Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Isaiah Berlin: Một thông điệp gửi thế kỷ 21


Isaiah Berlin.jpg

Photograph © Sophie Bassouls/Sygma/Corbis

Isaiah Berlin sinh ra ở Riga, nay là thủ đô của Latvia, năm 1909. Khi ông lên sáu, gia đình ông chuyển tới Nga; ở đó, năm 1917, tại Petrograd, ông đã chứng kiến ​​cả hai cuộc cách mạng—Xã hội Dân chủ và Bolshevik. Năm 1921 ông cùng bố mẹ đến Anh, nơi ông theo học tại St. Paul’s School, London, và Corpus Christi College, Oxford. Tại Oxford, ông là nghiên cứu viên của trường All Souls và New College, giáo sư ngành lý thuyết xã hội và chính trị, và hiệu trưởng sáng lập trường Wolfson College. Ông cũng từng giữ chức chủ tịch Viện Hàn lâm Anh. Các tác phẩm chính của ông gồm có Karl Marx, Russian Thinkers, Concepts and Categories, Against the Current, Personal Impressions, The Crooked Timber of Humanity, The Sense of Reality, The Proper Study of Mankind, The Roots of Romanticism, The Power of Ideas, Three Critics of the Enlightenment, Freedom and Its Betrayal, Liberty, The Soviet Mind, Political Ideas in the Romantic Age, và bốn tập thư từ, trong đó tập cuối cùng, Affirming: Letters 1975–1997, vừa được xuất bản năm 2015. Là nhân vật tiêu biểu trong ngành lịch sử tư tưởng, ông đã được trao các giải Erasmus, Lippincott, và Agnelli; ông cũng được trao giải Jerusalem cho công cuộc suốt đời bảo vệ các quyền tự do dân sự. Ông mất năm 1997.

Ngày 25 tháng 11 năm 1994, Isaiah Berlin nhận bằng Tiến sĩ Luật danh dự tại Đại học Toronto, Canada. Ông đã chuẩn bị bài “credo ngắn” này (cách ông gọi nó trong một lá thư gửi một người bạn) cho buổi lễ, tại đó nó được đọc thay mặt ông. Hai mươi năm sau, trong số 23 tháng 10 năm 2014, tờ The New York Review of Books lần đầu cho đăng bài phát biểu này. Phần giới thiệu trên đây được dịch theo thông tin trong cuốn The Best American Essays 2015 (Mariner Books, 2015).

Một thông điệp gửi thế kỷ 21

“Đó là thời tươi đẹp nhất, đó là thời u ám nhất.” Dickens mở đầu cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Chuyện hai thành phố bằng những lời này. Nhưng than ôi, không thể nói như vậy về thế kỷ khủng khiếp của chúng ta. Con người đã tàn sát lẫn nhau trong hàng thiên niên kỷ, nhưng việc làm của Attila rợ Hung, Thành Cát Tư Hãn, Napoleon (những kẻ bắt đầu các cuộc giết người hàng loạt trong chiến tranh), thậm chí cả các vụ thảm sát người Armenia, cũng chẳng thấm vào đâu so với Cách mạng Nga và hệ quả của nó: sự đàn áp, tra tấn, giết người có thể quy cho Lenin, Stalin, Hitler, Mao, Pol Pot, và sự giả mạo thông tin một cách có hệ thống nhằm ngăn chặn người ta biết đến những nỗi kinh hoàng này trong nhiều năm—không gì có thể sánh được. Đó không phải thiên tai, mà là những tội ác có thể ngăn ngừa được của con người, và bất kể những người tin vào tất định luận lịch sử nghĩ có gì đi chăng nữa thì chúng vẫn có thể ngăn ngừa.

Tôi nói điều này với một cảm giác đặc biệt, vì tôi đã rất già, và tôi đã sống qua gần như cả thế kỷ. Cuộc đời tôi đến nay vẫn bình an, và tôi thấy gần như xấu hổ vì điều đó khi nghĩ đến những chuyện xảy ra với rất nhiều người khác. Tôi không phải sử gia, bởi vậy không thể nói chắc chắn về những nguyên nhân gây ra những nỗi kinh hoàng này. Nhưng có lẽ tôi có thể thử.

Theo tôi, chúng xảy ra không phải là do những cảm xúc tiêu cực thông thường của con người, như cách gọi của Spinoza—sợ hãi, tham lam, mối thù bộ lạc, ghen tị, tình yêu quyền lực—dù dĩ nhiên nó cũng có vai trò nguy hại của nó. Chúng xảy ra, trong thời đại của chúng ta, là do các tư tưởng; hoặc đúng hơn là do một tư tưởng cụ thể. Thật nghịch lý khi Karl Marx, người hạ thấp vai trò của các tư tưởng so với các lực lượng xã hội và kinh tế phi nhân, bằng các tác phẩm của mình, lại gây ra sự chuyển biến của thế kỷ 20 theo cả hướng mà ông mong muốn và phản ứng phụ là đi ngược lại nó. Nhà thơ Heine người Đức, trong một trong những tác phẩm nổi tiếng của mình, đã bảo chúng ta đừng đánh giá thấp nhà triết học trầm lặng ngồi nghiên cứu; nếu Kant không lật đổ thần học, ông tuyên bố, thì có thể Robespierre đã không chặt đầu Vua Pháp.

Ông đã dự đoán rằng các môn đồ được vũ trang của các triết gia Đức—Fichte, Schelling, và các ông tổ khác của chủ nghĩa dân tộc Đức—rồi một ngày sẽ phá hủy các tượng đài vĩ đại của Tây Âu trong một làn sóng tàn phá cuồng tín mà so với nó Cách mạng Pháp chỉ là trò trẻ con. Điều này có thể bất công với các nhà siêu hình học Đức, nhưng ý tưởng trung tâm của Heine với tôi có vẻ có lý: dưới một hình thức thấp kém, ý thức hệ Đức Quốc xã đã bắt rễ trong tư tưởng phản Khai sáng của Đức. Có những người sẽ giết hại người khác với một lương tâm thanh thản dưới ảnh hưởng của lời nói và tác phẩm của một số người tin chắc họ biết sự hoàn hảo là có thể đạt được.

Để tôi giải thích. Nếu bạn thực sự tin rằng có một giải pháp nào đó cho mọi vấn đề của con người, rằng người ta có thể hình dung ra một xã hội lý tưởng mà con người chỉ có thể với tới được nếu họ làm những gì cần thiết để đạt được nó, thì bạn và những tín đồ của bạn chắc hẳn phải tin rằng không cái giá nào là quá cao để mở được cánh cổng của cái thiên đường đó. Chỉ những kẻ ngu dốt và ác tâm mới phản kháng một khi những chân lý đơn giản nhất định được bày ra cho họ. Những ai phản kháng phải bị thuyết phục; nếu không thể thuyết phục họ thì luật pháp phải được thông qua để kiềm chế họ; nếu điều đó không có tác dụng thì cưỡng buộc, có thể bạo lực nếu cần, tất yếu sẽ được dùng đến—cả khủng bố và giết chóc nếu cần. Lenin đã tin như thế sau khi đọc Das Kapital, và luôn rao giảng rằng nếu có thể tạo ra một xã hội công chính, hòa bình, hạnh phúc, tự do, và có đạo đức bằng những phương tiện mà ông ủng hộ, thì mục đích có thể biện minh cho bất cứ phương pháp nào cần dùng đến, bất cứ theo đúng nghĩa.

***

Niềm tin gốc rễ làm nền tảng cho điều này là niềm tin rằng những câu hỏi trung tâm của đời sống con người, cá nhân hay xã hội, có một câu trả lời đúng đắn và có thể khám phá ra. Nó có thể và phải được thực hiện, và những ai đã tìm ra nó là các nhà lãnh đạo mà lời nói của họ là pháp luật. Ý tưởng rằng mọi câu hỏi đích thực chỉ có thể có một câu trả lời đúng đắn là một quan niệm triết học rất cũ. Các triết gia Athen vĩ đại, người Do Thái và Cơ Đốc, các nhà tư tưởng Phục Hưng và Paris của Vua Louis XIV, các nhà cải cách cấp tiến của Pháp thế kỷ 18, các nhà cách mạng thế kỷ 19—bất kể họ có khác biệt đến thế nào trong việc câu trả lời là gì và làm thế nào để khám phá ra nó (và những cuộc chiến đẫm máu đã nổ ra vì chuyện này)—tất cả đều tin rằng họ biết câu trả lời, và chỉ có sự độc ác và ngu ngốc của con người mới có thể cản trở việc hiện thực hóa nó.

Đây là tư tưởng mà tôi nói đến, và tôi muốn nói với các bạn rằng nó là sai lầm. Không chỉ vì những giải pháp mà các trường phái tư tưởng xã hội đưa ra là khác nhau, và không giải pháp nào có thể chứng minh được bằng các phương pháp duy lý—mà còn vì một lý do sâu xa hơn. Các giá trị trung tâm mà hầu hết con người sống dựa vào đó, trên rất nhiều vùng đất trong rất nhiều thời đại—các giá trị ấy, gần như nếu không nói là hoàn toàn phổ quát, không phải lúc nào cũng hòa hợp với nhau. Có giá trị có, có giá trị không. Con người luôn luôn mong muốn tự do, an toàn, bình đẳng, hạnh phúc, công bằng, tri thức, vân vân. Nhưng tự do hoàn toàn không tương thích với bình đẳng hoàn toàn—nếu con người được hoàn toàn tự do thì sói sẽ được tự do ăn cừu. Bình đẳng hoàn toàn có nghĩa là các quyền tự do của con người phải bị giới hạn để những người có năng lực và có tài nhất cũng không được phép vượt lên trên những người sẽ tất yếu thất bại nếu phải cạnh tranh. Sự an toàn, và cả tự do, không thể nào duy trì nếu cho phép quyền tự do lật đổ điều đó. Quả thật, không phải ai cũng mưu cầu an ninh hay hòa bình, nếu không đã không có người tìm kiếm vinh quang trên chiến trường hay trong các môn thể thao nguy hiểm.

Công bằng luôn luôn là một lý tưởng của con người, nhưng nó cũng không tương thích hoàn toàn với lòng thương. Sự tưởng tượng sáng tạo và tính tự phát, dù bản thân chúng rất tốt đẹp, cũng không thể hòa hợp hoàn toàn với nhu cầu lập kế hoạch, tổ chức, tính toán cẩn thận và có trách nhiệm. Tri thức, sự truy cầu chân lý—những mục tiêu cao cả nhất—cũng không thể hòa hợp hoàn toàn với cái hạnh phúc hay tự do mà con người mong muốn, vì nếu tôi biết mình mắc bệnh nan y nào đó thì nó cũng sẽ không giúp tôi hạnh phúc hơn hay tự do hơn. Tôi luôn luôn phải lựa chọn: giữa bình an với phấn khích, hay giữa tri thức với vô tri hưởng thái bình. Vân vân.

Vậy thì phải làm gì để kiềm chế những người ủng hộ, đôi khi rất cuồng tín, cho giá trị này hay giá trị khác trong số đó, mà mỗi người bọn họ đều có xu hướng chà đạp lên những giá trị còn lại, như những tên bạo chúa của thế kỷ 20 đã chà đạp lên cuộc sống, tự do, và các quyền con người của hàng triệu người vì mắt họ dán chặt vào một tương lai vàng son tối hậu nào đó?

Tôi e rằng mình không có câu trả lời đáng kể nào để đưa ra: chỉ là nếu muốn theo đuổi những giá trị cốt lõi của con người mà chúng ta dựa vào để sống thì thỏa hiệp, thương lượng, sắp đặt phải được thực hiện nếu không muốn điều tồi tệ nhất xảy ra. Chừng này tự do đổi lấy chừng này bình đẳng, chừng này quyền biểu đạt cá nhân đổi lấy chừng này an toàn, chừng này công bằng đổi lấy chừng này lòng trắc ẩn. Ý tôi là có những giá trị đụng độ lẫn nhau: những mục tiêu mà con người theo đuổi đều được tạo ra bởi bản chất chung của chúng ta, nhưng cuộc truy cầu của họ phải bị kiểm soát ở một mức độ nào đó—tự do và mưu cầu hạnh phúc, tôi nhắc lại, có thể không hoàn toàn tương thích với nhau, và tự do, bình đẳng, và lòng bác ái cũng thế.

Bởi vậy chúng ta phải cân nhắc và đánh giá, mặc cả, thỏa hiệp, và ngăn chặn cuộc đụng độ giữa một hình thái đời sống với đối thủ của nó. Tôi chỉ biết đây không phải là lá cờ mà những thanh niên trẻ đầy lý tưởng và nhiệt huyết muốn giương lên diễu hành—nó có vẻ quá thuần phục, quá duy lý, quá tư sản, nó không thu hút những cảm xúc hào hiệp. Nhưng các bạn phải tin tôi, người ta không thể có mọi thứ họ muốn—không chỉ trên thực tế, mà ngay cả trong lý thuyết. Phủ nhận điều này, tìm kiếm một lý tưởng đơn nhất, bao trùm vì nó là lý tưởng đúng đắn duy nhất cho nhân loại, luôn luôn dẫn đến sự ép buộc. Rồi đến sự hủy diệt, đến máu—trứng đã vỡ nhưng ốp lết thì chưa thấy đâu, chỉ có vô số quả trứng, sinh mạng con người, đang chờ bị đập. Và cuối cùng các nhà lý tưởng đầy đam mê ấy quên mất món ốp lết mà chỉ chăm chăm đập trứng.

Tôi vui mừng lưu ý rằng đến cuối quãng đời dài của tôi việc phần nào nhận thức được điều này đã bắt đầu hé lộ. Sự duy lý, sự khoan dung, dù hiếm trong lịch sử nhân loại, vẫn không bị khinh thị. Nền dân chủ tự do, bất chấp mọi thứ, bất chấp tai ương lớn nhất của thời hiện đại là chủ nghĩa dân tộc cuồng tín, bảo căn chủ nghĩa, vẫn đang lan rộng. Các chế độ bạo quyền lớn đang suy tàn, hoặc sẽ—ngay cả ở Trung Quốc ngày đó cũng không còn xa. Tôi mừng rằng các bạn mà tôi đang nói chuyện đây sẽ được chứng kiến thế kỷ 21, thế kỷ mà tôi cảm thấy chắn chắn là chỉ có thể là một thời đại tốt đẹp hơn đối với nhân loại so với thế kỷ kinh hoàng của tôi. Tôi chúc mừng các bạn với vận may này; tôi rất tiếc mình sẽ không thấy được cái tương lai tươi sáng hơn mà tôi tin là đang đến. Với tất cả bầu không khí ảm đạm mà tôi đã truyền bá, tôi vui mừng được kết thúc bằng một lưu ý lạc quan. Có lý do chính đáng để cho rằng như vậy là chấp nhận được.

Copyright © 2014 by The Isaiah Berlin Literary Trust | Bản dịch © 2017 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 13, 2017 by in Chính trị, Tiểu luận and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,635 other followers

%d bloggers like this: