Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Bịt miệng dưới danh nghĩa tự do


paris-unity-march.jpg

Nguồn: Ian Buruma, “Muzzled in the Name of Freedom,” Project Syndicate, Feb. 11, 2015.
Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Các hành vi khủng bố có thể gây thiệt hại kinh hoàng. Nhưng chúng không thể tiêu diệt một xã hội mở. Chỉ có những người cai trị các nền dân chủ của chúng ta mới có thể làm được điều đó, bằng cách thu hẹp các quyền tự do của chúng ta dưới danh nghĩa của tự do.

Thủ tướng dân tộc chủ nghĩa cánh hữu của Nhật Bản Shinzo Abe không cần nhiều khích lệ để có thể thắt chặt các điều luật bí mật, trao thêm quyền hạn cho cảnh sát, hay khiến việc sử dụng lực lượng quân sự trở nên dễ dàng hơn. Hai vụ hành quyết ghê rợn con tin người Nhật Bản bị những kẻ khủng bố Nhà nước Hồi giáo IS bắt cóc tại Syria đã cung cấp chính xác sự khích lệ Abe cần để theo đuổi các biện pháp đó.

Nhưng Nhật Bản chưa bao giờ được xem là một pháo đài của tự do ngôn luận, nó cũng chưa bao giờ tuyên bố điều đó. Pháp thì có. Đó chính là ý nghĩa của tất cả những gì mà cuộc diễu hành trong tình đoàn kết để đối mặt với vụ tấn công khủng bố hồi tháng trước mang lại. Pháp, chứ không phải ai khác, sẽ tránh được cái bẫy đã làm sa chân các nước cộng hòa vĩ đại của phương Tây luôn tự coi mình là ngọn hải đăng của tự do trên thế giới.

Nỗi sợ bạo lực khủng bố sau ngày 11/9 ở Mỹ gây tổn hại cho tự do nhiều hơn chính vụ đánh bom liều chết khiến công dân nước này thiệt mạng. Bởi nỗi sợ đó, người Mỹ tự cho phép mình bị chính phủ theo dõi một cách vô tội vạ, và cho phép các nghi phạm khủng bố bị tra tấn và giam giữ vô thời hạn mà không được xét xử.

Như hầu hết các nước khác trong khối Liên minh châu Âu, Pháp vốn đã có luật cấm phát ngôn thù hận (hate speech). Anh không thể xúc phạm người khác dựa trên cơ sở chủng tộc, tín ngưỡng, hay khuynh hướng tình dục một cách hợp pháp. Và ở Pháp, cũng như ở một số nước khác, một người có thể bị truy tố nếu anh ta phủ nhận Holocaust và các cuộc diệt chủng khác trong lịch sử.

Tổng thống Pháp François Hollande, không phải người theo dân tộc chủ nghĩa cánh hữu như Abe, đang muốn tăng cường lệnh cấm này. Ông đã đề xuất những bộ luật mới mà theo đó, các thực thể trực tuyến như Google hay Facebook sẽ phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ “phát ngôn thù hận” nào mà người dùng của nó đăng lên. Vị cựu chủ tịch Hội đồng châu Âu này cũng ủng hộ cho một lời đề nghị của các nhà lãnh đạo Do Thái châu Âu nhằm hình sự hóa không chỉ hành vi chống Do Thái và phủ nhận diệt chủng, mà còn cả thái độ “bài ngoại” nói chung ở mọi quốc gia EU. Rất ít người muốn bảo vệ những hình thức thể hiện của thái độ bài ngoại hay chống Do Thái. Nhưng dùng luật pháp để ngăn cấm ý kiến như vậy có thực sự là khôn ngoan không?

Thứ nhất, những luật như vậy nếu được ban hành cũng ít có khả năng giảm thiểu nguy cơ khủng bố. Cấm biểu đạt ý kiến sẽ không khiến chúng biến mất. Chúng sẽ tiếp tục được thể hiện, có thể bí mật hơn, và kết quả là sẽ nguy hại hơn. Và các cơ sở xã hội và chính trị của khủng bố, ở Trung Đông hay ở bất cứ đâu, sẽ không biến mất chỉ vì một lệnh cấm phát biểu bài ngoại.

Nhưng việc sử dụng pháp luật để giám sát tư tưởng của người khác còn ẩn chứa một nguy cơ lớn hơn. Nó có thể hạn chế tranh luận công khai. Mối nguy đó nằm dưới quan điểm vẫn phổ biến ở Mỹ cho rằng mọi ý kiến dù khó chịu đều phải được tư do biểu đạt, như thế chúng có thể bị phản đối bằng tranh luận.

Tất nhiên, quả là ngây thơ nếu tin rằng các kẻ cực đoan chính trị hay tôn giáo thích thú với việc trao đổi quan điểm. Nhưng ở Mỹ, kích động bạo lực cũng bị cấm. Tu chính án thứ nhất Hiến pháp Hoa Kỳ không bảo vệ tự do ngôn luận khi có dấu hiệu cho thấy nó có thể tạo ra nguy cơ bạo lực trước mắt.

Quan điểm bài ngoại hay phủ nhận diệt chủng là đáng ghê tởm, nhưng chúng không nhất thiết kéo theo một nguy cơ như vậy. Trong hầu hết các xã hội, bao gồm cả Mỹ, việc biểu đạt công khai các ý kiến đó bị giới hạn bởi một sự đồng thuận chung về những gì được xã hội tôn trọng. Sự đồng thuận này theo đổi theo thời gian. Nó phụ thuộc vào các biên tập viên, nhà văn, chính trị gia, và những người khác phát biểu trước công chúng để định hình nó.

Họa sĩ, nghệ sĩ, blogger, diễn viên hài, và các nhà hoạt động đôi khi thích thách thức sự đồng thuận chung đó. Một số thách thức có thể gây phẫn nộ (xét cho cùng, đó thường là điểm mấu chốt). Nhưng miễn là chúng không khuyến khích hoặc thúc đẩy bạo lực, việc cấm đoán chúng bằng luật pháp sẽ hại nhiều hơn lợi. Việc cho phép chính phủ được quyết định những ý kiến nào là được phép là rất nguy hiểm, không chỉ vì điều đó làm hạn chế tự do ngôn luận, mà còn vì chính phủ có thể sẽ trở nên chuyên quyền và vị kỷ.

Trong bầu không khí sợ hãi hiện tại, nhắc lại một trường hợp phát ngôn thù hận nổi tiếng của Mỹ trong quá khứ có thể sẽ có ích. Năm 1977, Đảng Quốc xã Mỹ lên kế hoạch tổ chức một cuộc biểu tình ở Skokie, một vùng ngoại ô Chicago có đông dân Do Thái sinh sống. Một tòa án địa phương trước sự sợ hãi của công luận đã phán quyết rằng việc trưng bày hình ảnh chữ thập ngoặc, phân phát tờ rơi, và mặc đồng phục Quốc xã phải bị cấm. Nó lập luận hợp lý rằng cuộc biểu tình như vậy có thể là một sự xúc phạm tới cộng đồng dân cư, bao gồm những người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust.

Nhưng Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) đã phản đối lệnh cấm bởi cho rằng điều đó là vi phạm Tu chính án thứ nhất. Lập luận của các luật sư ACLU, đa số là người Do Thái tự do, không hề dựa trên sự thông cảm đối với các quan điểm hay biểu tượng của Quốc xã. Họ cho rằng việc cho phép chính phủ cấm đoán những ý kiến mà ta khinh ghét hoặc coi thường cũng chính là làm suy yếu quyền của chúng ta trong trường hợp một lệnh cấm tương tự được đưa ra đối với những gì chúng ta đồng ý.

Nói cách khác, tự do ngôn luận cũng đồng nghĩa với tự do phát ngôn thù hận, miễn là nó không đe dọa hoặc kích động bạo lực. Hầu hết các chính phủ châu Âu đã có một cái nhìn khắt khe đối với việc sỉ nhục công khai hơn Hiến pháp Mỹ. Càng cấm đoán sẽ càng sai lầm. Các vụ tấn công khủng bố đã gây đủ thiệt hại cho mạng sống và tài sản. Chẳng có lý do gì để các chính phủ có thể khiến mọi chuyện tệ hơn, bằng cách can thiệp vào quyền tự do của công dân của họ. ♦

Ian Buruma là Giáo sư về Dân chủ, Nhân quyền và Báo chí tại Bard College. Ông là tác giả nhiều cuốn sách, bao gồm Murder in Amsterdam: The Death of Theo Van Gogh and the Limits of Tolerance và mới đây là cuốn Year Zero: A History of 1945.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on February 12, 2015 by in Thời sự, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,649 other followers

%d bloggers like this: