghỉ mát ven biển Koroen đã bị san lấp để làm một cái vũng nhỏ ấm cúng, hoặc ao. Những người lướt ván buồm ở đó, cố hết sức đón gió. Về phía Tây, nơi từng là bãi biển Ashiya, là một dãy tòa nhà chung cư cao tầng, như rất nhiều trụ đá trống. Trên bờ, một số gia đình đến đây bằng những chiếc station wagon và minivan đang dùng những bình ga nhỏ để nướng BBQ. Cái gọi là những hoạt động ngoài trời. Họ nướng thịt, cá và rau quả, khói trắng lặng lẽ bay như một ngọn hải đăng lên bầu trời vào quang cảnh ngày Chủ nhật hạnh phúc. Gần như không một gợn mây trên bầu trời. Một hoạt cảnh tháng 5 gần như hoàn hảo. Nhưng, khi tôi ngồi đó trên bờ bê tông và ngắm nơi từng là biển thật, mọi thứ ở đây, như chiếc lốp rò hơi, từ từ, và lặng lẽ, mất đi ý nghĩa thực tại của mình.

Dưới khung cảnh êm đềm này thật khó mà phủ nhận những vết tích của bạo lực. Đó là cảm giác của tôi. Một phần những khuynh hướng bạo lực này nằm ẩn mình ngay dưới chân chúng ta, trong khi phần còn lại ẩn mình trong chúng ta. Phần này là ẩn dụ cho phần kia. Hoặc có thể chúng có thể hoán đổi cho nhau. Nằm ở đây, say ngủ, như một cặp sinh vật mơ cùng một giấc mơ.

***

Tôi qua một con sông nhỏ vào Ashiya. Tôi đi qua trường trung học cũ, qua ngôi nhà tôi từng sống, rồi đến ga Ashiya. Tờ áp phích ở nhà ga thông báo một trận đấu lúc 2 giờ chiều hôm ấy ở Sân vận động Koshien ở Osaka giữa hai đội bóng chày Hanshin Tigers và Yakult Swallows. Thấy nó, đột nhiên tôi háo hức muốn đi. Tôi nhanh chóng đổi kế hoạch và lên tàu. Trận đấu mới bắt đầu, nên nếu đi bây giờ, tôi nghĩ, mình có thể đến kịp hiệp ba. Mai tôi có thể tiếp tục chuyến cuốc bộ.

Sân vận động Koshien thay đổi rất ít so với khi tôi còn nhỏ. Giống như vấp phải lúc thời gian dừng lại, tôi có cảm giác hoài niệm sâu sắc về sự lạc lõng—một cách nói kỳ quặc, phải thừa nhận. Duy những điều thay đổi là không còn những người bán hàng rong mặc ba lỗ chấm bi của hãng Calpis, bán sữa lên men (có vẻ như không còn nhiều người trên thế giới này uống Calpis nữa), và bảng điểm trên sân, giờ là bảng điện tử (và khó đọc vào ban ngày). Nhưng màu đất trên sân vẫn giống như trước, màu cỏ cũng thế, và người hâm mộ đội Hanshin vẫn cuồng nhiệt khét tiếng như trước đây. Động đất, cách mạng, chiến tranh, và thế kỷ có thể đến rồi đi, nhưng những người hâm mộ đội Hanshin là vĩnh cửu.

Trận đấu thành ra là cuộc đấu tay đôi giữa hai cầu thủ ném bóng Kawajiri và Takatsu, đội Hanshin thắng 1–0. Có thể bạn nghĩ khác biệt một điểm đồng nghĩa với một trận đấu ly kỳ, nhưng không phải, không hề. Nói thẳng thừng hơn, một trận đấu không đáng xem. Nhất là với những người ngồi ghế ngoài trời chúng tôi. Mặt trời càng gắt chúng tôi càng khát khủng khiếp. Tôi có bia lạnh và, đúng như dự đoán, gà gật trên khán đài. Lúc tỉnh dậy tôi hoàn toàn mất cảm giác mình đang ở đâu. (Mình ở quái đâu thế này? tôi tự hỏi.) Bóng đèn pha đang dịch về phía tôi, gần đến chỗ tôi.

3

Tôi đặt một khách sạn nhỏ mới mở ở Kobe. Khách phần lớn là những nhóm phụ nữ trẻ. Tôi chắc bạn có thể hình dung ra kiểu khách sạn mà tôi đang kể. Sáng hôm sau tôi dậy lúc 6 giờ và bắt chuyến tàu trước giờ cao điểm đến ga Ashiyagawa, và bắt đầu lại chuyến bộ hành mini của mình. Không như hôm qua, trời hôm nay nhiều mây, không khí có chút lạnh. Dự báo thời tiết trên báo tự tin dự đoán chiều sẽ mưa (và dĩ nhiên họ chính xác. Đến tối tôi ướt sũng).

Trên tờ báo sáng mà tôi mua ở ga Sannomiya cũng có cập nhật về vụ tấn công hai bé gái ở Thành phố mới Suma (một nơi mới nữa được xây dựng bằng cách xẻ núi, tôi hình dung thế; chưa nghe về nó bao giờ). Một trong hai đã chết. Cảnh sát gọi đó là cuộc tấn công ngẫu nhiên, không có đầu mối, và những người có con nhỏ đều sợ hãi. Vụ này diễn ra trước vụ sát hại dã man Jun Hase, một cậu bé 11 tuổi, diễn ra ở Kobe. Thế nào đi nữa, đó cũng là một vụ tấn công khủng khiếp, ghê rợn, vô nghĩa nhằm vào trẻ tiểu học. Tôi ít khi đọc báo và thậm chí còn không biết đến vụ tấn công.

Tôi còn nhớ cảm nhận về giọng điệu thực tế, nhưng sâu sắc và kỳ quái ẩn chứa giữa những dòng chữ của bài báo. Khi gấp tờ báo lại, tôi chợt nảy ra một ý nghĩ. Một gã lang thang một mình giữa ngày làm việc trong tuần có thể có vẻ khá khả nghi. Cái bóng của bạo lực mới nhấn mạnh hơn nữa cảm giác là một yếu tố xa lạ ở nơi này của tôi. Giống như tôi là một vị khách không mời, mắc sai lầm ở một nơi mà tôi không thuộc về.

Tôi đi dọc theo một con đường ở chân núi cạnh đường ray, hơi lòng vòng về phía Tây, và sau khoảng 30 phút thì đến Ashiya. Đó là một thành phố dài, hẹp, chạy dọc Bắc Nam. Đi về phía Đông hoặc Tây thì bạn sẽ sớm ra khỏi vùng này. Hai bên đường cũng có nhiều ô đất trống, sản phẩm sau trận động đất, và vài ngôi nhà vắng vẻ nghiêng về một bên. Đất ở vùng Hanshin-kan khác đất ở Tokyo. Đó là vùng núi cát, nên đất mịn và trắng hơn, khiến nhiều ô đất trống nổi bật hơn cả. Nơi này mọc dày cỏ hè xanh, khiến sự tương phản nội bật hơn nữa. Tôi mường tượng một vết sẹo hậu phẫu lớn trên da của một ai đó thân thuộc, và hình ảnh ấy gây ra một cơn đau thấu xương thực sự xuyên qua tôi, một cơn đau không gắn liền với thời gian hay nơi chốn.

Dĩ nhiên không chỉ có những ô đất trống phủ đầy cỏ dại. Tôi có chạy qua một số khu công trình. Tôi tưởng tượng rằng chỉ trong chưa đến một năm sẽ có những dãy nhà mới được xây ở đây, rất nhiều đến mức có lẽ tôi sẽ không nhận ra nơi này nữa. Những mái ngói thương hiệu mới, lấp lánh rực rỡ dưới những tia nắng tươi mới. Đến lúc đó có thể giữa phong cảnh ở đây và tôi như một con người sẽ không còn gì chung. (Nhiều khả năng sẽ không còn.) Giữa chúng tôi (có lẽ) có một sự phân chia cưỡng buộc, phơi bày trước một phương tiện hủy diệt áp đảo, đó là động đất. Tôi ngước lên bầu trời, hít thở trong bầu không khí sáng mây nhè nhẹ, và nghĩ về mảnh đất đã tạo nên con người tôi như bây giờ, và về con người mà mảnh đất này đã tạo nên. Về những thứ mà chúng ta không thể kiểm soát.

***

Đến ga Okamoto, ga tiếp theo, tôi nghĩ mình sẽ dừng ở một quán cà phê—nơi nào cũng được—và gọi suất bữa sáng họ có. Tôi chưa ăn gì cả sáng nay. Nhưng chưa có quán cà phê nào mở. Tôi nhớ nó không phải kiểu thành phố ấy. Bất đắc dĩ, tôi mua một thanh lương khô CalorieMate ở một quán Lawson bên đường, ngồi trên ghế công viên và lặng lẽ ăn nó, cùng một lon cà phê cho xuôi. Tôi dùng khoảng thời gian ấy để ghi chú những gì mình đã thấy trên hành trình. Sau một lúc nghỉ ngơi ngắn tôi lấy cuốn The Sun Also Rises bìa mềm của Hemingway từ túi ra và bắt đầu từ đoạn đang đọc dở. Tôi đã đọc nó hồi trung học, và tình cờ bắt đầu lại trên giường khách sạn và hoàn toàn bị cuốn vào nó. Tôi tự hỏi tại sao mình chưa bao giờ nhận ra nó là cuốn tiểu thuyết vĩ đại như thế. Nhận thức này đem lại cho tôi một cảm giác kỳ lạ. Tôi đoán tâm trí mình hồi ấy chắc hẳn phải ở một nơi khác.

Cũng không có dịch vụ bữa sáng nào ở ga tiếp theo, Mikage, nên tôi lặng lẽ lê bước dọc theo đường ray, mơ về cốc cà phê mạnh, bốc khói, và những lát bánh mì dày, phết bơ. Cũng như trước, tôi đi qua rất nhiều ô đất trống và các khu công trình. Vài chiếc sedan Mercedes-Benz E-Class lướt qua, đưa trẻ đến trường hoặc nhà ga, tôi hình dung. Chúng không một vết bẩn hay trầy xước. Như những biểu tượng không có thực chất, và dòng thời gian không có đích đến. Tất cả đều không liên quan đến trận động đất, hay đến bạo lực. Rất có thể.

Trước nhà ga Rokkō tôi đưa ra một nhượng bộ nhỏ, vào một quán McDonald’s, gọi một suất Egg McMuffin (360 yên) và cuối cùng cũng xoa dịu được cơn đói gầm gừ trong tôi như tiếng gầm của biển. Tôi quyết định nghỉ 30 phút. Giờ là 9 giờ sáng. Bước vào quán McDonald’s lúc 9 giờ sáng, tôi cảm thấy như thể mình được đưa vào một thực tế ảo khổng lồ kiểu McDonald’s. Hoặc trở thành một phần của vô thức quần chúng. Nhưng thực sự, tất cả những gì bao quanh tôi chỉ là thực tại cá nhân của riêng tôi. Hiển nhiên. Dù thế nào đi nữa, cũng chỉ là chủ nghĩa cá nhân ấy tạm thời không có nơi nào để đi.

Đã đến được tận đây, tôi quyết định leo dốc lên trường trung học cũ. Một tia mồ hôi sáng bóng đổ ra trên trán. Thời trung học tôi luôn đi một chiếc buýt chật cứng đến trường, nhưng giờ tôi đang tự mình bước trên con đường ấy. Trên mảnh sân rộng san trên sườn núi, các nữ sinh đang chơi bóng ném trong lớp thể dục. Xung quanh yên tĩnh kỳ lạ, ngoại trừ những tiếng la hò bất chợt của học sinh. Hoàn toàn yên tĩnh đến mức có cảm giác như tôi vừa vấp vào một khoảng không gian mà tôi không nên vấp vào. Sao lại yên tĩnh tột cùng như thế?

Tôi nhìn ra cảng Kobe, sáng một cách nặng nề phía xa bên dưới, và cẩn thận lắng nghe, hy vọng đón được tiếng vọng nào đó từ quá khứ, nhưng không có gì đến với tôi. Chỉ những âm thanh của yên lặng. Đó là tất cả. Nhưng bạn sẽ làm gì? Chúng ta đang nói về những thứ xảy ra hơn 30 năm trước.

Hơn 30 năm trước. Có một điều tôi có thể nói chắc: càng lớn, người ta càng cô đơn. Điều đó đúng với tất cả mọi người. Nhưng có lẽ nó cũng không có gì sai. Cái mà tôi muốn nói là, nói một cách nào đó, cuộc đời chỉ là một chuỗi các giai đoạn nhằm giúp chúng ta làm quen với sự cô đơn. Nếu như thế thì không có lý do gì để phàn nàn cả. Bên cạnh đó, chúng ta sẽ phàn nàn với ai, và tại sao?

4

Tôi đứng dậy, rời khỏi trường, và bắt đầu khá hờ hững xuống sườn dốc dài (tôi đã hơi thấm mệt). Tôi đi tiếp không nghỉ đến ga Shin Kobe, nơi tàu cao tốc Shinkansen dừng. Từ đây tôi có thể đến đích, Sannomiya, chỉ trong một lượt đi.

Tôi có thêm thời gian, nên vì tò mò tôi nghé vào Kobe Oriental Hotel mới, một khách sạn khổng lồ, mới mở gần nhà ga. Tôi thả mình xuống sofa trong sảnh cà phê và cuối cùng cũng nhận được tách cà phê tươm tất đầu tiên trong ngày. Tôi bỏ ba lô xuống, bỏ kính râm ra, hít một hơi thật sâu và cho đôi chân nghỉ ngơi. Tôi nhận ra mình cần dùng nhà vệ sinh, nên tôi vào và giải quyết lần đầu tiên kể từ khi ra khỏi khách sạn ban sáng. Rồi tôi ngồi lại, gọi thêm cà phê, rồi nhìn xung quanh. Khách sạn rộng khiếp, khác xa Kobe Oriental Hotel cũ gần cảng (một khách sạn đẹp, cỡ ấm cúng, phải đóng cửa do trận động đất). Gọi khách sạn mới này là hoang vu thì có thể gần với thực tại hơn là rộng rãi. Gần giống một kim tự tháp không đủ xác ướp. Không có ý phân bua, nhưng nó không phải là nơi tôi muốn ở lại.

Vài tháng sau có một vụ nổ súng liên quan đến yakuza trong chính căn sảnh ấy, hai người chết. Dĩ nhiên không cách nào tôi biết được chuyện như thế sẽ diễn ra ở đó, nhưng một lần nữa tôi lại tình cờ đi qua, với một khoảng thời gian phân tách chúng tôi, cái bóng của bạo lực đang đến. Gọi là ngẫu nhiên, nhưng nó vẫn khiến tôi cảm thấy lạ lùng, như thể quá khứ, hiện tại và tương lai cùng chớp nhoáng qua lại trên một cây cầu phía trên tôi.

Tại sao chúng ta phải tiếp xúc với bạo lực sâu rộng và tiếp diễn như thế? Bốn tháng sau chuyến bộ hành nhỏ ấy, ngồi trên bàn và viết những lời này, tôi không thể ngừng tự hỏi. Ngay cả khi đặt vùng Kobe sang một bên, tôi vẫn cảm thấy như thể định mệnh (thực tế hay ẩn dụ) của hành vi bạo lực này là trực tiếp dẫn đến một hành vi bạo lực khác. Có sự tất yếu mang tính thế hệ nào đó đối với điều này? Hay chỉ là tình cờ và không gì khác?

Trận động đất Hanshin diễn ra trong khi tôi đang sống ở Mỹ, và hai tháng sau là cuộc tấn công bằng khí sarin trên tàu điện ngầm Tokyo. Tôi thấy đây là một chuỗi sự kiện rất gợi mở. Mùa hè năm ấy tôi trở về Nhật Bản, và ngay sau đó bắt đầu phỏng vấn những nạn nhân của cuộc tấn công sarin. Một năm sau tôi xuất bản cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Cái mà tôi tìm kiếm trong cuốn sách ấy, cái mà tôi muốn viết về—cái mà tôi, bản thân tôi, thực sự muốn biết nhiều hơn—là bạo lực trong xã hội chúng ta, nằm ẩn mình ngay dưới chúng ta. Bạo lực có khả năng tiềm ẩn, và khả năng thực sự bộc lộ bản thân dưới hình thức bạo lực, và chúng ta có xu hướng lãng quên tất cả những khả năng ấy. Đó là lý do tôi không chọn thủ phạm trong cuộc tấn công để phỏng vấn, mà chọn những nạn nhân.

Khi tôi bước lặng lẽ trong hai ngày từ Nishinomiya về Kobe, những ý tưởng ấy cứ vẩn vơ trong đầu. Khi thực hiện hành trình đi qua cái bóng của trận động đất, tôi tự hỏi mình: Bản chất của cuộc tấn công khí sarin trên tàu điện ngầm là gì? Đồng thời, khi kéo theo cái bóng của cuộc tấn công khí sarin, tôi băn khoăn: Động đất Hanshin là cái gì? Với tôi, hai sự kiện ấy không riêng biệt và rời rạc; làm sáng tỏ sự kiện này có thể giúp làm sáng tỏ sự kiện kia. Nó là một vấn đề đồng thời vừa vật lý vừa tâm lý. Nói cách khác, tâm lý bản thân nó là vật lý. Và tôi phải tạo ra cho mình một hành lang kết nối giữa hai bên.

Tôi có thể thêm một câu hỏi quan trọng hơn vào hỗn hợp ấy: Tôi có thể làm gì cho nó?

***

Rất tiếc phải nói, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời rõ ràng, logic cho những câu hỏi ấy. Tôi chưa đạt đến bất kỳ điểm đến rõ ràng nào. Tất cả những gì tôi có thể làm vào lúc này là, thông qua thứ văn xuôi bất định của mình, cung cấp trên một con tàu thất vọng con đường thực sự mà những suy nghĩ của tôi (cùng ánh mắt và đôi chân của tôi) đã dẫn tôi đến. Tôi hy vọng bạn sẽ hiểu điều này. Rốt cuộc tôi là loại người chỉ có thể đạt được tiến bộ thông qua cử động đôi chân, cử động cơ thể, thông qua một tiến trình vật lý, ngập ngừng, từng bước một. Nó cần thời gian. Một khoảng thời gian dài thảm hại. Tôi chỉ hy vọng nó sẽ không quá muộn.

Cuối cùng tôi cũng trở về Sannomiya. Đến lúc này tôi đã bắt đầu khá bốc mùi. Không phải một khoảng cách dài đến thế, dù xa hơn quãng đường đi dạo buổi sáng thông thường của bạn. Trong phòng khách sạn tôi đã tắm nước nóng, gội đầu và tu hết một chai nước khoáng để lạnh trong tủ. Tôi thay quần áo sạch mang trong ba lô. Thun polo xanh navy, áo khoác thể thao xanh dương bằng vải bông, và quần chinos màu be. Chân tôi hơi sưng, nhưng tôi cũng không thể làm gì với nó. Cũng như tôi không thể trích xuất những câu hỏi mơ hồ nằm nhàm chán và chưa được giải quyết trong đầu tôi.

Không có gì đặc biệt muốn làm, tôi đi xem một bộ phim đập vào mắt, có Tom Cruise. Không phải một bộ phim cảm động, nhưng cũng không quá tệ. Tôi chỉ nghỉ ngơi, chờ thời gian qua. Hai giờ trong cuộc đời của tôi trôi qua—không hẳn cảm động, nhưng cũng không quá tệ. Trời đang tối khi tôi ra khỏi rạp, và tôi tản bộ về phía những ngọn đồi đến một nhà hàng nhỏ. Tôi ngồi ở quầy, gọi pizza hải sản và bia tươi. Tôi là khách duy nhất đi một mình. Có thể chỉ là tôi tưởng tượng, nhưng những người khác ở đó đều trông thực sự hạnh phúc. Các cặp đôi nhìn mãn nguyện, và một nhóm nam nữ cười ầm ĩ. Có những ngày chỉ như thế.

Trên chiếc pizza hải sản họ mang cho tôi có một thẻ giấy nhỏ thông báo rằng Chiếc pizza mà bạn sắp thưởng thức là chiếc pizza thứ 958.816 của nhà hàng chúng tôi. Tôi không hiểu nổi. 958.816? Tôi cần hiểu thông điệp gì từ thứ này? Ngày còn trẻ, tôi thường đến đây cùng bạn gái, uống vài cốc bia lạnh, và ăn một chiếc pizza mới nướng với cùng loại thẻ đánh số ấy. Chúng tôi thường nói về tương lai. Và trong số tất cả những dự đoán của chúng tôi ngày ấy chưa dự đoán nào trở thành sự thật. Nhưng là cách đây lâu, rất lâu rồi. Ngày ấy vẫn còn biển ở đây, ngày ấy vẫn còn những ngọn núi.

Không phải là không còn biển và núi ở đây. Dĩ nhiên vẫn còn. Cái mà tôi đang nói là một biển khác, những ngọn núi khác. Khác với biển và những ngọn núi ở đây bây giờ. Nhấm cốc bia thứ hai, tôi mở cuốn The Sun Also Rises bìa mềm của mình ra và đọc tiếp. Câu chuyện đã mất của một thế hệ đã mất. Tôi nhanh chóng bị hút trở lại vào thế giới của họ.

Khi cuối cùng tôi rời khỏi nhà hàng, trời đang mưa, như dự đoán, và tôi bị ướt. Ướt thảm hại, ngấm đến tận xương. Nhưng đến lúc này thì đã quá phiền hà để mua một chiếc ô.

Copyright © Haruki Murakami | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 30, 2016 by in Hồi ký and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,611 other followers

%d bloggers like this: