Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

“Văn chương và lưu vong” – Mario Vargas Llosa


Vargas Llosa.JPG

Mario Vargas Llosa (1936–) là nhà văn người Peru. Ông được trao giải de Cervantes năm 1994 và giải Nobel văn học năm 2010. Tiểu luận “Literature and Exile” được in trong Vargas Llosa, Making Waves, ed. and trans. John King (New York: Farrar, Straus, and Giroux, 1996). Bản gốc tiếng Tây Ban Nha, “Literatura y exilio,” được in trong Vargas Llosa, Contra viento y marea, I (1962–1972) (Barcelona: Seix Barral, 1983).

Văn chương và lưu vong

Lần nào một nhà văn Mỹ Latin sống ở Paris được phỏng vấn cũng luôn nổi lên một câu hỏi bất biến: “Sao anh không sống ở đất nước mình?” Đây không phải sự tò mò đơn thuần; trong đa số trường hợp, câu hỏi che giấu hoặc lo ngại hoặc trách móc. Đối với một số người, việc nhà văn lưu vong là nguy hiểm theo nghĩa đen, bởi thiếu tiếp xúc trực tiếp với cách sống hoặc cách nói (vốn gần như là cùng một điều) của người dân nước mình có thể làm nghèo ngôn ngữ và làm suy yếu hoặc sai lệch tầm nhìn về thực tế. Đối với những người khác, vấn đề này mang ý nghĩa đạo đức: chọn lưu vong là vô đạo đức, là sự phản bội tổ quốc. Ở những nước nơi đời sống văn hóa bị hạn chế hoặc không tồn tại, nhà văn—họ nghĩ—nên ở lại và đấu tranh cho sự phát triển của các hoạt động trí thức và nghệ thuật nhằm nâng cao mức độ tinh thần của môi trường. Nếu thay vì làm như vậy, nhà văn chọn ra nước ngoài, thì anh ta sẽ được dán nhãn là một kẻ vị kỷ, một kẻ vô trách nhiệm, hoặc một kẻ hèn nhát (hoặc cả ba cùng lúc).

Câu trả lời của các nhà văn cho câu hỏi không thể tránh khỏi này thường rất đa dạng:

Tôi sống xa đất nước mình vì tôi thấy môi trường văn hóa ở Paris, London, hay Rome kích thích hơn; hoặc vì khoảng cách cho tôi một quan điểm thống nhất và trung thành hơn về thực tại hơn khi tôi đắm chìm trong đó; hoặc đơn giản vì tôi muốn thế (ở đây tôi đang nói về lưu vong văn chương, không phải lưu vong chính trị). Trên thực tế, tất cả các câu hỏi này đều có thể tóm gọn thành một: vì tôi viết tốt hơn khi lưu vong. Tốt hơn trong trường hợp này nên được hiểu theo nghĩa tâm lý, không phải theo nghĩa thẩm mỹ: nó đồng nghĩa với “yên bình hơn” hoặc “xác tín hơn”; sẽ không ai biết những gì được viết trong lưu vong có chất lượng tốt hơn những gì được viết trong nước hay không. Để trả lời cho lo ngại rằng sự cô lập với thực tại có thể ảnh hưởng đến tác phẩm của một người trong dài hạn, nhà văn giả tưởng có thể lập luận rằng cái thực tại mà các tác phẩm hư cấu của anh ta mô tả cũng đi du lịch thế giới cùng anh ta vì những anh hùng hai đầu, những bông hoa hồng ăn thịt người, và những thành phố kính của anh ta đến từ những tưởng tượng và giấc mơ của anh ta, chứ không đến từ việc quan sát thế giới bên ngoài. Và anh ta có thể nói thêm rằng việc thiếu tiếp xúc thường nhật với ngôn ngữ của đồng bào mình không hề khiến anh ta lo ngại; anh ta muốn thể hiện mình trong một ngôn ngữ không mang màu sắc địa phương, một ngôn ngữ trừu tượng, thậm chí kỳ lạ, mang tính cá nhân không thể nhầm lẫn, vốn có thể phát triển thông qua việc đọc.

Nhà văn hiện thực chủ nghĩa phải dùng ví dụ. Nếu xem xét văn học Peru, chúng ta có thể đưa ra một danh sách những cuốn sách quan trọng, mô tả một cách trung thực và đẹp đẽ bộ mặt và linh hồn của Peru, được viết bởi những người đã có nhiều năm sống lưu vong, 30 năm trong trường hợp cuốn Comentarios reales của El Inca Garcilaso và ít nhất 12 năm trong trường hợp cuốn Poemas humanos của Vallejo. Trong cả hai ví dụ này—có lẽ đáng ngưỡng mộ nhất trong toàn bộ nền văn học Peru—khoảng cách trong thời gian và không gian đều không làm suy giảm hay rối nhiễu tầm nhìn về một thực tại cụ thể được hoán chuyển về căn bản vào cuốn biên niên và những bài thơ ấy. Trong nền văn học Mỹ Latin thậm chí còn nhiều ví dụ hơn. Dù có thể giá trị văn học của những bài ode của Bello còn gây tranh cãi, sự nghiêm ngặt về thực vật và động vật học của ông thì không phải bàn cãi và những loài động thực vật mà ông đưa vào thơ từ ký ức ở London cũng giống như ở châu Mỹ. Sarmiento viết những tiểu luận xuất sắc nhất về đất nước mình, Facundo and Memorias de provincia, trong lúc ở cách xa Argentina. Không ai nghi ngờ việc tác phẩm của Marti mang tính dân tộc sâu sắc, dù bốn phần năm của nó được viết trong lưu vong. Và chủ nghĩa hiện thực địa phương trong những tiểu thuyết cuối cùng của Blest Gana, được viết nhiều thập niên sau khi ông đến Paris, cũng đâu ít trung thực với thực tế Chile hơn những cuốn sách được viết ở Santiago?

Đây đơn giản chỉ là một danh sách các ví dụ và những số liệu thống kê trong trường hợp này là để cung cấp một dấu hiệu hơn là để cung cấp một lập luận tròn trịa. Có phải đó là dấu hiệu cho thấy việc lưu vong không làm giảm sức sáng tạo của một nhà văn và việc vắng mặt ở quê hương không bao hàm một sự mất mát, hay một sự xuống cấp trong quan điểm về thực tại mà những cuốn sách của anh ta tìm cách truyền tải? Bất cứ sự khái quát hóa nào về chủ đề này cũng có nguy cơ chết chìm trong sự vô lý. Bởi chắc chắn không khó để đưa ra nhiều ví dụ đối lập nhằm chứng tỏ trong rất nhiều trường hợp, khi rời khỏi đất nước mình, nhà văn đánh mất sức sáng tạo hoặc viết những cuốn sách làm biến dạng thế giới mà họ đang cố gắng mô tả như thế nào. Với những phản thống kê này—chúng ta đang ở sẵn trong địa hạt của sự vô lý—ta phải trả lời với một kiểu ví dụ cho thấy vô số nhà văn dù chưa bao giờ đặt chân ra nước ngoài cũng viết những cuốn tầm thường hoặc không chính xác về đất nước họ. Còn những nhà văn tài năng đã được chứng minh, dù không lưu vong cũng viết những tác phẩm không phản ánh thực tế của đất nước mình thì sao? Jose Maria Eguren không cần rời Peru để mô tả một thế giới của những nàng tiên và bí ẩn Bắc Âu (như Bolivia Jaime Freyres và Julian del Casal, trong khi sống ở Cuba, lại viết chủ yếu về Pháp và Nhật Bản.) Họ không sống lưu vong trên thực tế, nhưng có thể gọi văn chương của họ là văn chương “lưu vong” với chính lý do của việc có thể gọi Garcilaso hay Vallejo lưu vong là văn chương “bắt nguồn từ bối cảnh.”

Điều duy nhất mà chúng ta đã chứng minh là không có gì có thể được chứng minh trong lĩnh vực này và, do đó, trong văn học, bản thân lưu vong không phải là vấn đề. Nó là một vấn đề cá nhân với những đặc điểm khác nhau với mỗi nhà văn và có kết quả khác nhau. Việc tiếp xúc thực tế với thực tại duy lý của một người không có nghĩa lý gì từ quan điểm của tác phẩm; nó không quyết định chủ đề của nhà văn, cũng không quyết định trí tưởng tượng hay sức sống của ngôn ngữ của anh ta. Điều này cũng đúng với lưu vong. Việc vắng mặt khỏi một đất nước có lúc trở thành những tác phẩm phản ánh thực tế một cách chính xác và có lúc trở thành những tác phẩm bóp méo thực tế. Việc một tác phẩm là sự trốn tránh hay là sự phản ánh thực tế, cũng như việc nó có tốt hay không, không liên quan gì đến vị trí địa lý của tác giả.

Điều đó tuy thế vẫn để lại lời chỉ trích đạo đức ở một mức độ nào đó lên nhà văn lưu vong. Có thật nhà văn rời bỏ đất nước mình cho thấy một sự thờ ơ với đồng bào, thiếu đoàn kết với những sự kiện và người dân của đất nước ấy? Câu hỏi này hàm chứa một quan niệm lộn xộn và khinh miệt về văn học. Nhà văn không cách nào phụng sự đất nước tốt hơn việc viết với nhiều kỷ luật và trung thực nhất có thể. Nhà văn chứng tỏ sự kỷ luật và trung thực của mình bằng cách đặt thiên chức của mình lên trên hết và bằng cách tổ chức cuộc sống cho phù hợp với công việc sáng tạo của mình. Văn học là sự trung thành đầu tiên, trách nhiệm đầu tiên, là nghĩa vụ nguyên thủy của nhà văn. Nếu viết tốt hơn ở đất nước mình, nhà văn phải ở lại đó; nếu viết tốt hơn trong lưu vong, anh ta phải đi. Có thể sự vắng mặt của nhà văn sẽ tước đi một nhà báo, một giáo viên, hoặc một người thúc đẩy văn hóa hiệu quả khỏi xã hội của anh ta, nhưng cũng có thể nhà báo, giáo viên, hay người thúc đẩy văn hóa ấy lại đang tước đi một nhà văn khỏi xã hội. Vấn đề không phải là biết ai quan trọng hơn, ai hữu dụng hơn; thiên chức (đặc biệt là thiên chức của nhà văn) không thể được quyết định một cách đích xác dựa trên các tiêu chí thương mại, lịch sử, xã hội, hay đạo đức. Có thể một chàng trai trẻ từ bỏ văn học để hiến mình cho việc giảng dạy hoặc đấu tranh cách mạng thì xứng đáng được công nhận về mặt đạo đức và xã hội hơn người kia, kẻ vị kỷ, chỉ nghĩ đến việc viết. Nhưng từ quan điểm của văn học, người rộng lượng không hề là người mẫu mực, hay trong bất cứ hoàn cảnh nào, anh ta là gương xấu cũng vì sự cao quý và chủ nghĩa anh hùng của anh ta là sự phản bội. Những người đòi hỏi nhà văn hành xử theo một cách nhất định (một điều mà họ không đòi hỏi ở bác sĩ hay kiến trúc sư chẳng hạn) về cơ bản đang thể hiện một sự nghi ngờ cốt yếu về sự hữu dụng của thiên chức của anh ta. Họ đánh giá nhà văn qua cung cách, ý kiến, hay nơi sống của anh ta mà không chỉ qua thứ duy nhất có thể dùng để đánh giá nhà văn: những cuốn sách của anh ta. Họ có xu hướng đánh giá những cuốn sách ấy dựa trên cuộc đời của tác giả mà đáng ra nên là ngược lại. Trong thâm tâm, họ không tin văn học có thể hữu dụng và họ che giấu sự hoài nghi của mình bằng cách giữ một cái nhìn (thẩm mỹ, đạo đức, hoặc chính trị) ngờ vực đối với cuộc đời của nhà văn. Cách duy nhất để làm sáng tỏ những nghi ngờ này là chứng minh văn học có giá trị gì đó. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết, bởi sự hữu dụng của văn học, dù hiển nhiên, cũng không thể nào kiểm chứng được trong thực tế. ♦

© 1968 by Mario Vargas Llosa | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

One comment on ““Văn chương và lưu vong” – Mario Vargas Llosa

  1. Matt
    July 25, 2016

    Bạn dịch từ Tiếng TBN luôn hả?
    mình rất thích cuốn “Thành phố và lũ chó” của nhà văn này.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on July 25, 2016 by in Tiểu luận, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: