Zbigniew Herbert (1924–1998) là nhà thơ người Ba Lan. Ông được trao giải nhà nước Áo cho văn chương châu Âu năm 1965, giải Herder năm 1973, và giải Jerusalem năm 1991.
Nàng chẳng phải mỹ nhân cái mũi hao hao giống mỏ vịt
giới mộ điệu đánh giá cao phần còn lại của cái vỏ thân nàng
chúng ta đành tin lời họ nhưng bây giờ chẳng còn ai
sẽ tái hiện điệu múa của nàng làm sống lại Isadora
nàng sẽ mãi là một bí ẩn sau lớp vải tuyn một bí ẩn
tựa chữ viết người Maya tựa nụ cười nàng Gioconda
Nàng sở hữu tiếng tăm lừng lẫy tận trời cao
có lẽ nhờ những thứ thẩm mỹ tồi những bài thơ của Nero
những rên rỉ sân khấu của Sarah thần thánh tiếng rống của Halliday
cái Zeitgeist đã nắm giữ quyền năng sinh sát
đó là con quỷ của trào lưu con quỷ của sự phù du
đồng hồ thời đại ngừng quay – các vị thần chìm xuống đáy
Nàng hiểu về người Hy Lạp chỉ ở mức độ
một cô gái bình thường quê Ohio có thể hiểu
bị ám bởi viễn ảnh một Hellas trong tưởng tượng
Bourdelle tạc nàng trong hình hài một tín đồ của Bacchus
Vô tư nàng phơi bày những bí mật của trái tim và khuê phòng
trong một cuốn sách đáng chỉ trích mang nhan đề My Life
Từ đó trở đi chúng ta biết chính xác cách diễn viên Beregy
đã mở ra cho nàng thế giới các giác quan rồi đã si mê làm sao
Gordon Craig Konstanty Stanisławski
những toán nhạc sĩ những kẻ quyền quý và các nhà văn
trong khi Paris Singer đã thảy xuống chân nàng
mọi thứ ông sở hữu một đế quốc
của những cái máy khâu chẳng bao giờ trục trặc vân vân
Chao ôi giá Euripides còn sống vào thời ấy
hẳn ông đã rất yêu hoặc căm hận nàng
và cho nàng vai trong một bi kịch lưu danh muôn thuở
Tài năng càng phai nhạt càng mãnh liệt nàng tin
rằng chỉ khiêu vũ mới cứu được thế giới
khỏi nỗi thống khổ và đọa đày đức tin huyền bí ấy
đã đẩy nàng bước lên các bục diễn thuyết nàng kích động
những chất lỏng tuôn ra như từ một lò lửa phun trào
trong khi thống khổ và đọa đày đứng trơ như một cột đá
rõ ràng nàng đã quên nghệ thuật hélas chẳng hề cứu rỗi
Apollo Musagetes xin hãy thứ lỗi cho lầm lạc này
Ngắn ngủi nhưng đầy say mê như mọi việc nàng từng làm
nàng phải lòng với miền đất trẻ của các Xô viết và Lenin
Ngôi sao treo quanh cổ của Kỹ sư Lịch sử
Tiếc thay chẳng có tia lửa nào tóe ra từ đấy
Isadora thấy chán cả Nông nghiệp Công nghiệp nặng
cách mạng trong các điệu múa thanh thoát chỉ là một giấc mộng
Người đàn bà tội nghiệp đã tưởng lầm utopia là sự thật
passons bởi sau này các đám đông vẫn theo sau nàng
các ngôi sao lớn của khoa học các mục sư và các Sartre
Tiếc thay nàng phải chia tay với Vùng đất Hy vọng
để an ủi nàng mang theo một thi sĩ đắt giá
Yesenin nửa tỉnh nửa mê đã chửi rủa đã yêu đã hú
Quả thật chương cuối của vở kịch đã xứng tầm bi kịch
sau một cuộc đời đầy thăng trầm chìm nổi
dụng cụ của cái chết là một chiếc khăn choàng cashmere
chắc hẳn vì quá dài tựa cái đuôi sao chổi
chiếc khăn cashmere đã mắc vào nan hoa cỗ xe hơi
siết cổ nàng như một Othello ghen quá hóa rồ
Song nàng vẫn khiêu vũ nàng đã hơn trăm tuổi
một cụ bà tóc bạc phơ nhợt nhạt gần như là vô hình
giữa sự lớn lao và sự nực cười nàng múa
không còn ngây ngất giống như những năm tháng trước kia
với sự điềm tĩnh của một mẹ bề trên với sự suy tư chín chắn
nàng đặt đôi chân trần của mình lên trên vực thẳm
Zbigniew Herbert, “Isadora Duncan,” Report from the Besieged City and Other Poems, trans. John and Bogdana Carpenter (Ecco Press, 1985).
Nguyễn Huy Hoàng dịch.