Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Giải Nobel cho văn chương chính trị


nobel-medal

Nguồn: Joseph Epstein, “The Nobel Prize for Political Literature,” WSJ, Oct. 14, 2012.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

Có thể bạn chưa biết, bạn và tôi cùng là thành viên của một câu lạc bộ mà các thành viên khác gồm Leo Tolstoy, Henry James, Anton Chekhov, Mark Twain, Henrik Ibsen, Marcel Proust, Joseph Conrad, James Joyce, Thomas Hardy, Jorge Luis Borges, và Vladimir Nabokov. Câu lạc bộ của những người không đoạt giải Nobel Văn chương. Họ đều là những nhà văn vĩ đại thực sự, còn sống khi giải—khởi xướng từ năm 1901—được trao, nhưng không giành được nó.

Câu lạc bộ nhỏ của chúng ta khá hơn câu lạc bộ những người đã đoạt giải Nobel Văn chương. Trong số các thành viên của nó có Sully Prudhomme, Bjornstjerne Bjornson, Frédéric Mistral, Giosuè Carducci, Paul Heyse, Carl Spitteler, Grazia Deledda, Herta Müller, Tomas Tranströmer. Không phải, chúng ta hãy đồng ý, quan niệm của mọi người về một đại hội văn chương toàn ngôi sao.

Một số nhà văn tuyệt vời đã đoạt giải—W. B. Yeats, T. S. Eliot, Thomas Mann, William Faulkner, Boris Pasternak, S. Y. Agnon—nhưng nhiều người đoạt giải giờ đã bị quên lãng. Nhiều người khác chưa bao giờ được xem là hàng đầu trong nền văn chương của đất nước họ—chỉ xét riêng Hoa Kỳ: Pearl Buck, John Steinbeck, Sinclair Lewis—chưa nói đến những nhân vật thuộc hàng vĩ đại hơn của nền văn chương thế giới, mà việc đoạt giải Nobel được cho là xác nhận điều đó.

Giải Nobel Văn chương, giống như giải Nobel Hòa bình, rất thường xuyên được trao vì những động cơ chính trị. Trong một thời gian nó được trao cho các nhà bất đồng chính kiến Xô viết: Pasternak, Alexander Solzhenitzyn, và Joseph Brodsky. Trong những năm gần đây, giải được trao cho các nhà văn Marxisant (có cảm tình với chủ nghĩa Marx), nhất là những người có thù oán với Hoa Kỳ, trong đó có Günter Grass, Dario Fo, José Saramago.

Bất cứ khi nào chính trị chen vào, uy tín lại tuột khỏi giải Nobel. Hãy nghĩ về năm 1994, khi giải Nobel Hòa bình được trao cho Yasser Arafat, Shimon Peres, và Yitzhak Rabin cho việc thúc đẩy hòa bình ở Trung Đông; hoặc năm 2009, khi giải được trao cho Barack Obama cho việc ông không phải George W. Bush.

Nhiều nhà văn ít tiếng được trao giải Nobel Văn chương chủ yếu là do những gì mà ta có thể cho là những động lực địa chính trị của Ủy ban Nobel. Chắc hẳn, các thành viên của Ủy ban phải cảm thấy đã đến lúc trao giải cho một người Đông Ấn, một người Mỹ Latin, một người Iceland. Tuần trước chúng ta có người đoạt giải năm 2012, nhà văn Trung Quốc Mạc Ngôn. Ủy ban Nobel có thể dễ dàng trao giải năm sau cho nghệ sĩ trình diễn và nhà thơ người Uganda Kwame Tsooris-Tsimes, và có thể phải mất vài tuần người ta mới biết ông ấy thật ra không tồn tại.

Khía cạnh tiền bạc của giải Nobel giúp nó thêm nhiều phần lấp lánh. Năm nay nó trị giá 1,2 triệu USD. Sáng hôm Saul Bellow biết mình được trao giải Nobel năm 1976, ông gọi cho tôi. Sau khi bày tỏ ngờ vực về bản thân giải thưởng, ông nói ít nhất nó sẽ khiến những bà vợ cũ cần tiền cấp dưỡng và trợ cấp con cái của ông vui vẻ.

Phần lớn uy tín của giải Nobel xuất phát từ các giải trong khoa học và y học. Ngoại trừ kinh tế—vị thế của nó như một ngành khoa học còn rất mơ hồ—bản thân khoa học thì sờ thấy được và thành tựu của nó là thật, và các nhà khoa học, ít nhất là trong đời sống chuyên môn của họ, ít có khả năng bị chính trị làm suy đồi. Một thứ gì đó giống như một cộng đồng thật sự có tồn tại giữa các nhà khoa học, nhưng không tồn tại giữa các nhà văn, những người bị xé nát không chỉ bởi thẩm mỹ mà còn bởi chính trị. Giải Nobel Văn chương khi ấy sẽ không bao giờ có thể có sự vĩ đại như những giải Nobel trong khoa học, mặc dù nó chia sẻ một phần ánh hào quang.

Mặc dù giải Nobel chỉ được trao cho những người còn sống, việc đoạt giải Nobel Văn chương có xu hướng khiến người nhận phần nào như đã chết. Chưa có nghiên cứu nào về hiện tượng này, nhưng tôi có cảm giác giải Nobel đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp văn chương. Đã có danh tiếng và tài vận mà giải thưởng có vẻ quan trọng nhất trong tất cả những giải văn chương này đem lại, có lẽ chẳng còn gì nhiều để phấn đấu.

Thế giới văn chương có tốt hơn nếu không có giải Nobel? Chắc chắn nó sẽ không tệ hơn, vì giải được trao gần đây chẳng thiết lập một tiêu chuẩn đích thực cho tác phẩm văn chương cũng không nâng cao uy tín của bản thân văn chương. Tôi ngờ rằng không cách nào loại bỏ được nó, trừ việc khiến nó rốt cuộc trở nên nực cười bằng cách trao giải cho những người thậm chí còn không xứng đáng bằng những người đã giành được nó trong quá khứ.

Lập ra một danh sách những ứng cử viên như vậy không phải là quá khó. Đứng đầu danh sách của tôi sẽ là Bob Dylan, Joyce Carol Oates, và Salman Rushdie. Tôi ngờ rằng các bạn cũng sẽ không gặp vấn đề gì khi sắp xếp một danh sách cho riêng mình.

Joseph Epstein (1937–), nhà văn viết truyện ngắn và người viết tiểu luận người Mỹ, là tổng biên tập tạp chí The American Scholar từ năm 1974 đến năm 1998. Cuốn sách mới nhất của ông có nhan đề Wind Sprints: Shorter Essays (Axios Press, 2016).

Advertisements

One comment on “Giải Nobel cho văn chương chính trị

  1. Lytra Do
    October 20, 2016

    Chà, nghe có vẻ cay! Tuy nhiên, theo thiển kiến của tôi, giải Nobel không ảnh hưởng đến sự vĩ đại của bất kỳ nhà văn nào, dù đoạt giải hay không đoạt giải. và chúng ta nên mừng vì số nhà văn nhà thơ vĩ đại nhiều hơn số giải được trao tặng, vì lẽ đó mà chúng ta được hưởng rất nhiều. Với lại, như khi ta học trong trường phổ thông, việc chấm điểm môn văn bao giờ cũng cho cảm giác là cảm tính và bất công nhiều hơn bất kỳ môn nào khác. Tự nhủ rằng sân chơi của họ, luật của họ, nên chăng?

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on October 19, 2016 by in Thời sự, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: