Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Thơ đang đi đâu?

Charles Simic (1938–) là nhà thơ người Mỹ gốc Serbia. Ông được trao giải Pulitzer cho thơ năm 1990, giải thơ Griffin quốc tế năm 2005, giải Wallace Stevens năm 2007, huân chương Robert Frost năm 2011, và giải văn chương quốc tế Zbigniew Herbert năm 2014, và được bổ nhiệm làm Poet Laureate của Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2007–2008. Ông biên tập thơ cho tờ Paris Review từ năm 2003 đến năm 2010 và là giáo sư hưu trí ngành văn học Anh tại Đại học New Hampshire.

Thơ đang đi đâu?

Đó là một câu hỏi mà các nhà thơ thường được hỏi. Câu trả lời chóng vánh là chẳng đâu cả. Bạn sẽ nghĩ, làm sao mà như thế được. Bạn đã đọc rất nhiều bài thơ về các nhà thơ đi dạo trong rừng, lăn lộn trong cỏ khô và thậm chí làm một chuyến tham quan địa ngục. Đúng vậy. Tuy nhiên, các nhà thơ, ngay cả khi đánh nhau trong một cuộc chiến, cũng hiếm khi nào cởi đôi dép đi trong nhà. Chẳng phải việc Homer bị mù đã chứng minh luận điểm của tôi đó sao? Tôi cá tất tật những câu chuyện tận-mắt-thấy kể người Hy Lạp và người Troy tàn sát nhau, những chuyến phiêu lưu kỳ thú của Odysseus trên Địa Trung Hải, đều là Homer mơ ra trong khi chờ vợ nấu bữa trưa.

Dĩ nhiên, nhiều nhà thơ sẽ phủ nhận điều này. Ở nước Mỹ đây chúng ta nói chuyện với sự tôn kính kinh nghiệm đích thực. Chúng ta làm những bài thơ kể chuyện bố chúng ta đưa chúng ta đi câu và làm trái tim chúng ta tan nát khi bắt ném trả những con cá nhỏ xuống sông. Chúng ta thậm chí còn cho người đọc biết loại xe chúng ta đang lái, đời xe và kiểu xe, để tạo ấn tượng tất cả đều là sự thật. Đó là vì chúng ta tự coi mình là một kiểu nhà báo. Giống như họ, chúng ta sẽ đi tới bất cứ đâu để kể một câu chuyện. Đừng tin một lời nào về nó. Như bất kỳ nhà thơ nào cũng có thể nói cho bạn biết, khi nhắm mắt người ta thường nhìn rõ hơn là khi mở to mắt.

Có lẽ bạn đang tự hỏi, tôi đang nói là hầu hết những điều xảy ra trong thơ đều không phải sự thật? Không phải thế. Tất nhiên chúng là sự thật. Chỉ là các nhà thơ phải giết rất nhiều thời gian để đi đến sự thật. Lấy ví dụ của tôi. Một ngày nọ, bất thình lình, ký ức về người ông đã khuất từ lâu lại hiện về trong tôi. Tôi ứa nước mắt khi thấy ông trong cái năm cuối đời đi tập tễnh quanh sân với chiếc chân gỗ, vãi ngô cho đàn gà ăn. Tôi nhớ lại con chó ông nuôi hồi ấy, và đưa nó vào một bài thơ. Thậm chí còn có một chiếc xe tải cũ gỉ trong sân. Mặt trời lặn trong khi bà tôi tất bật dưới bếp và ông tôi ngồi ở bàn bếp nghĩ về những trầm luân của cuộc đời mình, sự ngu ngốc của gã huấn luyện viên đội bóng đá địa phương và mùi canh đậu trên bếp. Tôi thích những gì tôi đã viết được xuống giấy và tối hôm ấy đi ngủ, tin mình có một bài thơ đang thành hình.

Hôm sau tôi không chắc nữa. Cảnh hoàng hôn quá thơ mộng, miêu tả ông bà tôi quá đa cảm, rất nhiều thứ phải cắt đi. Mấy tuần sau – vì không thể thôi mó máy với bài thơ – tôi kết luận con chó già nằm giữa đàn gà mỏ thóc và con gà trống trong sân là cái tôi thích nhất. Mặt trời ở trên cao, một cây anh đào đang ra hoa, và ông tôi biến mất khỏi bài thơ hoàn toàn. Thường thì tôi không biết liệu có ra được một bài thơ hay không. Có Chúa mới biết, và tôi cố không nhúng tay vào việc của ngài. Tôi căng tai và nhìn chằm chằm vào trang giấy trắng cho đến khi một từ hoặc một hình ảnh xuất hiện. Không thể bằng ý chí mà ra được cái gì chân thực trong một bài thơ, tôi đã trầy trật học được điều đó. Nó khiến cho việc làm thơ trở thành một công việc bất định và bức bối. Trong lúc đó, bạn chẳng có thể làm gì ngoài đợi. Emily Dickinson nhìn nhà thờ bên kia đường qua cửa sổ trong khi chờ đợi; tôi nhìn bóng tối sớm phủ lên những cánh đồng tuyết dày.

“Thơ ngụ trong một cõi utopia vĩnh hằng của riêng nó,” William Hazlitt viết. Người ta hy vọng rằng một bài thơ cuối cùng sẽ vươn ra từ tất cả những cái ngần ngừ ngần nghiếc kia, bước vào thế giới và thuyết phục một người hoàn toàn xa lạ rằng cái mà nó mô tả đã thực sự xảy ra. Nếu anh ta may mắn, bài thơ thậm chí có thể được lên giường với họ hoặc được đưa đi nghỉ ở một hòn đảo nhiệt đới. Bài thơ như một cô gái trong bữa tiệc được hôn tất cả mọi người. Không, mỗi bài thơ là một bí mật được chia sẻ bởi những người chưa bao giờ gặp nhau. So với các nghệ thuật khác, các nhà thơ dành phần lớn thời gian vò đầu trong bóng tối. Đó là lý do cái kiểu du lịch họ thích là vào bếp xem có chút giăm bông nướng và bia lạnh nào còn sót trong tủ lạnh không.

Charles Simic, “Where Is Poetry Going?,” The New York Review of Books, February 7, 2011.

Copyright © 2011 by Charles Simic | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on January 27, 2022 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: