Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Mario Vargas Llosa viết về Ông già và biển cả


The Old Man and the Sea.jpg

Mario Vargas Llosa (1936–) là nhà văn người Peru. Ông được trao giải de Cervantes năm 1994 và giải Nobel văn học năm 2010. Tiểu luận “El viejo y el mar” được bổ sung vào ấn bản năm 2002 của cuốn La verdad de las mentiras (Barcelona: Seix Barral, 1990). Bản dịch tiếng Anh được in trong Vargas Llosa, Touchstones: Essays on Literature, Art, and Politics, select., ed., and trans. John King (London: Faber and Faber, 2007).

Sự cứu chuộc nhờ lòng can đảm

Câu chuyện trong Ông già và biển cả có vẻ rất đơn giản: sau 84 ngày không đánh bắt được gì, ông già đánh cá bắt được một con cá khổng lồ sau một cuộc vật lộn dữ dội kéo dài hai ngày rưỡi. Ông buộc nó vào chiếc thuyền nhỏ của mình, rồi hôm sau thì đánh mất nó, trong một cuộc chiến anh dũng không kém, vào hàm răng của lũ cá mập phàm ăn ở Caribe. Đây là một mô típ cổ điển của văn chương Hemingway: một người đàn ông bị cuốn vào một cuộc chiến đến cùng với một kẻ thù không đội trời chung, sau đó, dù thắng dù thua, anh ta cũng ý thức hơn về lòng tự hào và phẩm giá, trở thành một con người tốt đẹp hơn. Nhưng không ở cuốn tiểu thuyết hay câu chuyện nào trước đó của ông mà chủ đề tái diễn này tìm được một cách diễn đạt hoàn hảo như ở câu chuyện này, được viết ở Cuba năm 1951, với một phong cách trong trẻo, một cấu trúc hoàn hảo, và vô số những ám chỉ và ý nghĩa giống như những cuốn tiểu thuyết tốt nhất của ông. Ông được trao giải Pulitzer năm 1953 cho câu chuyện này và giải Nobel văn chương năm 1954.

Vẻ đơn giản rõ ràng của Ông già và biển cả là lừa dối, giống như một số dụ ngôn Kinh Thánh và truyền thuyết về vua Arthur chứa đựng, dưới sự đơn giản của mình, những biểu tượng tôn giáo và đạo đức phức tạp, những dẫn chiếu lịch sử và những chi tiết tinh tế về tâm lý học. Không chỉ là một tiểu thuyết đẹp và cảm động, câu chuyện này cũng là một cách thể hiện thân phận con người, theo cách nhìn của Hemingway. Và ở một mức độ nào đó, nó cũng là sự hồi sinh của tác giả. Nó được viết sau một trong những thất bại lớn nhất trong sự nghiệp văn chương của ông, Qua con sông vào trong cánh rừng, cuốn tiểu thuyết đầy định kiến và khoa trương dường như được viết bởi một kẻ bắt chước tầm thường cuốn Mặt trời vẫn mọc, và bị các nhà phê bình, nhất là ở Mỹ, đánh giá thẳng thừng, một số, đáng kính như Edmund Wilson, thấy trong tiểu thuyết này những dấu hiệu của sự đi xuống không thể nào khắc phục được của tác giả. Linh cảm tàn nhẫn này gần chính xác, bởi thực tế là Hemingway đã bước vào một giai đoạn sáng tạo và công việc suy tàn, tê liệt hơn bao giờ hết vì bệnh tật và rượu, và có rất ít năng lượng sống. Ông già và biển cả là bài ca thiên nga của một nhà văn lớn đang đi xuống và, nhờ câu chuyện đáng tự hào này, ông đã trở lại làm nhà văn lớn bằng cách tạo ra cuốn sách mà sau này—như Faulkner đã thấy—có sức sống lâu bền nhất trong tất cả các cuốn sách của ông, bất chấp sự ngắn gọn của nó. Nhiều tác phẩm mà ông viết, trong thời đại của mình có vẻ sẽ có tác động lâu dài, như Chuông nguyện hồn ai và ngay cả tác phẩm xuất sắc Mặt trời vẫn mọc, đã mất đi sự tươi mới và sức sống và đến giờ có vẻ đã lỗi thời, không tiếp cận được những nhạy cảm đương thời, vốn chối bỏ triết lý nam tính cơ bản và bản chất mỹ lệ thường hời hợt của chúng. Nhưng như nhiều câu chuyện của ông, Ông già và biển cả đã sống sót không một nếp nhăn sau sự tàn phá của thời gian, và bảo tồn nguyên vẹn sức hút nghệ thuật và tính biểu tượng mạnh mẽ như một huyền thoại hiện đại của mình.

Chúng ta không thể nào không đọc cuộc phiêu lưu của lão Santiago đơn độc, chiến đấu với con cá khổng lồ và lũ cá mập hung bạo dọc theo hải lưu dòng Vịnh ngoài khơi Cuba, như một phép chiếu cuộc chiến mà chính Hemingway đã bắt đầu tiến hành với những kẻ thù đã bắt đầu cư ngụ trong ông. Chúng tấn công tâm trí ông trước và sau này đến thân thể, và khiến ông, vào năm 1961, bất lực và mất trí nhớ lẫn tinh thần, tự bắn vào đầu mình bằng một trong những khẩu súng mà ông rất yêu quý, khẩu súng đã lấy mạng rất nhiều con thú trước đó.

Nhưng điều khiến cuộc phiêu lưu của lão chài Cuba trong những vùng nước nhiệt đới rộng phi thường là, bằng cách thẩm thấu, độc giả nhận ra trong cuộc vật lộn của lão Santiago với những kẻ thù câm lặng cuối cùng sẽ đánh bại lão một lời mô tả về điều gì đó liên tục và phổ quát hơn: cuộc sống là một thách thức lâu dài, và bằng cách đối mặt thách thức này với lòng dũng cảm và phẩm giá như của ông già trong câu chuyện, con người có thể chạm đến sự cao cả về đạo đức, một lời biện hộ cho sự tồn tại của họ, cho dù họ có thể bị đánh bại. Đây là lý do khi Santiago, kiệt sức với đôi bàn tay tứa máu, trở về ngôi làng đánh cá nhỏ mà lão sống (Cojímar, dù cái tên này không được nhắc đến trong văn bản) mang theo bộ xương vô dụng của con cá khổng lồ mà lũ cá mập đã làm thịt, với chúng ta lão giống như một người, nhờ trải nghiệm mới đây của mình, chạm đến được một tầm vóc đạo đức vô cùng lớn, vượt qua chính mình và vượt lên trên những giới hạn thể chất và tinh thần của con người bình thường. Câu chuyện của lão buồn nhưng không bi quan. Trái lại, lão cho chúng ta thấy lúc nào cũng có hy vọng, thấy ngay cả với những gian truân khổ nạn và thất bại tồi tệ nhất, hành vi của một con người cũng có thể biến thất bại thành chiến thắng và đem lại ý nghĩa cho cuộc sống. Ngày lão trở về, Santiago đáng kính hơn trước khi dong buồm, và đó là cái làm cậu bé Manolín khóc: lòng ngưỡng mộ của cậu đối với ông già kiên quyết, hơn cả tình cảm và sự tận tâm của cậu đối với người dạy cậu đánh cá. Đây là ý nghĩa của câu nói nổi tiếng mà Santiago thốt lên với chính mình giữa đại dương và đã trở thành khẩu hiệu của cách nhìn đời của Hemingway: “Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại.” Không phải mọi con người, dĩ nhiên: chỉ những người—nhân vật chính trong văn của ông: người đấu bò, thợ săn, người buôn lậu, nhà thám hiểm đủ mọi loại—giống như ông lão đánh cá, được ban cho đức tính biểu tượng của nhân vật chính của Hemingway: lòng can đảm.

Giờ đây can đảm không phải lúc nào cũng là một phẩm tính đáng ngưỡng mộ, vì nó có thể bị sử dụng một cách vô trách nhiệm hoặc ngớ ngẩn, như những kẻ điên rồ mà với họ sử dụng bạo lực hoặc phơi bày bản thân với bạo lực là một cách cảm thấy nam tính, tức là đứng trên những nạn nhân của họ, những người mà họ có thể san phẳng bằng nắm đấm hoặc quét sạch bằng một viên đạn. Phiên bản đáng khinh của lòng can đảm này, sản phẩm của truyền thống nam tính suy đồi nhất, không hoàn toàn xa lạ với Hemingway, và thỉnh thoảng nó xuất hiện trong những câu chuyện của ông, nhất là trong những lời kể về chuyện đi săn ở châu Phi và quan niệm cá biệt của ông về nghệ thuật đấu bò. Nhưng ở khía cạnh khác, lòng can đảm không hiện diện trong sự phô trương và thể hiện thể chất, nó là một cách thức kiên cường, kín đáo để đối đầu với nghịch cảnh, mà không đầu hàng hoặc rơi vào cảnh tự thương hại, như Jake Barnes trong Mặt trời vẫn mọc, người chịu đựng một cách thanh lịch và lặng lẽ cái thảm kịch thể chất đã tước đi tình yêu và tình dục khỏi anh, hoặc như Robert Jordan trong Chuông nguyện hồn ai khi phải đối mặt với cái chết sắp đến. Santiago trong Ông già và biển cả thuộc về dòng dõi cao quý những con người dũng cảm. Lão rất khiêm tốn, rất nghèo—sống trong một căn lều rách nát và lấy báo trải giường—và là trò cười của làng. Ông lão cũng cô độc: lão đã mất vợ nhiều năm trước, và bạn đồng hành duy nhất của lão kể từ đó là ký ức về những con sư tử đi dọc các bãi biển châu Phi mà lão thấy vào ban đêm từ trên boong của con tàu hơi nước nơi lão làm việc, vài cầu thủ bóng chày người Mỹ như Joe DiMaggio, và Manolín cậu bé thường đi câu với lão và nay, do áp lực gia đình, đi phụ một ngư dân khác. Đối với ông lão, đánh cá không phải như với Hemingway và nhiều nhân vật của ông, một môn thể thao, một trò tiêu khiển, một cách giành giải thưởng hoặc chứng tỏ bản thân bằng cách đối mặt với những thách thức của vùng nước sâu, mà là một điều bức thiết, một công việc—thông qua những gian lao và nỗ lực lớn—giúp lão không chết đói. Bối cảnh này khiến cuộc vật lộn của Santiago với con cá khổng lồ đặc biệt con người, cũng như sự khiêm tốn và tự nhiên của ông lão đánh cá với việc làm anh hùng của mình: không huênh hoang, không có cảm giác như một anh hùng, mà chỉ như một con người đơn giản là làm công việc của mình.

Có nhiều phiên bản về nguồn gốc của câu chuyện này. Theo Norberto Fuentes, người thực hiện một nghiên cứu chi tiết về tất cả những năm Hemingway ở Cuba, Gregorio Fuentes, trong nhiều năm là thuyền trưởng của con thuyền của Hemingway, El Pilar, tuyên bố đã cho ông chất liệu viết nên câu chuyện. Có thể cả hai cùng chứng kiến một cuộc vật lột tương tự diễn ra cuối những năm 40, ngoài cảng Cabañas, giữa một con cá lớn và một ông lão đánh cá từ Majorca. Tuy nhiên, Fuentes cũng nhận xét rằng, theo một số ngư dân, Carlos Gutiérrez, thuyền trưởng đầu tiên của Hemingway, là hình mẫu của câu chuyện, trong khi những người khác cho đó là một ngư dân địa phương, Anselmo Hernández. Nhưng trong cuốn tiểu sử của mình về Hemingway, Charles Baker chỉ ra rằng phần trọng tâm của câu chuyện—cuộc chiến giữa ông lão đánh cá và con cá lớn—đã được phác thảo từ tháng 4 năm 1936, trong một bài viết Hemingway đăng trên tạp chí Esquire. Dù nguồn gốc thực sự của câu chuyện là gì, dù nó được sáng tác hoàn toàn hay được tái tạo từ một nhân chứng sống nào đó, thì rõ ràng chủ đề trọng tâm của câu chuyện đã được tác giả tìm kiếm từ khi ông bắt đầu viết những câu chuyện đầu tiên, bởi vì nó chưng cất, như một thứ tinh dầu lọc khỏi toàn bộ ô nhiễm bên ngoài, ra tầm nhìn về thế giới mà ông vẽ nên qua các tác phẩm của mình. Và chắc chắn vì lý do đó mà ông đã viết nó với sự kiểm soát phong cách rất đáng kể và sự thành thạo kỹ thuật của mình. Về bối cảnh của câu chuyện, Hemingway sử dụng trải nghiệm của mình: niềm đam mê câu cá và sự quen biết lâu dài với ngôi làng và ngư dân ở Cojímar: nhà máy, quán Perico, La Terraza, nơi láng giềng uống rượu và trò chuyện. Cuốn tiểu thuyết thấm nhuần tình cảm và sự gắn bó chặt chẽ của Hemingway với cảnh biển và những con người của biển trên hòn đảo của Cuba. Ông già và biển cả thể hiện lòng tôn kính lớn lao với họ.

Có một bước ngoặt trong cuốn tiểu thuyết, một bước nhảy vọt về chất lượng thực sự, biến cuộc phiêu lưu của Santiago, đầu tiên với con cá và sau đó với lũ cá mập, thành một biểu tượng của cuộc đấu tranh sống còn kiểu Darwin, của thân phận con người, buộc phải giết để tồn tại, và lòng dũng cảm và sức chống chịu tiềm ẩn bất ngờ mà con người có, có thể gợi lên khi danh dự của họ bị đe dọa. Khái niệm hào hiệp về danh dự này—tôn trọng bản thân, tuân thủ mù quáng một bộ nguyên tắc đạo đức tự áp đặt—là cái cuối cùng khiến ông lão đánh cá Santiago đưa mình, như trong cuộc chiến với con cá, vào một cuộc đấu tranh, ở một thời điểm không thể xác định, không còn chỉ là một giai đoạn nữa trong cuộc vật lộn kiếm sống thường ngày, mà thay vào đó trở thành một thử thách, một bài kiểm tra đo đếm phẩm giá và lòng tự hào của ông lão. Và lão rất ý thức được khía cạnh đạo đức và siêu hình này của cuộc đấu tranh—trong bài độc thoại dài lão nói, “Nhưng ta sẽ cho nó thấy những gì con người có thể làm và những gì anh ta chịu đựng.” Ở thời điểm này câu chuyện không còn đơn giản kể lại cuộc phiêu lưu của một ngư dân mang tên thánh, mà kể lại toàn bộ cuộc hành trình của nhân loại, tóm gọn trong cuộc phiêu lưu không có nhân chứng cũng không có giải thưởng, nơi tàn nhẫn và dũng cảm, nhu cầu và bất công, và vũ lực và sáng tạo đan xen, cùng với thiết kế bí ẩn bày ra số phận của mỗi cá nhân.

Để bước chuyển đáng chú ý trong câu chuyện này xảy ra—bước chuyển từ khuôn mẫu cá biệt sang một khuôn mẫu phổ quát—có một sự tích tụ dần dần của cảm xúc và cảm giác, của gợi ý và ám chỉ dần mở rộng chân trời của câu chuyện đến điểm phổ quát hoàn toàn. Nó quản lý bước chuyển này thông qua kỹ năng mà câu chuyện được viết và xây dựng. Người dẫn chuyện biết tất cả kể chuyện từ rất gần nhân vật chính nhưng thường cho phép ông lão tiếp quản câu chuyện, biến mất đằng sau những suy nghĩ, cảm thán và độc thoại mà qua đó Santiago đánh lạc hướng mình khỏi sự đơn điệu hoặc khổ sở trong lúc chờ con cá vô hình đang kéo thuyền của ông đi mệt mỏi và bơi lên mặt biển để lão có thể giết nó. Người dẫn chuyện luôn hoàn toàn thuyết phục, cả khi mô tả khách quan những gì đang diễn ra từ một điểm nhìn được loại bỏ, hay khi cho phép Santiago giải thoát anh ta khỏi nhiệm vụ này. Anh ta có được sức mạnh thuyết phục này nhờ sự gắn kết và đơn giản của ngôn ngữ của mình, thứ ngôn ngữ có vẻ—chỉ là có vẻ, dĩ nhiên—là của một người đơn giản và hạn chế về mặt học vấn như ông lão đánh cá, và nhờ thể hiện một kiến thức phi thường về tất cả những bí mật của việc đi biển và đánh cá trong những vùng nước Vịnh, một thứ gì đó phù hợp với cá tính của Santiago như một chiếc găng tay. Kiến thức này lý giải kỹ năng phi thường mà Santiago thể hiện trong cuộc vật lộn với con cá vốn thể hiện, trong câu chuyện này, sức mạnh bạo lực bị đánh bại bởi sự khéo léo và nghệ thuật đi biển của ông lão.

Những chi tiết kỹ thuật này giúp củng cố tác động hiện thực của một câu chuyện trên thực tế mang tính biểu tượng hoặc thần thoại nhiều hơn tính hiện thực, cũng như những hình ảnh tuy ít nhưng hiệu quả được dùng để vẽ chính xác cuộc đời và tính cách của Santiago: những con sư tử trên các bãi biển châu Phi, những trận bóng chày làm tươi sáng cuộc đời lão và huyền thoại phi thường DiMaggio (người, giống như lão, cũng là con trai của một ngư dân). Ngoài việc rất đáng tin cậy, tất cả những điều này còn cho thấy sự bó hẹp và nguyên thủy của đời sống ngư dân, khiến thành quả của ông lão càng đáng chú ý và đáng ngợi ca hơn nữa. Bởi lẽ con người trong Ông già và biển cả đại diện cho con người tốt đẹp nhất, trong một trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhờ ý chí và lương tâm đạo đức, vượt lên tình cảnh và sánh vai với các anh hùng và các vị thần trong thần thoại, là một ông già khốn khổ, hầu như không biết chữ, bị dân làng xem là trò đùa vì tuổi tác và nghèo túng. Trong một bài điểm sách rất ưu ái ít lâu sau khi cuốn sách được xuất bản, Faulkner nói trong cuốn tiểu thuyết này, Hemingway đã “tìm được Chúa.” Điều đó là có thể, nhưng dĩ nhiên không thể kiểm chứng. Nhưng ông cũng nói chủ đề chính của câu chuyện là “lòng trắc ẩn,” và ở đây ông đã đúng. Trong câu chuyện cảm động này, tình cảm dễ thấy ở chỗ nó vắng bóng; mọi thứ diễn ra với sự tỉnh táo của người Sparta trên con thuyền nhỏ của Santiago và trong lòng đại dương. Tuy nhiên, từ dòng đầu tiên đến dòng cuối cùng của câu chuyện, một sự ấm áp và tinh tế tràn ngập lên mọi thứ xảy ra, lên đến đỉnh điểm trong những giây phút cuối cùng khi, vào lúc suy sụp vì đau đớn và kiệt sức, lão Santiago, vấp rồi ngã, kéo cột buồm của con thuyền về phía căn lều qua ngôi làng đang ngủ. Điều mà độc giả cảm thấy lúc này rất khó mô tả, giống như lúc nào cũng thế với những thông điệp bí ẩn mà các tác phẩm vĩ đại truyền tải. Có lẽ, “lòng thương,” “trắc ẩn,” “lòng nhân,” là những từ đến gần nhất cảm giác này.

Paris, tháng 2 năm 2000

Copyright © 2000 by Mario Vargas Llosa | Bản dịch © 2017 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

One comment on “Mario Vargas Llosa viết về Ông già và biển cả

  1. Lytra Do
    January 15, 2017

    Bài viết này rất hay với những phân tích sâu sắc, tuy nhiên cá nhân mình lại thấy Ông già và biển cả giống như một truyện ngụ ngôn về sự tranh đấu và số phận.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 15, 2017 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,646 other followers

%d bloggers like this: