Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Viet Thanh Nguyen: Về người Việt và ngôn ngữ


viet nguyen.jpg

Photo by Anna Min/Author website

Câu hỏi viết bằng ngôn ngữ nào chưa bao giờ xuất hiện trong tâm trí tôi. Những từ đầu tiên mà tôi nói là tiếng Việt, nhưng việc đến Mỹ từ năm bốn tuổi đã gây ra vết thương chết người lên ngôn ngữ ấy trong tôi, tước đi cái nền văn hóa mà nó cần để phát triển. Ở tuổi ấy, ngôn ngữ giống như gia đình. Dù có vẻ quý giá và tự nhiên, nó có thể bị quên lãng và thay thế, một quá trình không quá đau đớn với người trẻ như với người lớn tuổi. Cha mẹ không muốn nghĩ có thể con cái mình sẽ lãng quên họ, và người bản xứ nói một ngôn ngữ nhất định cũng ghét phải nghĩ ngôn ngữ của mình có thể là vô nghĩa đối với con cháu họ. Bất cứ khi nào tôi nói với những Việt Kiều khác rằng trình độ tiếng Việt của tôi nghèo nàn, họ đều cười và phủ nhận làm sao mà dở được, cho đến khi họ nghe tôi nói. Khoảng những năm 1980, ý tưởng người Việt mà không nói tiếng Việt là không thể hiểu nổi, nhưng chứng mất trí nhớ này diễn ra như một loại cơ chế thích nghi cho phép một số người chúng ta sống sót được trong những môi trường hoàn toàn mới.

Nếu tôi nhận tiếng Anh, tiếng Anh cũng nhận tôi. Một số đứa trẻ được nhận nuôi lúc nào cũng lo lắng về mức độ thân thuộc của mình, trong khi có những đứa không hề lo lắng. Tôi là thành viên của nhóm thứ nhất, và tôi vẫn không biết điều đó là may hay không may. Tác phẩm của những người như tôi—sinh ra ở nơi khác nhưng lớn lên ở đây, hoặc sinh ra ở đây nhưng mang theo những gắn bó với nguồn gốc của cha mẹ ở nơi khác—đôi lúc phản bội nỗi lo về sự thân thuộc này trong chính ngôn ngữ mà họ viết. Được viết trong khắp các tác phẩm của Chang-Rae Lee là một ước muốn mãnh liệt, ước muốn được trữ tình, viết ra câu văn hoàn hảo, tạo nên hình ảnh đẹp nhất. Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của anh, Native Speaker, nhân vật chính người Mỹ gốc Hàn đấu tranh với bản sắc của mình và với bản sắc đa văn hóa của Mỹ. Trớ trêu là tiếng Anh của Henry Park quá hoàn hảo; một cách vô ý, tôi nghĩ, bản thân tiếng Anh của cuốn tiểu thuyết ấy đôi lúc cũng quá hoàn hảo. Cái bóng của người châu Á với tư cách người nước ngoài hay người ngoài đối với văn hóa châu Âu hay Mỹ là quá rõ. Cái tính ngoại quốc ấy có thể nghe ra qua thứ tiếng Anh bồi, không hoàn hảo, không chân thực, và phản ứng của một số tác giả người Mỹ gốc Á là viết một cách hoàn hảo và không thể chê trách—không từ lóng, không viết tắt, không từ nước ngoài chưa được dịch, không tiếng ngáp man rợ. Ngày nay, các tác giả người Mỹ gốc Á nổi tiếng nhất nằm trong số những sinh viên danh dự của nền văn chương Mỹ, nhiều người phấn đấu trở thành những thủ khoa như nhà văn đoạt giải Pulitzer Jhumpa Lahiri.

Nhưng tiếng Anh hoàn hảo không phải là thứ tiếng Anh duy nhất đối với người ngoài. Còn có thứ “tiếng Anh kỳ dị” của những sinh viên kém, thứ tiếng Anh mà nhà phê bình Evelyn Ch’ien nói về trong cuốn sách cùng tên của cô (Weird English). Một trong những nhà văn mà cô thảo luận là Junot Díaz, người truyền tiếng Tây Ban Nha chưa được dịch vào tiếng Anh. Tiếng Anh của anh cố tình không chuẩn, nhưng không ai nghi ngờ sự thông thạo của anh đối với ngôn ngữ này. Tác phẩm đầy thách thức của anh bảo chúng ta rằng khi viết bằng một thứ tiếng Anh lai, chúng ta không được dịch giữa một ngôn ngữ này với một ngôn ngữ khác. Chúng ta không được nhượng bộ. Trong không gian nơi mà hai ngôn ngữ gặp nhau, hãy buộc độc giả Anh ngữ học ngôn ngữ của bạn, cũng giống như bạn bị buộc phải học tiếng Anh.

Các tác phẩm của Lee và Díaz cho thấy người Việt ở Mỹ không phải là nhóm người đầu tiên đối mặt với lựa chọn viết bằng ngôn ngữ của quê hương hay ngôn ngữ của vùng đất nhận. Người di cư, lưu vong, và tị nạn từ châu Âu và châu Á trước người Việt cũng phải đối mặt với cùng một lựa chọn. Vladimir Nabokov và Isaac Bashevis Singer có lẽ là nổi tiếng nhất trong số những người viết bằng tiếng Anh, nhưng họ cũng viết bằng tiếng Nga và tiếng Yiddish. Bài học đầu tiên mà họ đem lại là những lựa chọn về ngôn ngữ không phải chỉ có một. Người ta có thể dùng song ngữ. Linh Dinh là bằng chứng sống của điều này, viết với sự linh hoạt tương đương trong cả tiếng Việt và tiếng Anh. Nếu lượng độc giả của anh không rộng thì đấy là do những quyết định hình thức của anh, chứ không phải do vị thế như một người đến sau với tiếng Anh. Trong thời đại của chúng ta, chúng ta tiếp tục chứng kiến những người đến Mỹ khi đã lớn, chỉ học viết bằng tiếng Anh sau khi đã đến đây, và vẫn có lượng độc giả rộng. Các nhà văn thành công hết sức khác nhau như Aleksander Hemon và Ha Jin viết về Bosnia và Trung Quốc bằng những thứ tiếng Anh riêng biệt nhất. Le Ly Hayslip là một người khác, ngay cả khi bà là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong cộng đồng người Việt. Như vậy, bài học thứ hai là học một ngôn ngữ mới không nhất thiết là một trở ngại đối với việc trở thành một nhà văn nổi tiếng.

Nhóm nhà văn tha hương mà tôi thuộc về có rất ít lựa chọn về ngôn ngữ. Chúng tôi được nuôi nấng trong tiếng Anh, hoặc từ lúc mới sinh hoặc từ tấm bé. Đối với chúng tôi, quê hương, nếu có quan trọng, là một trạng thái tưởng tượng mà chúng tôi trở về, theo nghĩa đen, bằng việc viết lách của mình. Đối với chúng tôi, tiếng Việt là một ngôn ngữ chết, một ngôn ngữ héo úa, một ngôn ngữ bị hư hại. Hiếm khi nào nó là một ngôn ngữ viết, ít nhất là một ngôn ngữ viết đủ tốt cho công chúng. Nếu có một cuộc khủng hoảng mà chúng tôi phải trải qua liên quan đến ngôn ngữ thì nó sẽ không phải là chuyện viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Đối với chúng tôi không có vấn đề đạo đức, chính trị, văn hóa nào trong việc viết bằng tiếng Anh, vì chúng tôi phải viết bằng tiếng Anh. Khẳng định nó thuộc về chúng tôi là dấu hiệu rõ ràng nhất của quyền được nói của chúng tôi ở Mỹ. Là một tác giả là là một nhân vật có thẩm quyền, và thẩm quyền là điều mà người Việt vô cùng thiếu trong trí tưởng tượng Mỹ. Nếu không có thế hệ những người sinh ra ở Mỹ hoặc lớn lên ở đây, trong đó có Monique Truong, le thi diem thuy, Aimee Phan, Kien Nguyen, cùng những người khác, thì tiếng nói của cộng đồng người Việt ở Mỹ sẽ rất hạn chế, không phải trong khả năng nói ra, mà là trong khả năng được lắng nghe. Trong thế khó xử này, người Việt một lần nữa không phải là độc nhất. Người Mỹ bản địa, người Trung Quốc, người Đông Âu, và nhiều nhóm người nữa cũng sản sinh ra những nền văn chương di dân trong tiếng mẹ đẻ của họ, một di sản giờ đây được khám phá chủ yếu bởi giới học giả.

Có người sẽ gọi đây là khu ghetto của di dân, nhưng tôi muốn nghĩ về nó như lòng đất ngầm của nền văn hóa Mỹ. Các nhà văn người Mỹ gốc Việt viết bằng tiếng Việt là một phần của lòng đất ấy. Họ không thể mong được công chúng lắng nghe chừng nào còn viết bằng tiếng Việt, nếu không có bản dịch. Nhưng chúng ta không thể quyết định trước là sẽ không có nhà văn “lớn” nào xuất hiện từ lòng đất này. Nếu tài năng đủ mạnh mẽ thì nhà văn ấy sẽ xuất hiện, không phải tự mình, mà với sự trợ giúp của các nhà phê bình, nhà xuất bản, và dịch giả. Dịch cả một văn bản từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác khác với loại hình dịch từng phần, hạ đẳng mà Junot Díaz thách thức. Loại hình dịch thuật cần ở đây là một mối quan hệ đồng đẳng.

Những điều kiện xuất hiện văn học từ lòng đất không thể bị cô lập khỏi nền văn hóa nói chung. Các nhà văn người Mỹ gốc Việt viết bằng tiếng Anh không chỉ đơn giản là bắt đầu xuất bản từ hư vô, thông qua tài năng và ý chí cá nhân thuần túy. Họ bắt đầu xuất hiện bởi vì họ lớn lên với tư cách là một phần của một nền văn hóa văn chương tiếng Anh, và được hưởng lợi từ một thị trường văn chương chịu ảnh hưởng của sự trỗi dậy của chủ nghĩa đa văn hóa và văn chương Mỹ Á. Các nhà văn thiểu số đi trước người Việt đã đấu tranh để được lắng nghe, và tiếng nói của họ đã hỗ trợ cho và được hỗ trợ bởi các phong trào chính trị và xã hội được tổ chức xung quanh các vấn đề chủng tộc, nữ quyền, chiến tranh, nghèo đói, và chủ nghĩa đế quốc. Văn chương tiếng Việt dưới lòng đất phải đi theo những cuộc đấu tranh đã chọc thủng những bức tường của nền văn hóa Mỹ mang tính vị chủng, dân tộc chủ nghĩa ấy. Một nhà văn làm việc trong cô lập không thể phá đổ những bức tường ấy, mà phải như một phần trong một nỗ lực văn chương có sự phối hợp giữa các nhà văn, biên tập viên, dịch giả, và nhà xuất bản, kết hợp với các phong trào xã hội. Mối quan hệ giữa văn chương và các phong trào xã hội này là một mối quan hệ lỏng lẻo và không ổn định, nhưng dù sao nó vẫn tồn tại. Các phong trào xã hội ấy và nền văn chương gắn với chúng đã tạo nên những thuật ngữ “người Mỹ gốc Á” và “người Mỹ gốc Việt,” và khiến tôi có thể nhận ra việc ngôn ngữ nào tôi nghe hay nói đầu tiên cũng không quan trọng. Tiếng Việt giờ là tiếng nước ngoài của tôi, tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ. Nếu đây là một vấn đề thì nó cũng là một vấn đề có những nguồn gốc mang tính lịch sử nhiều như mang tính cá nhân.

Viet Thanh Nguyen, giáo sư ngành nghiên cứu Anh Mỹ và dân tộc học tại Đại học Nam California, là tác giả của The Sympathizer, cuốn tiểu thuyết được trao giải Pulitzer cho tác phẩm hư cấu năm 2016, Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War, và tập truyện ngắn The Refugees.

Viet Thanh Nguyen, “Vietnamese People and Language,” Vietnguyen.info, September 5, 2007.

Copyright © 2007 by Viet Thanh Nguyen | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on August 9, 2017 by in Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,611 other followers

%d bloggers like this: